Giàng Thị Thu

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Giàng Thị Thu
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

câu 1

Trong đoạn thơ in đậm, nhân vật trữ tình bộc lộ tình cảm sâu nặng và day dứt đối với người bà kính yêu. Hình ảnh “con đường làng… bà ơi… cháu chưa đi hết” không chỉ gợi không gian quen thuộc mà còn ẩn chứa nỗi niềm ân hận của người cháu khi chưa kịp sống trọn vẹn những năm tháng bên bà. Tiếng gọi “bà ơi” vang lên tha thiết như một lời gọi từ ký ức, thể hiện tình yêu thương và nỗi nhớ khôn nguôi. Nhân vật trữ tình tự nhận ra mình và “chúng chính” đã từng mải mê với đám đông, cuộc vui mà quên đi con đường quê bé nhỏ – nơi có bà lặng lẽ dõi theo. Sự tự trách ấy cho thấy tấm lòng hiếu thảo cùng sự thức tỉnh muộn màng trước những giá trị bình dị, thiêng liêng của gia đình. Hình ảnh “bước chân lúc nhỏ chân trần lội giẫm đá mòn” gợi lại tuổi thơ gắn bó bên bà, càng làm nỗi nhớ thêm da diết. Qua đó, ta thấy được tình cảm yêu thương, biết ơn và cả niềm tiếc nuối của người cháu dành cho bà – một tình cảm chân thành, sâu lắng và đầy nhân văn.

câu 2

trong dòng chảy mạnh mẽ của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, thế giới ngày càng “phẳng” hơn, các nền văn hóa giao thoa, tiếp biến không ngừng. Giữa bối cảnh ấy, bản sắc văn hóa dân tộc trở thành điểm tựa tinh thần quan trọng, đặc biệt đối với tuổi trẻ – lực lượng năng động, sáng tạo và cũng dễ bị cuốn theo những trào lưu mới. Vì thế, việc nhận thức đúng và trân trọng ý nghĩa của bản sắc văn hóa dân tộc có ý nghĩa thiết thực đối với mỗi người trẻ hôm nay.

Bản sắc văn hóa dân tộc là những giá trị bền vững, đặc trưng, được hình thành và bồi đắp qua hàng nghìn năm lịch sử. Đó là tiếng nói, phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội, trang phục truyền thống; là lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, nhân nghĩa, hiếu học; là những di sản vật thể và phi vật thể cha ông để lại. Bản sắc văn hóa không chỉ thể hiện ở những điều lớn lao mà còn hiện diện trong lối sống, cách ứng xử, trong tình yêu gia đình, quê hương và cội nguồn.

Đối với tuổi trẻ, bản sắc văn hóa dân tộc trước hết là nền tảng hình thành nhân cách. Khi hiểu và tự hào về truyền thống dân tộc, người trẻ sẽ có ý thức sống có trách nhiệm hơn với cộng đồng. Những giá trị như “uống nước nhớ nguồn”, “tôn sư trọng đạo”, “thương người như thể thương thân” giúp họ định hướng hành vi, biết yêu thương, sẻ chia và sống nhân ái. Trong một xã hội nhiều biến động, bản sắc văn hóa giống như “la bàn” tinh thần, giúp tuổi trẻ không bị lạc lối giữa vô vàn trào lưu và giá trị khác nhau.

Bên cạnh đó, bản sắc văn hóa dân tộc còn tạo nên sức mạnh nội sinh để tuổi trẻ tự tin hội nhập. Hội nhập không có nghĩa là hòa tan. Người trẻ có thể tiếp thu tinh hoa nhân loại, học hỏi tri thức mới, nhưng vẫn cần giữ được “căn cước” văn hóa của mình. Khi hiểu rõ mình là ai, đến từ đâu, họ sẽ có bản lĩnh để chọn lọc những giá trị phù hợp, không chạy theo lối sống thực dụng, lai căng. Thực tế cho thấy, nhiều bạn trẻ đã biết kết hợp yếu tố truyền thống với sáng tạo hiện đại trong nghệ thuật, thời trang, âm nhạc, khởi nghiệp… góp phần quảng bá văn hóa dân tộc ra thế giới. Chính sự kết hợp hài hòa ấy tạo nên dấu ấn riêng, khẳng định vị thế của Việt Nam trong bức tranh văn hóa toàn cầu.

Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng một bộ phận giới trẻ hiện nay còn thờ ơ với truyền thống. Có người sính ngoại, coi nhẹ tiếng Việt, ít quan tâm đến lịch sử, văn hóa dân tộc; thậm chí có hành vi lệch chuẩn, phản cảm trong các không gian văn hóa chung. Những biểu hiện ấy nếu không được điều chỉnh sẽ làm mai một dần những giá trị quý báu của cha ông.

Vì vậy, để bản sắc văn hóa thực sự có ý nghĩa với tuổi trẻ, mỗi người cần chủ động tìm hiểu, học tập và gìn giữ các giá trị truyền thống. Điều đó có thể bắt đầu từ những việc giản dị: trân trọng tiếng Việt, giữ gìn phong tục tốt đẹp, tham gia các hoạt động văn hóa cộng đồng, ứng xử văn minh trên không gian mạng. Đồng thời, tuổi trẻ cũng cần sáng tạo, làm mới truyền thống bằng những hình thức phù hợp với thời đại số, để văn hóa dân tộc không chỉ được bảo tồn mà còn phát triển sống động.

Tóm lại, bản sắc văn hóa dân tộc là cội nguồn, là nền tảng và cũng là động lực để tuổi trẻ vững vàng bước vào tương lai. Khi biết tự hào và gìn giữ những giá trị của dân tộc mình, người trẻ sẽ vừa có chiều sâu tâm hồn, vừa có bản lĩnh hội nhập. Giữ gìn bản sắc không phải là quay lưng với thế giới, mà chính là cách để khẳng định mình giữa thế giới rộng lớn hôm nay.


câu 1 nhận vật trữ tình là người cháu

Câu 1. Xác định nhân vật trữ tình trong bài thơ.

Nhân vật trữ tình là người cháu (cái tôi trữ tình xưng “cháu”), đang hồi tưởng, suy ngẫm về bà và quê hương.


Câu 2.

Những câu thơ miêu tả trực tiếp:

  • Cái ngõ xoan
    Lối rẽ quanh co, đường vòng rơm rạ
  • Con đường làng… bà ơi… cháu chưa đi hết
  • Con đường làng
    Một ngày…
    Rác vàng…
    Gió Đông Mới…

→ Các câu thơ khắc họa ngõ xoan/ con đường làng với dáng vẻ quanh co, mộc mạc, gắn với rơm rạ, gió mùa, rác vàng – đậm không gian làng quê.


**Câu 3. Phân tích ý nghĩa của biện pháp nhân hóa trong câu:

“Trên luống ngô, khoai, lạc, rau khúc ngả buồn”**

  • Biện pháp tu từ: nhân hóa (“ngả buồn”).
  • Ý nghĩa:
    • Làm cho cảnh vật mang tâm trạng con người.
    • Gợi cảm giác trĩu nặng, hiu hắt, man mác buồn.
    • Thể hiện nỗi buồn, sự xót xa, hoài niệm của người cháu trước sự đổi thay của quê hương và hình bóng bà.
    • Tăng sức gợi cảm, tạo chiều sâu cảm xúc cho bức tranh đồng quê.

Câu 4. Anh/chị hiểu như thế nào về hai chữ “chúng chính” trong đoạn thơ?

Chúng chính” trong câu:

“Người ta vẫn hay chúng chính
Sa vào đám đông, cuộc vui, quên con đường quê bé nhỏ…”

→ “Chúng chính” được hiểu là chúng ta (con người nói chung, nhất là những người trẻ).

