Đào Diễm Quyên

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Đào Diễm Quyên
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Phần II. LÀM VĂN

Câu 1: BÀI LÀM

Trong vũ trụ bao la, con người không phải là một ốc đảo cô độc mà là một mắc xích trong sợi dây chuyền sự sống đại ngàn. Bởi vậy, việc yêu thương vạn vật không chỉ là một lựa chọn đạo đức mà còn là bản chất của một tâm hồn cao thượng. Yêu thương vạn vật là khi ta biết xót xa trước một cách rừng bị tàn phá, biết bao dung với một con vật bé nhỏ và biết trân trọng từng nhành hoa dại bên đường. Khi mở lòng với thế giới tự nhiên, trái tim ta không còn chỗ cho sự hẹp hòi, ích kỷ. Lòng nhân ái ấy chính là " phù sa " bồi đắp cho tâm hồn, giúp con người thoát khỏi sự chai sạn của lối sống vị kỷ. Như Chu Văn Sơn từng gợi nhắc, cái đau của " Gai đâm" giúp ta tỉnh thức, thì tình yêu dành cho vạn vật chính là liều thuốc chữa lành mọi tổn thương từ những những điều nhỏ nhất, bởi khi ta biết nâng niu một mầm xanh, ta mới thực sự xứng đáng với danh hiệu " Con Người "

Câu 2: BÀI LÀM
Nếu như hội họa dùng màu sắc, âm nhạc dùng giai điệu thì thơ ca dùng ngôn từ để tạc vào thời gian dáng hình của dân tộc. Hoàng Cầm - người con của vùng đất Kinh Bắc hào hoa - đã dùng những vần thơ rỉ máu để viết nên "Bên kia sông Đuống". Đoạn thơ không chỉ là tiếng lòng của một cá nhân mà là bản giao hưởng đối lập đầy đau xót giữa vẻ đẹp thanh bình của quá khứ và sự hoang tàn của chiến tranh.

Trước khi giặc dữ tràn đến, quê hương hiện lên trong tâm tưởng nhà thơ như một thiên đường của văn hóa và sự sống trù phú:

"Quê hương ta lúa nếp thơm nồng

Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong

Màu dân tộc sáng bừng trên giây điệp"

Cái hay của Hoàng Cầm là chọn được những lát cắt tinh túy nhất của hồn quê. Đó là mùi hương của lúa nếp - mùi của ấm no; là sắc màu của tranh dân gian, sắc màu của tâm hồn Việt. Cụm từ "sáng bừng" không chỉ miêu tả ánh sáng vật lý của giấy điệp mà còn là sự thăng hoa của một nền văn hóa lâu đời. Con người ở đó hiện lên với vẻ đẹp rạng rỡ, tình tứ, đầy sức sống.

Thế nhưng, hiện thực phũ phàng đã ập xuống, bẻ gãy Thế nhưng, hiện thực phũ phàng đã ập xuống, bẻ gãy nhịp sống yên bình ấy:

"Quê hương ta từ ngày khủng khiếp

Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn

Ruộng ta khô

Nhà ta cháy"

Sự đối lập giữa "mùi lúa nếp" và "lửa hung tàn" tạo nên một dư chần cảm xúc mạnh mẽ. Chiến tranh không chỉ đốt cháy nhà cửa mà còn thiêu rụi cả những giấc mơ. Điệp từ "ta" vang lên đầy đau đớn như lời khẳng định chủ quyền bị xâm phạm. Hình ảnh "Chó ngộ một đàn/ Lưỡi dài lê sắc máu" là một ẩn dụ rợn người về sự tàn bạo của kẻ thù, biến mảnh đất văn hiến thành một bãi chiến trường lạnh lẽo.

Sự biến đổi đau xót nhất chính là số phận con người:

"Mẹ con đàn lợn âm dương

Chia lia trăm ngả

Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã

Bây giờ tan tác về đâu?"

Sử dụng chất liệu từ chính những bức tranh Đông Hồ,Hoàng Cầm đã thực hiện một cuộc "di dân" nghệ thuật đầy ám ảnh. Những biểu tượng của hạnh phúc, sự sinh sôi như "đàn lợn", "đám cưới chuột" giờ đây trở thành hiện thân cho sự ly tán, tan tác của những kiếp người. Câu hỏi tu từ "về đâu?" rơi vào hư không, gợi lên nỗi xót xa vô hạn về một vùng quê đang bị giày xéo dưới gót giày viễn chinh.

Bằng nghệ thuật tương phản đối lập, bút pháp chấm phá và tình yêu quê hương máu thịt, Hoàng Cầm đã dựng lên hai bức tranh trái ngược hoàn toàn về Kinh Bắc. Đoạn thơ không chỉ là lời tố cáo tội ác chiến tranh mà còn là tiếng gọi tha thiết bảo vệ những giá trị thiêng liêng của dân tộc. Đọc "Bên kia sông Đuống", ta không chỉ thấy nỗi đau mà còn thấy một lời thề nguyền sắt đá về sự hồi sinh của một vùng văn hóa chẳng bao giờ lụi tắt.


Câu 1: phương thức biểu đạt chính của văn bản là Biểu Cảm.

Câu 2: nội dung chính: văn bản là những chiêm nghiệm sâu sắc về sự hiện hữu của tổn thương trong cuộc sống.Tác giả thức tỉnh con người khỏi sự vô cảm,nhắc nhở chúng ta cần biết lắng nghe,thấu cảm và nâng niu những giá trị mong manh,bởi chính nỗi đau là nhịp cầu dẫn lối ta đén lòng nhân ái chân thực.

Câu 3: Biện pháp tu từ:Điệp cấu trúc kết hợp với liệt kê.

Tác dụng: tạo nhịp điệu da diết như một lời tự vấn,tăng sức gợi hình gợi cảm làm cho câu văn sinh động hơn,thể hiện rõ được thông điệp tác giả muốn truyền tải tới, thấu cảm và nâng niu những giá trị mong manh, bởi chính nỗi đau là nhịp cầu dẫn lối ta đến với lòng nhân ái chân thực.

Câu 4: Tác giả nói" thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm" vì đó là một cú hít tâm hồn "gai đâm" là biểu tượng cho những va chạm, đau đớn thực tế thực tế. Khi ta biết đau, ta mới sực tỉnh khỏi cơn mê của sự ích kỷ, mới có thể soi chiếu lại mình và bắt đầu cảm nhận được nỗi đau của người khác. Đó là cái đau cần thiết để nuôi dưỡng nhân tính.

Câu 5: Bài học ý nghĩa nhất là "Sự tỉnh thức của lòng trắc ẩn". Giữa một thế giới hối hả, con người dễ trở nên xơ cứng. Bài học nhắc ta rằng: Sống không chỉ tận hưởng mà còn là biết đau, Ta thực sự tỉnh khỏi cơn mê của sự ích kỷ, mới có thể soi chiếu loại mình và bắt đầu cảm nhận được nỗi đau của người khác. Đó là cái đau cần thiết để nuôi dưỡng nhân tính