Lâm Khánh Nguyên

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Lâm Khánh Nguyên
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Bài1

Câu 1 :
Phương thức biểu đạt chính của văn bản là nghị luận

Câu 2 :
Văn bản nhắc nhở con người cần biết sống tinh tế, yêu thương và nâng niu mọi điều xung quanh vì những hành động, lời nói vô tình của ta có thể gây tổn thương cho thiên nhiên và con người.


Câu 3 :
Biện pháp tu từ trong đoạn (7): Điệp từ, điệp cấu trúc (“quen”, “những…” được lặp lại nhiều lần).

Tác dụng:Nhấn mạnh sự bao dung, nhẫn nhịn của thiên nhiên và con người trước những tổn thương mà ta gây ra.

Tạo nhịp điệu nhẹ nhàng, sâu lắng, tăng sức gợi cảm cho đoạn văn.

Qua đó làm nổi bật lời nhắc nhở con người phải biết trân trọng và sống có trách nhiệm hơn.

Câu 4 :
Tác giả nói “Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm” vì con người thường vô tâm, vô ý làm tổn thương người khác mà không nhận ra. “Gai đâm” là hình ảnh ẩn dụ cho những đau đớn, vấp ngã hay tổn thương mà ta từng trải qua. Khi tự mình biết đau, con người sẽ biết đồng cảm, biết trân trọng cảm xúc của người khác và sống cẩn trọng, yêu thương hơn.

Câu 5 :
Bài học ý nghĩa nhất em rút ra là: cần sống biết yêu thương, đồng cảm và cẩn trọng trong lời nói, hành động vì đôi khi những điều nhỏ bé cũng có thể làm người khác tổn thương. Đồng thời phải biết trân trọng thiên nhiên, con người và những giá trị bình dị quanh mình.

Bài2

Câu 1

Con người nên biết yêu thương vạn vật vì muôn loài và thiên nhiên chính là một phần không thể tách rời của cuộc sống. Từ cây cối, dòng sông, cánh rừng đến những con vật nhỏ bé đều góp phần tạo nên sự sống và vẻ đẹp của thế giới. Khi biết yêu thương vạn vật, con người sẽ sống nhân ái, biết trân trọng môi trường và có ý thức bảo vệ thiên nhiên hơn. Ngược lại, sự vô tâm, ích kỉ và tàn phá thiên nhiên sẽ gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng như ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu hay mất cân bằng sinh thái. Yêu thương vạn vật không phải là điều gì lớn lao mà bắt đầu từ những hành động nhỏ bé như không xả rác bừa bãi, chăm sóc cây xanh, bảo vệ động vật hay cư xử nhẹ nhàng với mọi thứ quanh mình. Người biết yêu thương thiên nhiên và muôn loài cũng là người có tâm hồn đẹp, giàu lòng trắc ẩn và dễ lan tỏa những điều tích cực đến cộng đồng. Vì vậy, mỗi chúng ta cần học cách sống hòa hợp với thiên nhiên, nâng niu sự sống để thế giới ngày càng tốt đẹp và đáng sống hơn.

Câu 2

Trong nền thơ ca kháng chiến chống thực dân Pháp, Hoàng Cầm là một nhà thơ giàu cảm xúc, gắn bó sâu nặng với quê hương Kinh Bắc. Bài thơ Bên kia sông Đuống được sáng tác năm 1948 khi quê hương ông bị giặc tàn phá. Đoạn thơ trên đã thể hiện rõ sự biến đổi đau thương của quê hương trước và sau chiến tranh, qua đó bộc lộ tình yêu quê hương tha thiết cùng nỗi xót xa của tác giả.


Trước hết, quê hương hiện lên trong kí ức nhà thơ với vẻ đẹp thanh bình, trù phú và đậm đà bản sắc dân tộc. Chỉ bằng vài câu thơ ngắn gọn, tác giả đã gợi ra một miền quê giàu đẹp, yên ả:


“Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong”


Hình ảnh “lúa nếp thơm nồng” gợi cuộc sống no đủ, ấm áp của người dân quê. Mùi thơm của lúa nếp không chỉ là hương vị quen thuộc của đồng quê mà còn gợi cảm giác gần gũi, thân thương. Đặc biệt, hình ảnh “tranh Đông Hồ” với “gà lợn nét tươi trong” đã làm nổi bật vẻ đẹp văn hóa truyền thống của quê hương Kinh Bắc. Đó là những bức tranh dân gian mộc mạc nhưng chứa đựng hồn quê, hồn dân tộc. Câu thơ “Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp” càng khẳng định niềm tự hào của tác giả về vẻ đẹp văn hóa lâu đời của quê hương. Từ ngữ “sáng bừng” gợi sức sống tươi sáng, rạng rỡ của một vùng quê thanh bình trước chiến tranh.