Ý nghĩa:

  • Là lời tự vấn, tự trách.
  • Con người khi trưởng thành thường mải mê với cuộc sống đông đúc, bon chen.
  • Dễ quên đi cội nguồn, quê hương, những điều bình dị thân thương như “con đường quê bé nhỏ”.
  • Thể hiện nỗi day dứt, tiếc nuối và lời nhắc nhở về sự thủy chung với nguồn cội


câu 5

Để tuổi trẻ không trôi đi trong hối tiếc, mỗi người cần sống có mục tiêu và lý tưởng rõ ràng. Hãy không ngừng học hỏi, rèn luyện bản thân và dám bước ra khỏi vùng an toàn để theo đuổi ước mơ. Tuổi trẻ cũng cần biết trân trọng gia đình, quê hương và những giá trị bình dị quanh mình. Đừng sống thờ ơ hay chạy theo những cuộc vui vô nghĩa. Quan trọng hơn, hãy sống trách nhiệm, yêu thương và cống hiến để mỗi ngày trôi qua đều có ý nghĩa. Khi đã nỗ lực hết mình, ta sẽ không phải tiếc nuối về quãng đời thanh xuân.




Quá trình điện phân dung dịch NaCl để sản xuất NaOH xảy ra theo phương trình hóa học:

\(2 N a C l + 2 H_{2} O \rightarrow 2 N a O H + H_{2} + C l_{2}\)

Theo phương trình phản ứng, 2 mol NaCl tạo ra 2 mol NaOH, hay nói cách khác:

Tính lượng NaCl đã tham gia phản ứng

Nồng độ nước muối bão hòa ban đầu: 300 g/L
Nồng độ nước muối nghèo sau điện phân: 220 g/L

Lượng NaCl đã bị điện phân trong 1 lít dung dịch là:

\(300 - 220 = 80 \&\text{nbsp};\text{g}\)

Vậy trong 1 lít dung dịch đã có 80 g NaCl tham gia phản ứng.


Tính số mol NaCl đã phản ứng

Khối lượng mol của NaCl là:

\(M_{N a C l} = 58 , 5 \&\text{nbsp};\text{g}/\text{mol}\)

Số mol NaCl đã phản ứng:

\(n_{N a C l} = \frac{80}{58 , 5} \approx 1 , 37 \&\text{nbsp};\text{mol}\)

Tính khối lượng NaOH tạo thành theo lý thuyết

Theo phương trình phản ứng:

\(n_{N a O H} = n_{N a C l} = 1 , 37 \&\text{nbsp};\text{mol}\)

Khối lượng mol của NaOH:

\(M_{N a O H} = 40 \&\text{nbsp};\text{g}/\text{mol}\)

Khối lượng NaOH tạo thành theo lý thuyết:

\(m_{N a O H \left(\right. l \overset{ˊ}{y} t h u y \overset{ˊ}{\hat{e}} t \left.\right)} = 1 , 37 \times 40 \approx 54 , 8 \&\text{nbsp};\text{g}\)


Tính khối lượng NaOH thực tế (hiệu suất 80%)

Hiệu suất của quá trình là 80%, do đó khối lượng NaOH thực tế thu được là:

\(m_{N a O H \left(\right. t h ự c t \overset{ˊ}{\hat{e}} \left.\right)} = 54 , 8 \times 0 , 8 \approx 43 , 8 \&\text{nbsp};\text{g}\)


Kết luận

Với mỗi lít nước muối bão hòa ban đầu, có thể sản xuất được khoảng:

\(\boxed{43 , 8 \&\text{nbsp};\text{gam}\&\text{nbsp};\text{NaOH}}\)

(đã tính theo hiệu suất 80%).

Quá trình điện phân dung dịch NaCl để sản xuất NaOH xảy ra theo phương trình hóa học:

\(2 N a C l + 2 H_{2} O \rightarrow 2 N a O H + H_{2} + C l_{2}\)

Theo phương trình phản ứng, 2 mol NaCl tạo ra 2 mol NaOH, hay nói cách khác:

Tính lượng NaCl đã tham gia phản ứng

Nồng độ nước muối bão hòa ban đầu: 300 g/L
Nồng độ nước muối nghèo sau điện phân: 220 g/L

Lượng NaCl đã bị điện phân trong 1 lít dung dịch là:

\(300 - 220 = 80 \&\text{nbsp};\text{g}\)

Vậy trong 1 lít dung dịch đã có 80 g NaCl tham gia phản ứng.


