Lý Thị Kim Lý
Giới thiệu về bản thân
Nhà thơ Tố Hữu từng viết: “Có gì đẹp trên đời hơn thế / Người với người sống để yêu nhau”. Có lẽ vì mang tấm lòng yêu thương con người sâu sắc nên trong đoạn trích từ Văn tế thập loại chúng sinh, Nguyễn Du đã dành nhiều niềm thương cảm cho những số phận bất hạnh trong xã hội cũ. Qua hình ảnh người lính chết nơi chiến trận, người phụ nữ phải “buôn nguyệt bán hoa” hay kẻ hành khất chết bên đường, tác giả đã tái hiện một hiện thực đầy đau xót và bất công. Đặc biệt, câu thơ “Đau đớn thay phận đàn bà” như một tiếng than cất lên từ trái tim nhân đạo của Nguyễn Du trước những kiếp người nhỏ bé, khổ đau. Không chỉ đặc sắc về nội dung, đoạn trích còn gây ấn tượng bởi nghệ thuật giàu sức biểu cảm. Phép liệt kê được sử dụng liên tiếp giúp khắc họa nhiều cảnh đời bất hạnh, còn những hình ảnh như “mạng người như rác”, “chết vùi đường quan” khiến nỗi đau con người hiện lên đầy ám ảnh. Giọng thơ bi thương kết hợp với câu hỏi tu từ càng làm tăng sức lay động cho đoạn thơ. Qua đó, người đọc cảm nhận rõ tấm lòng nhân đạo bao la của Nguyễn Du và thêm biết yêu thương, trân trọng con người hơn trong cuộc sống hôm nay.
Trong văn học Việt Nam, hình ảnh người phụ nữ chờ chồng luôn để lại nhiều ám ảnh trong lòng người đọc. Nhà thơ Xuân Quỳnh từng viết:“Nơi nào em cũng nghĩ /Hướng về anh — một phương."Có lẽ bởi vậy mà khi đọc bài thơ Trò chuyện với nàng Vọng Phu của Vương Trọng, em càng cảm nhận rõ vẻ đẹp của nàng Vọng Phu — người phụ nữ mang trong mình tình yêu thủy chung và nỗi chờ đợi khắc khoải. Nàng hiện lên cô đơn giữa “mưa, trong gió”, lặng lẽ đợi người chồng đã ra đi nơi chiến trận. Dù thời gian trôi qua hàng nghìn năm, nàng vẫn không từ bỏ niềm tin vào ngày đoàn tụ. Đặc biệt, câu thơ: “Người đời biết thân ta hoá đá / Nhưng hay đâu ta hoá đá niềm tin” đã làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn của nàng. Nàng hóa đá không chỉ vì đau khổ mà còn vì tình yêu quá sâu nặng và niềm tin không bao giờ tắt. Hình tượng ấy khiến em nhớ đến người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm, cũng sống trong nỗi nhớ và sự chờ mong mỏi mòn giữa chiến tranh. Qua hình tượng nàng Vọng Phu, tác giả không chỉ ca ngợi phẩm chất thủy chung của người phụ nữ Việt Nam mà còn lên án chiến tranh đã gây ra biết bao cảnh chia ly đau đớn. Bài thơ giúp em thêm trân trọng hòa bình, hạnh phúc và những người luôn yêu thương, đợi chờ mình trong cuộc sống.
Trong cuộc sống, có những vẻ đẹp tuy giản dị nhưng lại khiến con người nhớ mãi và tiếc nuối khi dần mất đi. Đọc bài thơ Chân quê của Nguyễn Bính, người đọc cảm nhận rõ điều đó qua nhân vật “em” – một cô gái quê mộc mạc nhưng đã có phần đổi khác sau chuyến “đi tỉnh về”. Trước đây, “em” gắn với những hình ảnh quen thuộc như yếm lụa sồi, áo tứ thân, khăn mỏ quạ – những nét đẹp bình dị của người con gái thôn quê Việt Nam. Nhưng sau khi đi tỉnh, cô gái ấy lại xuất hiện với “khăn nhung, quần lĩnh”, “áo cài khuy bấm” đầy vẻ thị thành. Sự thay đổi ấy khiến nhân vật “tôi” không trách móc mà chỉ thấy tiếc nuối vì “hương đồng gió nội bay đi ít nhiều”. Câu thơ nghe nhẹ nhàng nhưng gợi nỗi buồn sâu sắc trước việc con người dần đánh mất nét đẹp chân chất của mình. Điều này khiến ta nhớ đến lời nhắc nhở của Xuân Diệu trong bài Vội vàng: “Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua”, bởi những điều đẹp đẽ thường rất dễ phai nhạt theo thời gian. Qua nhân vật “em”, Nguyễn Bính muốn nhắn nhủ rằng mỗi người cần biết trân trọng và giữ gìn những vẻ đẹp giản dị, tự nhiên cùng những giá trị truyền thống của quê hương mình.
Câu 1.
Thể loại của văn bản Kim tiền: bi kịch.
Câu 2.
Theo ông Cự Lợi, ông Trần Thiết Chung thất bại trong sự nghiệp và các dự đinh của mình vì khinh rẻ đồng tiền, cố chấp và không chịu kiếm tiền.
Câu 3
Cự Lợi dùng hình ảnh "phân, bẩn, rác" để chứng minh rằng tiền tuy bị coi là dơ bẩn, thấp hèn nhưng nếu biết sử dụng đúng cách thì vẫn có thể tạo ra nhiều điều tốt đẹp, hữu ích cho đời.
Qua hình ảnh trên, Cự Lợi muốn thuyết phục Trần Thiết Chung thay đổi cách nhìn tiêu cực về tiền bạc.
Câu 4
Kết thúc cuộc trò chuyện, hai nhân vật đều giữ vững quan điểm riêng, không chấp nhận nhượng bộ, do đó mâu thuẫn giữa họ càng trở nên sâu sắc và không thể dung hoà.
Đoạn kết này làm nổi bật sự mâu thuẫn giữa hai cách sống: coi trọng đạo đức và chạy theo tiền bạc. Qua đó, tác giả đặt ra vấn đề lựa chọn giữa nhân cách và vật chất trong cuộc sống. Đồng thời, nó cũng gợi cho người đọc suy nghĩ về việc giữ gìn lí tưởng, đạo đức trong xã hội thực dụng.
Câu 5
Em không hoàn toàn đồng ý với quan điểm của ông Trần Thiết Chung. Bởi nếu không có ham muốn, con người sẽ thiếu động lực để phấn đấu và phát triển. Chính những khát vọng chính đáng giúp ta vươn lên, đạt được thành công và cải thiện cuộc sống. Vấn đề không nằm ở việc có ham muốn hay không, mà là biết kiểm soát chúng ở mức hợp lí. Khi dục vọng được định hướng đúng, nó không gây hệ lụy mà còn trở thành động lực tích cực cho con người.
Câu 1
Bài thơ “Những giọt lệ” là một tác phẩm tiêu biểu thể hiện nỗi đau chia li trong tình yêu đầy bi thương và ám ảnh. Tác giả Hàn Mặc Tử là nhà thơ nổi bật của phong trào Thơ mới, thơ ông thường mang sắc thái mãnh liệt, dữ dội và thấm đẫm nỗi đau về tình yêu cũng như cuộc đời. Trong bài thơ này, khi người yêu rời xa, cái tôi trữ tình rơi vào trạng thái tuyệt vọng, cảm thấy “một nửa hồn tôi mất” – một hình ảnh ẩn dụ cho sự mất mát lớn lao, như thể bản thân không còn nguyên vẹn. Hình ảnh “bông phượng nở trong màu huyết” càng làm nổi bật nỗi đau cháy bỏng, quặn thắt, gợi cảm giác đau đớn đến tột cùng. Nếu trong “Đây thôn Vĩ Dạ”, nỗi buồn của Hàn Mặc Tử còn phảng phất nét dịu dàng, mơ hồ thì ở bài thơ này, cảm xúc đã chuyển sang sắc thái dữ dội và bi kịch hơn. Về nghệ thuật, tác phẩm sử dụng thành công các biện pháp như câu hỏi tu từ, ẩn dụ, phóng đại và những hình ảnh giàu sức gợi, góp phần khắc sâu tâm trạng cô đơn, hoang mang của nhân vật trữ tình. Qua đó, bài thơ để lại ấn tượng sâu sắc về một tâm hồn yêu tha thiết nhưng đầy đau khổ, thể hiện rõ phong cách riêng độc đáo của Hàn Mặc Tử.
Câu 2
“Vinh quang lớn nhất của đời người không phải là không bao giờ thất bại, mà là vươn lên mỗi khi thất bại.” Câu nói của Khổng Tử đã cho thấy thất bại không đáng sợ, điều quan trọng là cách con người đứng dậy sau những lần vấp ngã. Trong cuộc sống, ai cũng sẽ có lúc gặp khó khăn, thử thách. Muốn vượt qua những điều đó, mỗi người cần có ý chí và nghị lực. Chính ý chí và nghị lực sẽ giúp ta không bỏ cuộc, tiếp tục cố gắng để đạt được mục tiêu của mình.
Trước hết, ý chí và nghị lực có thể hiểu là khả năng tự chủ, kiên định với mục tiêu đã chọn, không chùn bước trước khó khăn, thất bại. Đó là sức mạnh tinh thần giúp con người đứng vững khi bị thử thách vài dập, là động lực để ta tiếp tục bước đi dù con đường phía trước đầy gập ghềnh.
Trong cuộc sống, không ai có thể tránh khỏi những lúc vấp ngã; điều quan trọng không phải là ta ngã bao nhiêu lần, mà là sau mỗi lần ngã, ta có đủ ý chí để đứng dậy hay không.
