Hoàng Đức Trọng
Giới thiệu về bản thân
Trong dòng chảy của văn học hiện đại, nhiều tác phẩm viết về tình cảm gia đình đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng người đọc. Truyện ngắn “Bát phở” của Phong Điệp là một tác phẩm như vậy. Qua một tình huống rất đời thường nơi quán phở nhỏ ở Hà Nội, tác giả đã làm nổi bật tình yêu thương, sự hi sinh âm thầm của những người cha nghèo dành cho con, đồng thời thể hiện nhiều nét nghệ thuật đặc sắc, giản dị mà giàu sức lay động.
Truyện kể về hai người cha từ quê đưa con lên Hà Nội thi đại học. Trong quán phở, cả bốn người ngồi lặng lẽ giữa không gian đông đúc, ồn ào. Điều khiến nhân vật “tôi” chú ý là bốn người nhưng chỉ gọi hai bát phở cho hai cậu con trai ăn. Hai người cha chỉ ngồi nhìn con ăn, trò chuyện về mùa màng, giá vải, tiền phòng trọ và những khoản chi tiêu chắt bóp. Qua câu chuyện ấy, tác giả đã khắc họa hình ảnh những người cha nông dân nghèo nhưng giàu tình yêu thương và đức hi sinh.
Chủ đề nổi bật của truyện là tình phụ tử thiêng liêng và sự hi sinh thầm lặng của cha mẹ dành cho con cái. Hai người cha dù cuộc sống còn nhiều khó khăn vẫn cố gắng dành những điều tốt nhất cho con trước kì thi quan trọng của cuộc đời. Họ không dám ăn một bát phở vì muốn tiết kiệm tiền cho con. Những chi tiết như “đếm một lúc cho những tờ hai nghìn, năm nghìn, mười nghìn” hay dự định “mua mấy tấm bánh mì, lên xe ăn tạm” đã cho thấy cuộc sống thiếu thốn của họ. Thế nhưng, trong hoàn cảnh ấy, họ vẫn luôn nghĩ cho con trước tiên. Chính tình yêu thương giản dị mà sâu nặng ấy khiến người đọc xúc động.
Không chỉ làm nổi bật hình ảnh người cha, truyện còn cho thấy sự trưởng thành và lòng biết ơn của những người con. Hai cậu con trai “lặng lẽ” ngồi ăn phở, không dám khen ngon hay tỏ ra thích thú. Chúng hiểu được sự khó nhọc của cha mình nên trong lòng đầy âu lo, thương cảm. Câu văn cuối: “Cuộc đời này, chúng nợ những người cha hơn thế nhiều...” đã để lại dư âm sâu sắc, nhắc nhở mỗi người phải biết trân trọng công lao sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ.
Bên cạnh giá trị nội dung sâu sắc, truyện còn thành công bởi nhiều nét nghệ thuật đặc sắc. Trước hết là nghệ thuật xây dựng tình huống truyện giản dị nhưng giàu ý nghĩa. Chỉ với một bữa ăn nơi quán phở, tác giả đã làm hiện lên cả cuộc sống nhọc nhằn của người nông dân và tình cảm gia đình cảm động. Tình huống ấy gần gũi với đời thường nên dễ tạo sự đồng cảm cho người đọc.
Ngoài ra, nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật của tác giả cũng rất tinh tế. Tâm trạng của những người cha và hai cậu con trai không được nói trực tiếp mà chủ yếu thể hiện qua hành động, ánh mắt, cử chỉ. Sự “lặng lẽ”, “tần ngần”, hay cái cách người cha cẩn thận đếm từng tờ tiền nhỏ đã nói lên biết bao điều. Chính sự kiệm lời ấy lại khiến cảm xúc trở nên chân thật và ám ảnh hơn.
Ngôn ngữ truyện giản dị, mộc mạc, đậm chất đời sống cũng là một điểm nổi bật. Tác giả không sử dụng những câu văn cầu kì mà kể chuyện nhẹ nhàng như một người quan sát. Tuy nhiên, đằng sau vẻ bình thản ấy là tình cảm sâu lắng khiến người đọc nghẹn ngào. Đặc biệt, hình ảnh “bát phở” trong truyện không chỉ là món ăn bình thường mà còn trở thành biểu tượng của tình yêu thương và sự hi sinh của cha mẹ.