Tính số mol NaCl đã phản ứng

Khối lượng mol của NaCl là:

\(M_{N a C l} = 58 , 5 \&\text{nbsp};\text{g}/\text{mol}\)

Số mol NaCl đã phản ứng:

\(n_{N a C l} = \frac{80}{58 , 5} \approx 1 , 37 \&\text{nbsp};\text{mol}\)

Tính khối lượng NaOH tạo thành theo lý thuyết

Theo phương trình phản ứng:

\(n_{N a O H} = n_{N a C l} = 1 , 37 \&\text{nbsp};\text{mol}\)

Khối lượng mol của NaOH:

\(M_{N a O H} = 40 \&\text{nbsp};\text{g}/\text{mol}\)

Khối lượng NaOH tạo thành theo lý thuyết:

\(m_{N a O H \left(\right. l \overset{ˊ}{y} t h u y \overset{ˊ}{\hat{e}} t \left.\right)} = 1 , 37 \times 40 \approx 54 , 8 \&\text{nbsp};\text{g}\)


Tính khối lượng NaOH thực tế (hiệu suất 80%)

Hiệu suất của quá trình là 80%, do đó khối lượng NaOH thực tế thu được là:

\(m_{N a O H \left(\right. t h ự c t \overset{ˊ}{\hat{e}} \left.\right)} = 54 , 8 \times 0 , 8 \approx 43 , 8 \&\text{nbsp};\text{g}\)


Kết luận

Với mỗi lít nước muối bão hòa ban đầu, có thể sản xuất được khoảng:

\(\boxed{43 , 8 \&\text{nbsp};\text{gam}\&\text{nbsp};\text{NaOH}}\)

(đã tính theo hiệu suất 80%).

Ta dựa vào dãy hoạt động hoá học của kim loại:

K > Na > Mg > Al > Zn > Fe > Pb > (H) > Cu > Ag

Kim loại đứng trước có thể đẩy kim loại đứng sau ra khỏi dung dịch muối của nó.


Xét từng dung dịch:

  1. Dung dịch AlCl₃:
    Trong dãy hoạt động, Al đứng trước Fe nên Fe không thể đẩy Al ra khỏi dung dịch muối.
    → Không xảy ra phản ứng.
  2. Dung dịch CuSO₄:
    Fe đứng trước Cu nên Fe đẩy được Cu ra khỏi dung dịch.
    Phương trình phản ứng:
    Fe + CuSO₄ → FeSO₄ + Cu↓
  3. Dung dịch Fe₂(SO₄)₃:
    Kim loại Fe không thể đẩy chính nó ra khỏi dung dịch muối của nó.
    → Không xảy ra phản ứng.
  4. Dung dịch AgNO₃:
    Fe đứng trước Ag nên Fe đẩy được Ag ra khỏi dung dịch.
    Phương trình phản ứng:
    Fe + 2AgNO₃ → Fe(NO₃)₂ + 2Ag↓
  5. Dung dịch KCl:
    K đứng trước Fe trong dãy hoạt động nên Fe không đẩy được K ra khỏi dung dịch.
    → Không xảy ra phản ứng
  6. Dung dịch Pb(NO₃)₂:
    Fe đứng trước Pb nên Fe đẩy được Pb ra khỏi dung dịch.
    Phương trình phản ứng:
    Fe + Pb(NO₃)₂ → Fe(NO₃)₂ + Pb↓

Kết luận:
Phản ứng xảy ra khi cho Fe vào các dung dịch: CuSO₄, AgNO₃, Pb(NO₃)₂.
Không xảy ra phản ứng với các dung dịch: AlCl₃, Fe₂(SO₄)₃, KCl.

Gang và thép là hai hợp kim quan trọng của sắt với carbon và một số nguyên tố khác. Carbon chiếm hàm lượng từ 2% đến 5% trong gang và dưới 2% trong thép.