Đặng Thị Minh Thu
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:
Bài thơ Những giọt lệ của Hàn Mặc Tử là tiếng kêu đau đớn từ 1 tâm hồn bị dày vò bởi bệnh tật và tuyệt vọng trong tình yêu. Ta có thể cảm nhận rõ mong muốn được giải thoát khỏi thế gian này qua những câu hỏi: "Bao giờ tôi chết đi?", "Bao giờ tôi hết được yêu vì...", có lẽ là bởi ông không muốn sống vô nghĩa nhưng lại đành sống khổ đau, đếm ngược từng ngày sống ngắn ngủi của mình. Hình ảnh "mặt nhựt Tân thành máu","bông phượng nở trong huyết" mang màu sắc ám ảnh đến cho người đọc cho thấy thế giới dưới lăng kính của nhà thơ là sự tuyệt vọng và đen tối không có lấy tia hy vọng nào. Với câu thơ "Nàng đi, một nửa hồn tôi mất" ta cảm nhận được sự tổn thương sâu sắc khi bị người thương ruồng bỏ, để lại nhà thơ với trái tim tan nát, cô đơn một hạnh phúc không trọn vẹn. Khi những giọt lệ rơi xuống cũng kéo theo bao đau khổ cứ thế thấm đẫm vào trong cõi lòng đã bất lực tuyệt vọng của nhà thơ. Qua bài thơ, ta cảm nhận rõ một Hàn Mặc Tử vừa khát khao yêu thương, vừa đau đớn trước thực tại nghiệt ngã. Tác phẩm vì thế không chỉ hiện rõ nỗi buồn cá nhân mà còn gợi lên niềm thương cảm sâu sắc về thân phận của con người trong bất hạnh
Câu 2:
Bài làm
Trong hành trình sống của mỗi con người, khó khăn và thử thách là điều không thể tránh khỏi và có thể khiến cho chúng ta thấy vô cùng mệt mỏi trong cuộc sống. Chính trong những hoàn cảnh ấy, ta mới thấy rằng ý chí và nghị lực chính là sức mạnh tinh thần để con người có thể vượt qua nghịch cảnh và vươn tới thành công.
Ý chí là sự cố gắng quyết tâm theo đuổi mục tiêu đã đặt ra và nghị lực là khả năng kiên trì, bền bỉ trước trở ngại, hai yếu tố này gắn bó chặt chẽ với nhau, chính bởi nhờ có ý chí con người mới dám ước mơ, nhờ có nghị lực con người sẽ biến ước mơ thành hiện thực. Người có ý chí và nghị lực sẽ không dễ dàng gục ngã trước những khó khăn hay thử thác, họ chấp nhận những trở ngại ấy như một điều cần phải có trong cuộc sống, để từ đó rút ra bài học hoàn thiện bản thân, khiến bản thân trở nên vững vàng và tốt đẹp hơn. Trong học tập khi gặp những bài toán khó hay kết quả không như mong muốn, nếu có nghị lực và quyết tâm ta sẽ không nản chí mà cố gắng tìm cách khắc phục và tiến bộ từng ngày. Trong cuộc sống đối mặt với mất mát hay biến cố, ý chí giúp con người không buông xuôi số phận mà tiếp tục đứng dậy tìm lại niềm tin vào tương lai phía trước. Trái lại nếu sống thiếu ý chí và nghị lực con người sẽ cảm thấy chán nản, sợ hãi trước những khó khăn, khi đó ta thường chọn cách trốn tránh thay vì đối diện và tìm ra cách giải khác để rồi nhận lại những điều tồi tệ và đã bị mất cơ hội để vượt qua nó. Một người luôn sợ khó, sợ khổ sẽ khó đạt được mục tiêu lớn và cũng khó tìm được ý nghĩa thật sự của cuộc sống. Ý chí và nghị lực không phải phẩm chất tự nhiên mà có mà cần được rèn luyện mỗi ngày. Ta có thể bắt đầu từ những việc nhỏ như tự giác học tập, không bỏ cuộc khi gặp khó khăn, hãy cứ kiên trì để theo đuổi ước mơ dù có nhiều trở ngại phía trước. Quan trọng hơn hết, mỗi người cần có niềm tin vào bản thân, bởi chỉ khi tin tưởng bản thân có thể vượt qua mọi thử thách, ta mới có đủ sức mạnh để thực hiện.
Như vậy, ý chí và nghị lực chính là chiếc chìa khóa mở ra cánh cửa của thành công và hạnh phúc. Người có ý chí, nghị lực không chỉ vượt qua được gian khổ, thách thức mà còn khẳng định được giá trị của bản thân trong cuộc sống. Vì thế, mỗi chúng ta hãy học cách rèn luyện bản lĩnh không ngại gian khó, để vững vàng bước đi trên con đường tương lai.
Câu 1: Những phương thức biểu đạt trong bài thơ là biểu cảm và miêu tả
Câu 2: Đề Tài trong bài thơ là nỗi đau khổ, buồn và sự cô đơn của con người
Câu 3: Hình ảnh “những giọt châu” tượng trưng cho những giọt lệ nhỏ xuống của con người, thể hiện sự đau khổ và nỗi buồn của Hàn Mặc Tử trong bài thơ. Ông cũng khay khao yêu và được yêu như bao người nhưng lại không thể, khiến những nỗi buồn cùng sự tuyet vọng và cô đơn kết tinh thành giọt lệ tuôn rơi.
Câu 4:
Biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ là Câu hỏi tu từ. “Tôi vẫn còn đây hay ở đâu? / Ai đem bỏ toi dưới trời sâu? / Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu? “
Tác dụng: Biện pháp tu từ đã khiến cho người đọc cảm nhận được sự hoang mang, lo sợ và lạc lõng khi mất phương hướng và bị ruồng bỏ của nhân vật trữ tình. Làm nổi bật lên tâm trạng tuyệt vọng, cô đơn cùng sự đau khổ của nhà thơ khi đối diện cuộc sống, tạo âm điệu day dứt và gây ám ánh sâu sắc với người đọc
Câu 5:
Cấu tứ của bài thơ là sự vận động từ nỗi buồn và sự phiền muộn khi không thể đáp lại sự yêu thương và trân quý của mọi người dành cho nhà thơ, rồi đến nỗi đau khổ và bất lực vì tình yêu không được trọn vẹn, sang sự tuyệt vọng, lạc lõng giữa thế gian này khi bị ruồng bỏ của nhà thơ