Có thể nói, “Bát phở” là một truyện ngắn ngắn gọn nhưng giàu giá trị nhân văn. Tác phẩm giúp người đọc hiểu hơn về những hi sinh âm thầm của cha mẹ và nhắc nhở mỗi người phải biết yêu thương, trân trọng gia đình mình. Với nội dung cảm động cùng nghệ thuật kể chuyện tinh tế, truyện ngắn của Phong Điệp đã để lại nhiều xúc động đẹp trong lòng người đọc.
Câu 1.
Văn bản bàn về vẻ đẹp của bài thơ “Lúa chín” của Nguyễn Duy, qua đó làm nổi bật bức tranh mùa gặt và tâm hồn người nông dân Việt Nam.
Câu 2.
Câu văn nêu luận điểm trong đoạn (3) là:
“Chưa hết, không gian mùa gặt không chỉ được mở ra trên những cánh đồng ban ngày, nó còn hiện lên ở trong thôn xóm buổi đêm.”
Câu 3.
a. Thành phần biệt lập: “hình như” → thành phần tình thái.
b. Thành phần biệt lập: “người ơi” → thành phần gọi – đáp.
Câu 4.
Đoạn (2) sử dụng cách trích dẫn trực tiếp các từ ngữ, hình ảnh trong bài thơ như: “phả”, “cánh cò dẫn gió”, “liếm ngang chân trời”.
Tác dụng: làm cho bài nghị luận sinh động, tăng sức thuyết phục và giúp người đọc thấy rõ vẻ đẹp nghệ thuật trong thơ Nguyễn Duy.
Câu 5.
Các lí lẽ và bằng chứng trong đoạn (4) giúp làm nổi bật tâm hồn người nông dân: vừa vui mừng trước mùa màng bội thu, vừa lo lắng, trân trọng từng hạt lúa do công sức lao động làm ra. Qua đó làm sáng tỏ luận điểm của đoạn văn.
Câu 6.
Em thích nhất nghệ thuật nghị luận kết hợp phân tích và biểu cảm của tác giả. Vì cách viết giàu cảm xúc, hình ảnh sinh động, giúp người đọc cảm nhận rõ vẻ đẹp của mùa gặt và tình yêu lao động của người nông dân.
a. Nội dung khởi nghĩa phong trào Cần Vương
-khởi nghĩa Hương Khê (1885–1896) là cuộc khởi nghĩa tiêu biểu nhất trong phong trào Cần Vương cuối thế kỉ XIX
-lãnh đạo: Phan Đình Phùng và Cao Thắng
-địa bàn hoạt động: chủ yếu ở Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Bình và một số vùng lân cận
-tổ chức nghĩa quân chặt chẽ, có quân đội, kho vũ khí, căn cứ vững chắc
-cuộc khởi nghĩa trải qua 2 giai đoạn: xây dựng lực lượng (1885–1888) và chiến đấu quyết liệt (1888–1896)
-nghĩa quân sử dụng chiến thuật du kích, gây nhiều khó khăn cho quân Pháp
-khởi nghĩa thất bại năm 1896 do lực lượng chênh lệch và sự đàn áp của thực dân Pháp
b. Đóng góp của vua Gia Long và vua Minh Mạng trong việc thực thi chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa
-vua Gia Long cho tổ chức và xác lập hoạt động của đội Hoàng Sa, Bắc Hải để khai thác, đo đạc và quản lý biển đảo
-cho cắm mốc, thu lượm sản vật, đo đạc hải trình và khẳng định chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa
-vua Minh Mạng tiếp tục và mở rộng việc quản lý biển đảo
-cho lập bản đồ, dựng miếu, cắm mốc chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa
-cử thủy quân ra tuần tra, khảo sát, khai thác tài nguyên biển
-củng cố bằng nhiều hoạt động hành chính và quân sự, khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo