Nguyễn Chung Kiên
Giới thiệu về bản thân
câu 1
Trong cuộc sống hiện đại, lối sống chủ động có vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi con người, đặc biệt là với thế hệ trẻ. Sống chủ động là biết tự đặt mục tiêu, tự giác học tập, rèn luyện và không thụ động chờ đợi người khác quyết định thay mình. Khi sống chủ động, ta biết nắm bắt cơ hội, dám thử thách, dám thay đổi để hoàn thiện bản thân. Lối sống ấy giúp con người tự tin hơn, bản lĩnh hơn trước khó khăn và thất bại. Trong học tập, người chủ động sẽ biết sắp xếp thời gian hợp lý, tìm tòi kiến thức mới, từ đó nâng cao kết quả và năng lực của mình. Trong cuộc sống, chủ động giúp ta thích nghi nhanh với sự thay đổi, không ỷ lại, không buông xuôi số phận. Ngược lại, lối sống thụ động dễ khiến con người trì trệ, mất phương hướng và bỏ lỡ nhiều cơ hội quý giá. Vì vậy, mỗi chúng ta cần rèn luyện cho mình lối sống chủ động để làm chủ cuộc đời, xây dựng tương lai tốt đẹp và trở thành người có ích cho xã hội
câu 2
Đoạn thơ vẽ nên một bức tranh mùa hè rực rỡ, tràn đầy sức sống của làng quê Việt Nam. Những hình ảnh “hòe lục đùn đùn”, “thạch lựu hiên còn phun thức đỏ”, “hồng liên trì đã tịn mùi hương” cho thấy thiên nhiên không chỉ có màu sắc tươi tắn mà còn ngập tràn hương thơm, âm thanh và sức sống. Các động từ “đùn đùn”, “phun”, “tịn” làm cảnh vật hiện lên sinh động, gợi cảm giác căng tràn, vận động không ngừng. Bên cạnh bức tranh thiên nhiên là bức tranh đời sống con người “lao xao chợ cá làng ngư phủ”, “dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”, thể hiện nhịp sống đông vui, ấm no. Đặc biệt, câu thơ “Dân giàu đủ khắp đòi phương” đã bộc lộ rõ tấm lòng yêu nước, thương dân sâu sắc của Nguyễn Trãi. Qua đoạn thơ, ta cảm nhận được một tâm hồn yêu thiên nhiên, gắn bó với cuộc sống và luôn đau đáu khát vọng về một đất nước thanh bình, nhân dân ấm no, hạnh phúc.
Câu 1.
Văn bản được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.
Câu 2.
Những hình ảnh thể hiện nếp sống hằng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả: “một mai, một cuốc, một cần câu” (lao động giản dị), “thu ăn măng trúc, đông ăn giá”, “xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”, “rượu đến cội cây, ta sẽ uống”. → Cuộc sống thanh nhàn, hòa hợp với thiên nhiên, ít ham muốn vật chất.
Câu 3.
Biện pháp tu từ chính: liệt kê (mai, cuốc, cần câu).
Tác dụng: khắc họa rõ nét cuộc sống lao động đơn sơ, tự tại; nhấn mạnh sự đầy đủ trong cái giản dị, thể hiện niềm vui thanh thản, thái độ sống an nhiên của tác giả trước cuộc đời.
Câu 4.
Quan niệm “dại – khôn” của tác giả rất đặc biệt: cái “dại” (tìm nơi vắng vẻ) thực chất là khôn – biết tránh xa danh lợi, giữ sự trong sạch; còn cái “khôn” (đến chốn lao xao) lại hóa dại – vì lao vào vòng danh lợi, bon chen. → Đó là triết lí sống tỉnh táo, sâu sắc.
Câu 5. (Đoạn văn 5–7 dòng)
Qua bài thơ, em cảm nhận Nguyễn Bỉnh Khiêm là con người có nhân cách đẹp, thanh cao và trí tuệ. Ông chọn lối sống giản dị, hòa hợp với thiên nhiên, tìm niềm vui trong lao động và sinh hoạt đời thường. Trước danh lợi ồn ào, ông giữ thái độ tỉnh táo, coi phú quý chỉ như “giấc chiêm bao”. Ở Nguyễn Bỉnh Khiêm toát lên vẻ đẹp của một trí thức ẩn dật nhưng không lánh đời, sống an nhiên mà sâu sắc. Nhân cách ấy khiến em kính trọng và ngưỡng mộ.“