Triệu Đồng Bảo
Giới thiệu về bản thân
Câu 1
ruyện Kiều của Nguyễn Du là đỉnh cao của văn học trung đại Việt Nam, không chỉ bởi giá trị hiện thực sâu sắc mà còn bởi khát vọng nhân đạo cao đẹp. Trong hành trình 15 năm lưu lạc của Thúy Kiều, đoạn trích Kiều gặp Từ Hải đánh dấu một bước ngoặt quan trọng: Kiều từ thân phận đau khổ, bị chà đạp trở thành người làm chủ cuộc đời mình. Qua đoạn trích, ta thấy rõ giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc mà Nguyễn Du gửi gắm. Mở đầu đoạn trích, hình tượng Từ Hải hiện lên với tầm vóc phi thường, mang khí phách anh hùng hiếm có. Chỉ bằng vài nét chấm phá “Râu hùm, hàm én, mày ngài/ Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao”, Nguyễn Du đã khắc họa một con người mang dáng dấp vũ trụ, khác hẳn người thường. Không chỉ ngoại hình, Từ Hải còn hiện lên với tài năng và chí khí lớn: “Đội trời đạp đất ở đời/ Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài”. Câu thơ gợi ra một con người làm chủ cuộc sống, tung hoành ngang dọc, dám sống vì chí lớn, khác hẳn số đông cam chịu. Trong mối nhân duyên với Thúy Kiều, Từ Hải còn là người trọng nghĩa tình, sẵn sàng dang tay nâng đỡ nàng, mở ra một tương lai mới cho Kiều sau chuỗi ngày tủi nhục. Cuộc gặp gỡ giữa Kiều và Từ Hải không chỉ là mối nhân duyên cá nhân mà còn mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Từ đây, Kiều có cơ hội thực hiện ước mơ công lý: báo ân, báo oán, đòi lại danh dự cho chính mình. Hình tượng Từ Hải vì thế còn tượng trưng cho khát vọng tự do, công bằng, cho ước mơ đổi đời của nhân dân thời phong kiến vốn chịu nhiều bất công, áp bức. Về nghệ thuật, đoạn trích thể hiện tài năng bậc thầy của Nguyễn Du trong khắc họa nhân vật. Bút pháp ước lệ tượng trưng kết hợp với lãng mạn và hiện thực làm nổi bật hình tượng Từ Hải vừa phi thường, lý tưởng, vừa gần gũi với khát vọng con người. Ngôn ngữ thơ trang trọng, cô đọng, nhịp thơ linh hoạt, hình ảnh giàu sức gợi góp phần khắc họa rõ nét vẻ đẹp anh hùng và khí phách của nhân vật.
Câu 2
lòng tốt chân thành luôn mang lại sức mạnh xoa dịu to lớn, tiếp thêm niềm tin và động lực cho người gặp khó khăn. Tuy nhiên, cuộc sống phức tạp và không phải lúc nào người nhận cũng trân trọng hoặc sử dụng lòng tốt đúng mục đích. Nếu lòng tốt đi kèm với sự dễ dãi, thiếu tỉnh táo, nó có thể biến thành sự bao che, khiến người được giúp đỡ ỷ lại, hoặc thậm chí tạo cơ hội cho kẻ xấu lợi dụng. Một ví dụ tiêu biểu là việc từ thiện mù quáng, cho tiền những người lười lao động, thay vì hỗ trợ công cụ, kiến thức, không chỉ không giải quyết được căn nguyên mà còn làm giảm đi giá trị cốt lõi của hành động nhân ái. Lòng tốt cần đi kèm với sự sắc sảo đòi hỏi chúng ta phải biết dừng lại đúng lúc, có giới hạn và nguyên tắc. Sự sắc sảo giúp phân biệt giữa người thực sự cần giúp đỡ và người lợi dụng lòng trắc ẩn của mình. Khi lòng tốt có sự sắc sảo, nó mang lại kết quả bền vững, chẳng hạn như trao cần câu thay vì trao con cá. Nếu tốt bụng mà không sắc sảo, lòng tốt ấy dễ trở thành con số không, vừa không đạt được mục đích cao đẹp, lại làm tổn thương chính người trao đi. Nên, hãy sống tử tế nhưng hãy là một người tử tế có trí tuệ. Đừng để lòng tốt trở nên "vô dụng" vì sự nhẹ dạ. Một cái đầu lạnh đi kèm trái tim ấm áp sẽ giúp lan tỏa giá trị đích thực, biến lòng tốt thành sức mạnh thay đổi cuộc đời, thay vì chỉ là sự xoa dịu nhất
Câu 1. Thể thơ: Lục bát. Câu 2. Hai nhân vật Từ Hải và Thúy Kiều gặp nhau ở lầu xanh.
Câu 3.
Dịu dàng, từ tốn; sử dụng điển cố, điển tích; vận dụng lối nói ẩn dụ, bóng gió để gởi gắm tâm tư, tình cảm của bản thân.
Câu 4. + Ngôn ngữ: Nhẹ nhàng, từ tốn, hào sảng, phóng khoáng. + Hành động: Tôn trọng Kiều (“thiếp danh đưa đến lầu hồng"), xem Kiều như người tri kỉ, cứu Kiều ra khỏi lầu xanh, cùng Kiều “Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng." => Hành động nhanh chóng, dứt khoát. Câu 5. Tình cảm/cảm xúc của bản thân: + Ngưỡng mộ đối với Từ Hải. + Trân trọng đối với Thúy Kiều. + Vui mừng với kết thúc viên mãn,...