Ý chí, nghị lực chính là điều kiện tiên quyết để con người vượt qua nghịch cảnh và khẳng định bản thân. Lịch sử và đời sống đã chứng minh rằng, những con người vĩ đại không phải vì họ chưa từng thất bại, mà vì họ chưa từng đầu hàng. Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tự kính yêu của dân tộc - đã bôn ba suốt ba mươi năm tìm đường cứu nước, trải qua muôn vàn gian khổ, đói nghèo, bệnh tật. Chính ý chí sắt đá và nghị lực phi thường đã giúp Người vượt lên tất cả để đưa dân tộc Việt Nam đển độc lập, tự do.Trong đời sống hiện đại,Khang A Tủa là tấm gương tiêu biểu về ý chí và nghị lực vươn lên. Sinh ra trong hoàn cảnh khó khăn ở vùng núi Mù Cang Chải, anh vẫn kiên trì học tập và không ngừng cố gắng. Nhờ quyết tâm và bản lĩnh, anh đã vượt qua giới hạn của hoàn cảnh để chạm tới những môi trường học tập danh giá. Câu chuyện của anh cho thấy ý chí chính là chìa khóa mở ra thành công.
Thế nhưng, trong xã hội hiện đại đầy đủ tiện nghi, một bộ phận giới trẻ lại rơi vào trạng thái “ngại lớn”, sợ thất bại và thiếu kiên trì. Không ít người quen với sự bảo bọc của gia đình, chỉ cần gặp khó khăn nhỏ đã vội buông xuôi hoặc chọn cách an toàn thay vì dám thử thách bản thân. Thậm chí, có người mải mê chạy theo sự nổi tiếng nhanh chóng, thành công tức thời mà quên rằng mọi giá trị bền vững đều phải đánh đổi bằng nỗ lực lâu dài. Chính tâm lý sợ khổ, sợ sai ấy mới là rào cản lớn nhất ngăn con người phát triển, chứ không phải hoàn cảnh khó khăn.Vì vậy, mỗi người chúng ta, nhất là những người trẻ cần nhận thức rõ vai trò của ý chí và nghị lực trong cuộc sống. Cần rèn luyện bản thân từ những việc nhỏ như chăm chỉ học tập, kiên trì theo đuổi mục tiêu và không bỏ cuộc trước khó khăn. Xã hội cũng cần tạo điều kiện, môi trường tích cực để ta phát huy khả năng, nuôi dưỡng ước mơ và khát vọng cống hiến. Khi bản thân có bản lĩnh và ý chí vững vàng, đất nước sẽ ngày càng phát triển bền vững hơn.
Nhà văn M. Gorky từng khẳng định: "Nơi nào có ý chí, nơi đó có con đường." Cuộc sống có thể không công bằng, nhưng ý chí và nghị lực sẽ giúp con người đi đến tận cùng của ước mơ. Khi con người tin vào bản thân và không ngừng nỗ lực, không khó khăn nào là không thể vượt qua, không giới hạn nào là không thể chinh phục.
Câu 1
Phương thức biểu đạt: Biểu cảm, miêu tả, tự sự.
Câu 2
Đề tài của bài thơ là: Nỗi đau chia ly trong tình yêu đến tuyệt vọng.
Câu 3
Hình ảnh mang tính biểu tượng là:"bông phượng nở trong màu huyết"
Hình ảnh trên không chỉ tả màu đỏ của hoa phượng mà còn gợi cảm giác đau đớn như máu đang chảy trong tim, từ đó làm nổi bật nỗi đau tình yêu cháy bỏng, quặn thắt, đầy ám ảnh của cái tôi trữ tình.
Câu 4
Biện pháp tu từ: ẩn dụ (trời sâu)
Tác dụng: Biện pháp tư từ ẩn dụ vừa giúp tăng sức gợi hình, gợi cảm làm cho câu thơ sinh động và giàu tính nghệ thuật vừa nhấn mạnh tâm trạng hoang mang, đau đớn, cảm giác cô đơn lạc lõng giữa cuộc đời. Qua đó, ta cảm nhận được tâm trạng buồn đau sâu sắc và nhiều trăn trở của tác giả.
Câu 5
Cấu tứ của bài thơ này là sự vận động của mạch cảm xúc từ nỗi đau khi người yêu rời xa đến trạng thái tuyệt vọng, hoang mang của cái tôi trữ tình. Hình tượng trung tâm là nhân vật “tôi” với tâm trạng tan vỡ trong chia li. Các hình ảnh được sắp xếp theo trình tự tăng dần: ban đầu là cảm giác mất mát “một nửa hồn tôi mất”, tiếp đó là nỗi đau dữ dội qua hình ảnh “màu huyết”, và cuối cùng là những câu hỏi tu từ thể hiện sự lạc lõng, mất phương hướng. Sự phát triển ấy làm cho cảm xúc ngày càng sâu sắc và bi thương hơn. Qua cách xây dựng như vậy, tác giả đã thể hiện bi kịch của tình yêu tan vỡ và nỗi cô đơn đến tận cùng của con người.