Nhưng chiến tranh đã khiến tất cả đổi thay. Từ “khủng khiếp” như một tiếng kêu đau đớn mở ra khung cảnh quê hương tan hoang:


“Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn”


Hình ảnh “ngùn ngụt lửa hung tàn” diễn tả tội ác dã man của giặc. Chiến tranh không chỉ phá hủy làng mạc mà còn cướp đi sự bình yên của con người. Những câu thơ ngắn, nhịp gấp:


“Ruộng ta khô
Nhà ta cháy”


đã khắc họa nỗi đau mất mát đến tận cùng. Ruộng đồng khô cằn, nhà cửa bị thiêu rụi, cuộc sống người dân lâm vào cảnh điêu tàn. Đặc biệt, hình ảnh “Chó ngộ một đàn / Lưỡi dài lê sắc máu” vừa chân thực vừa gợi cảm giác ghê rợn, cho thấy bộ mặt tàn bạo của chiến tranh và quân xâm lược.


Không chỉ cuộc sống vật chất bị tàn phá, những giá trị văn hóa, tinh thần cũng bị chia cắt đau thương:


“Mẹ con đàn lợn âm dương
Chia lìa trăm ngả
Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã
Bây giờ tan tác về đâu?”


Những hình ảnh quen thuộc trong tranh Đông Hồ giờ đây trở thành biểu tượng cho sự chia lìa, tan tác. Nghệ thuật nhân hóa và câu hỏi tu từ cuối đoạn thơ khiến nỗi đau càng thêm ám ảnh. Cái đẹp, niềm vui, sự sum vầy của quê hương đều bị chiến tranh hủy hoại. Qua đó, tác giả bày tỏ niềm xót thương sâu sắc trước cảnh quê hương bị giặc tàn phá.


Đoạn thơ không chỉ phản ánh sự thay đổi đau thương của quê hương trước và sau chiến tranh mà còn thể hiện tình yêu quê hương tha thiết của nhà thơ Hoàng Cầm. Với giọng thơ giàu cảm xúc, hình ảnh vừa thực vừa giàu tính biểu tượng, tác giả đã khơi dậy trong lòng người đọc niềm căm thù chiến tranh và ý thức trân trọng cuộc sống hòa bình hôm nay. Đây là đoạn thơ tiêu biểu cho thơ ca kháng chiến Việt Nam, để lại nhiều xúc động sâu xa trong lòng người đọc.



Bài1

Câu 1 :
Phương thức biểu đạt chính của văn bản là nghị luận

Câu 2 :
Văn bản nhắc nhở con người cần biết sống tinh tế, yêu thương và nâng niu mọi điều xung quanh vì những hành động, lời nói vô tình của ta có thể gây tổn thương cho thiên nhiên và con người.


Câu 3 :
Biện pháp tu từ trong đoạn (7): Điệp từ, điệp cấu trúc (“quen”, “những…” được lặp lại nhiều lần).

Tác dụng:Nhấn mạnh sự bao dung, nhẫn nhịn của thiên nhiên và con người trước những tổn thương mà ta gây ra.

Tạo nhịp điệu nhẹ nhàng, sâu lắng, tăng sức gợi cảm cho đoạn văn.

Qua đó làm nổi bật lời nhắc nhở con người phải biết trân trọng và sống có trách nhiệm hơn.

Câu 4 :
Tác giả nói “Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm” vì con người thường vô tâm, vô ý làm tổn thương người khác mà không nhận ra. “Gai đâm” là hình ảnh ẩn dụ cho những đau đớn, vấp ngã hay tổn thương mà ta từng trải qua. Khi tự mình biết đau, con người sẽ biết đồng cảm, biết trân trọng cảm xúc của người khác và sống cẩn trọng, yêu thương hơn.

Câu 5 :
Bài học ý nghĩa nhất em rút ra là: cần sống biết yêu thương, đồng cảm và cẩn trọng trong lời nói, hành động vì đôi khi những điều nhỏ bé cũng có thể làm người khác tổn thương. Đồng thời phải biết trân trọng thiên nhiên, con người và những giá trị bình dị quanh mình.

Bài2

Câu 1

Con người nên biết yêu thương vạn vật vì muôn loài và thiên nhiên chính là một phần không thể tách rời của cuộc sống. Từ cây cối, dòng sông, cánh rừng đến những con vật nhỏ bé đều góp phần tạo nên sự sống và vẻ đẹp của thế giới. Khi biết yêu thương vạn vật, con người sẽ sống nhân ái, biết trân trọng môi trường và có ý thức bảo vệ thiên nhiên hơn. Ngược lại, sự vô tâm, ích kỉ và tàn phá thiên nhiên sẽ gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng như ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu hay mất cân bằng sinh thái. Yêu thương vạn vật không phải là điều gì lớn lao mà bắt đầu từ những hành động nhỏ bé như không xả rác bừa bãi, chăm sóc cây xanh, bảo vệ động vật hay cư xử nhẹ nhàng với mọi thứ quanh mình. Người biết yêu thương thiên nhiên và muôn loài cũng là người có tâm hồn đẹp, giàu lòng trắc ẩn và dễ lan tỏa những điều tích cực đến cộng đồng. Vì vậy, mỗi chúng ta cần học cách sống hòa hợp với thiên nhiên, nâng niu sự sống để thế giới ngày càng tốt đẹp và đáng sống hơn.

Câu 2

Trong nền thơ ca kháng chiến chống thực dân Pháp, Hoàng Cầm là một nhà thơ giàu cảm xúc, gắn bó sâu nặng với quê hương Kinh Bắc. Bài thơ Bên kia sông Đuống được sáng tác năm 1948 khi quê hương ông bị giặc tàn phá. Đoạn thơ trên đã thể hiện rõ sự biến đổi đau thương của quê hương trước và sau chiến tranh, qua đó bộc lộ tình yêu quê hương tha thiết cùng nỗi xót xa của tác giả.


Trước hết, quê hương hiện lên trong kí ức nhà thơ với vẻ đẹp thanh bình, trù phú và đậm đà bản sắc dân tộc. Chỉ bằng vài câu thơ ngắn gọn, tác giả đã gợi ra một miền quê giàu đẹp, yên ả:


“Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong”


Hình ảnh “lúa nếp thơm nồng” gợi cuộc sống no đủ, ấm áp của người dân quê. Mùi thơm của lúa nếp không chỉ là hương vị quen thuộc của đồng quê mà còn gợi cảm giác gần gũi, thân thương. Đặc biệt, hình ảnh “tranh Đông Hồ” với “gà lợn nét tươi trong” đã làm nổi bật vẻ đẹp văn hóa truyền thống của quê hương Kinh Bắc. Đó là những bức tranh dân gian mộc mạc nhưng chứa đựng hồn quê, hồn dân tộc. Câu thơ “Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp” càng khẳng định niềm tự hào của tác giả về vẻ đẹp văn hóa lâu đời của quê hương. Từ ngữ “sáng bừng” gợi sức sống tươi sáng, rạng rỡ của một vùng quê thanh bình trước chiến tranh.


Nhưng chiến tranh đã khiến tất cả đổi thay. Từ “khủng khiếp” như một tiếng kêu đau đớn mở ra khung cảnh quê hương tan hoang:


“Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn”


Hình ảnh “ngùn ngụt lửa hung tàn” diễn tả tội ác dã man của giặc. Chiến tranh không chỉ phá hủy làng mạc mà còn cướp đi sự bình yên của con người. Những câu thơ ngắn, nhịp gấp:


“Ruộng ta khô
Nhà ta cháy”


đã khắc họa nỗi đau mất mát đến tận cùng. Ruộng đồng khô cằn, nhà cửa bị thiêu rụi, cuộc sống người dân lâm vào cảnh điêu tàn. Đặc biệt, hình ảnh “Chó ngộ một đàn / Lưỡi dài lê sắc máu” vừa chân thực vừa gợi cảm giác ghê rợn, cho thấy bộ mặt tàn bạo của chiến tranh và quân xâm lược.


Không chỉ cuộc sống vật chất bị tàn phá, những giá trị văn hóa, tinh thần cũng bị chia cắt đau thương:


“Mẹ con đàn lợn âm dương
Chia lìa trăm ngả
Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã
Bây giờ tan tác về đâu?”


Những hình ảnh quen thuộc trong tranh Đông Hồ giờ đây trở thành biểu tượng cho sự chia lìa, tan tác. Nghệ thuật nhân hóa và câu hỏi tu từ cuối đoạn thơ khiến nỗi đau càng thêm ám ảnh. Cái đẹp, niềm vui, sự sum vầy của quê hương đều bị chiến tranh hủy hoại. Qua đó, tác giả bày tỏ niềm xót thương sâu sắc trước cảnh quê hương bị giặc tàn phá.


Đoạn thơ không chỉ phản ánh sự thay đổi đau thương của quê hương trước và sau chiến tranh mà còn thể hiện tình yêu quê hương tha thiết của nhà thơ Hoàng Cầm. Với giọng thơ giàu cảm xúc, hình ảnh vừa thực vừa giàu tính biểu tượng, tác giả đã khơi dậy trong lòng người đọc niềm căm thù chiến tranh và ý thức trân trọng cuộc sống hòa bình hôm nay. Đây là đoạn thơ tiêu biểu cho thơ ca kháng chiến Việt Nam, để lại nhiều xúc động sâu xa trong lòng người đọc.