Lương Tiến Đạt
Giới thiệu về bản thân
BÀI LÀM
Trong môi trường học đường hiện nay, mục tiêu lớn nhất của đa số học sinh là đạt được những bảng điểm chói lọi và những tấm bằng khen rực rỡ. Chính vì thế, có không ít người đã nảy sinh quan điểm: "Với học sinh, kĩ năng sống không quan trọng như tri thức". Tuy nhiên, nếu nhìn nhận một cách sâu sắc và thực tế, đây là một quan điểm phiến diện và có thể dẫn đến những hệ quả sai lầm trong việc phát triển con người. Trước hết, chúng ta cần hiểu rõ "tri thức" là những kiến thức hệ thống về lý thuyết, khoa học mà chúng ta tiếp nhận qua sách vở và nhà trường. Trong khi đó, "kĩ năng sống" là khả năng thích nghi, giải quyết vấn đề, giao tiếp và quản lý bản thân trong những tình huống thực tế. Nhiều người coi trọng tri thức hơn vì cho rằng đó là tấm vé thông hành duy nhất để vào đại học hay có công việc ổn định. Nhưng họ quên mất rằng, tri thức nếu không có kĩ năng để vận dụng thì chỉ là "kiến thức chết". Một thực trạng đáng buồn hiện nay là có những học sinh đạt danh hiệu "học sinh giỏi" nhiều năm liền nhưng lại vô cùng lúng túng khi đối mặt với những tình huống đơn giản ngoài đời. Họ có thể giải được những bài toán tích phân phức tạp nhưng không biết cách "quản lý cảm xúc" khi gặp áp lực, hay có thể thuộc lòng các mốc lịch sử nhưng lại thiếu "kĩ năng làm việc nhóm". Nếu ví cuộc đời là một dòng sông, thì tri thức giống như chiếc bản đồ, còn kĩ năng sống chính là đôi mái chèo. Thiếu bản đồ bạn có thể đi lạc, nhưng thiếu mái chèo bạn chắc chắn sẽ không bao giờ di chuyển được. Kĩ năng sống giúp học sinh "biến tri thức thành giá trị". Một học sinh giỏi tiếng Anh sẽ trở nên vô nghĩa nếu thiếu "kĩ năng giao tiếp" để trình bày ý tưởng của mình trước đám đông. Ngược lại, một người biết "kiên trì" và "tự học" (những kĩ năng sống cốt lõi) sẽ dễ dàng tiếp thu tri thức mới dù họ không đứng đầu lớp. Hơn nữa, thế giới hiện đại đang thay đổi từng ngày, những kiến thức trong sách vở có thể trở nên lạc hậu, nhưng những kĩ năng như "tư duy phản biện", "giải quyết vấn đề" hay "khả năng thích nghi" sẽ là công cụ giúp chúng ta tồn tại trong mọi hoàn cảnh. Tuy nhiên, phản đối quan điểm này không có nghĩa là chúng ta hạ thấp vai trò của tri thức. Tri thức và kĩ năng sống không phải là hai thái cực đối lập để chúng ta phải lựa chọn "cái nào quan trọng hơn". Chúng là "hai mặt của một đồng xu", hỗ trợ và bổ sung cho nhau. Tri thức tạo nền tảng, còn kĩ năng tạo sức mạnh để phát triển nền tảng đó. Tóm lại, việc coi nhẹ kĩ năng sống là một sai lầm lớn trong giáo dục. Để trở thành một con người hoàn thiện và có ích, học sinh cần học cách "cân bằng" giữa việc tiếp nhận kiến thức và rèn luyện những kĩ năng thiết yếu. Đừng để mình trở thành những "cỗ máy biết chữ" nhưng lại xa lạ với cuộc đời thực tế. Hãy nhớ rằng: tri thức giúp chúng ta có công cụ, nhưng chính kĩ năng sống mới dạy chúng ta cách để "vận hành cuộc đời" mình một cách hạnh phúc và thành công nhất.Câu 1:
Văn bản tập trung bàn về ý nghĩa, vai trò của lòng kiên trì trong cuộc sống và cách để duy trì nó nhằm đạt được thành công
Câu 2:
Câu văn nêu luận điểm ở đoạn (2) là:
"Kiên trì là cầu nối để thực hiện lí tưởng, là bến phà và là nấc thang dẫn đến thành công."
Câu 3:
a. "Phép nối": Sử dụng từ "Tuy nhiên" để kết nối hai câu, thể hiện sự đối lập giữa ý định từ bỏ và việc giữ vững ý chí.
b. "Phép lặp": Lặp lại cụm từ "mục tiêu của mình" để tạo sự gắn kết chặt chẽ về nội dung giữa các câu văn.
Câu 4:
Cách mở đầu trực tiếp giúp người đọc "nhận diện ngay vấn đề" trọng tâm của bài viết. Nó tạo ra sự "mạch lạc, rõ ràng" và giúp dẫn dắt các lý lẽ phía sau một cách tự nhiên, thuyết phục.
Câu 5:
Dẫn chứng về "Thomas Edison" là một bằng chứng "điển hình và có sức thuyết phục cao". Việc nêu chi tiết thử nghiệm "hơn 1.000 vật liệu" giúp khẳng định thành công là kết quả của một "quá trình nỗ lực bền bỉ", làm cho luận điểm về lòng kiên trì trở nên thực tế hơn.
Câu 6:
Trong chương trình Toán lớp 7, em từng gặp rất nhiều khó khăn với những bài tập hình học về chứng minh tam giác bằng nhau. Có những bài toán khó khiến em suy nghĩ cả tiếng đồng hồ vẫn không tìm ra lời giải và chỉ muốn đóng sách lại để đi chơi. Tuy nhiên, em đã tự nhủ phải "kiên trì đến cùng" bằng cách xem lại kỹ lý thuyết và thử vẽ thêm các đường phụ khác nhau. Sau nhiều lần thất bại, cuối cùng em cũng tự mình giải được bài toán đó trong niềm hạnh phúc vỡ òa. Kết quả là ở bài kiểm tra sau đó, em đã đạt điểm cao nhờ sự "nỗ lực không ngừng" của bản thân. Trải nghiệm này giúp em hiểu rằng "nếu giữ vững lòng kiên trì", chúng ta chắc chắn sẽ vượt qua mọi khó khăn để đạt được mục tiêu của mình.a) Xét tam giác ABC,có:
góc A + góc B + góc C=180°
Số đo các góc lần lượt tỉ lệ 2;4;6:
Ta có: góc A/2 = góc B/3=góc C/6
Áp dụng tính chất của dãy tỉ số bằng nhau,ta có:
góc A/2 = góc B/4=góc C/6=góc A+góc B + góc C/2+4+6=180°/12=15°
Từ đó,suy ra:
góc A =2.15°=30°
góc B=4.15°=60°
góc C= 6.15°=90°
b)Góc đối diện với góc A là BC
Góc đối diện với góc B là AC
Góc đối diện với góc C là AB
Mà góc A<góc B< góc C
Nên BC<AC<AB
a) y = kx
vậy: k = y/x = -4/5
Suy ra: hệ số tỉ lệ k = -4/5
b) k = -4/5
Suy ra: y = x.(-4/5)
c) x = -10 suy ra y = (-10).(-4/5) = 8
x = 2 suy ra y = 2.(-4/5) = -8/5
a) Xét tam giác BAF, có:
Theo đề bài, tam giác BAF cân tại B nên:
BA = BF.
Vì BD là phân giác của góc B nên:
góc ABD = góc DBF.
Lại có:
BD là cạnh chung của hai tam giác BAD và BFD.
Vậy ta có:
BA = BF
góc ABD = góc DBF
BD chung
Do đó:ΔBAD = ΔBFD (c.g.c)
b)Theo đề bài, tam giác BDE cân tại B nên:
BD = BE.
Từ câu (a) ta đã chứng minh:
ΔBAD = ΔBFD.
Suy ra các cạnh tương ứng bằng nhau:
AD = DF.
Xét tam giác DEF, ta có:
AD = DF.
Suy ra:
DE = DF.
Vậy:ΔDEF là tam giác cân tại D.
Gọi số máy cày của ba đội lần lượt là \(x , y , z\).
Vì năng suất các máy như nhau nên số máy tỉ lệ nghịch với thời gian:
\(x : y : z = \frac{1}{5} : \frac{1}{6} : \frac{1}{8}\)
\(= 24 : 20 : 15\)
\(\Rightarrow \frac{x}{24} = \frac{y}{20} = \frac{z}{15}\)
Áp dụng tính chất của dãy tỉ số bằng nhau:
\(\frac{y - z}{20 - 15} = \frac{x}{24} = \frac{y}{20} = \frac{z}{15}\)
Vì \(y - z = 5\) nên
\(\frac{5}{5} = 1\)
Suy ra:
\(x = 24 , \textrm{ }\textrm{ } y = 20 , \textrm{ }\textrm{ } z = 15\)
Vậy đội 1 có 24 máy, đội 2 có 20 máy, đội 3 có 15 máy.
a) P(x) − Q(x) = (x³ − 3x² + x + 1) − (2x³ − x² + 3x − 4)
= x³ − 3x² + x + 1 − 2x³ + x² − 3x + 4
= −x³ − 2x² − 2x + 5.
b) P(1) = 1³ − 3·1² + 1 + 1 = 1 − 3 + 1 + 1 = 0 ⇒ x = 1 là nghiệm của P(x).
Q(1) = 2·1³ − 1² + 3·1 − 4 = 2 − 1 + 3 − 4 = 0 ⇒ x = 1 là nghiệm của Q(x).
a) x/-4 = -11/2
Nhân chéo:
2x=(-4)(-11)
2x=44
x=22