Đặng Anh Tuấn

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Đặng Anh Tuấn
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)
a. Các đối tác chiến lược toàn diện của Việt Nam 

Các đối tác chiến lược toàn diện của Việt Nam hiện nay tính đến tháng 1/2026 bao gồm 15 đối tác: Trung Quốc, Liên bang Nga, Ấn Độ, Hàn Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Úc, Pháp, Malaysia, New Zealand, Indonesia, Singapore, Thái Lan, Vương quốc Anh và Liên minh châu Âu (EU)

b. Nét chính về hoạt động đối ngoại của Việt Nam 

 Hoạt động đối ngoại của Việt Nam thể hiện sự tích cực, chủ động hội nhập khu vực và thế giới thông qua các nét chính sau:

Chủ động hội nhập quốc tế toàn diện: Tham gia sâu rộng vào các tổ chức khu vực và quốc tế (ASEAN, Liên Hợp Quốc, WTO, APEC...). 

Thúc đẩy quan hệ song phương: Nâng cấp quan hệ với nhiều đối tác quan trọng lên mức đối tác chiến lược toàn diện, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế và an ninh quốc gia. 

Tham gia giải quyết các vấn đề chung: Tích cực đóng góp vào việc duy trì hòa bình, ổn định khu vực và thế giới, tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc. 

Thúc đẩy kinh tế đối ngoại: Ký kết và thực hiện nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, mở rộng thị trường xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài. 

a. Khái quát hành trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành (1911 - 1917) Trong giai đoạn này, Nguyễn Tất Thành đã đi qua nhiều châu lục, vừa lao động để kiếm sống, vừa quan sát và tìm hiểu thực tiễn thế giới: Ngày 5/6/1911: Từ bến cảng Nhà Rồng (Sài Gòn), Nguyễn Tất Thành lấy tên là Văn Ba, lên con tàu Đô đốc Latouche-Tréville ra đi tìm đường cứu nước.Giai đoạn 1911 - 1913: Người đi qua nhiều nước ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ và châu Âu. Việc tiếp xúc với nhiều dân tộc bị áp bức và các nước tư bản giúp Người nhận ra rằng: "Ở đâu bọn thực dân cũng tàn bạo, ở đâu người nghèo cũng bị áp bức".Năm 1914: Người sang nước Anh, tham gia Hội Lao động hải ngoại và học tiếng Anh. Tại đây, Người vẫn luôn theo dõi sát sao tình hình trong nước và thế giới (Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ).Cuối năm 1917: Người từ Anh trở lại Pháp, tham gia vào các hoạt động của phong trào công nhân Pháp và Hội những người Việt Nam yêu nước tại Pháp. Đây là bước ngoặt quan trọng chuẩn bị cho những chuyển biến về tư tưởng sau này. b. Lựa chọn con đường cách mạng vô sản và nội dung cơ bản Vì sao Nguyễn Ái Quốc lựa chọn con đường cách mạng vô sản? Sau nhiều năm bôn ba, Người đã rút ra những kết luận quan trọng để đi đến quyết định này:
  1. Sự thất bại của các con đường trước đó:Người nhận thấy các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến (Cần vương) hay dân chủ tư sản (Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh) đều không thành công.
  2. Ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga (1917): Đây là cuộc cách mạng triệt để nhất, giải phóng được những người lao động nghèo khổ.
  3. Đọc Sơ thảo Luận cương của Lênin (1920): Khi đọc bản luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa, Người đã tìm thấy lời giải cho việc giải phóng dân tộc Việt Nam. Người khẳng định: "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản".
Nội dung cơ bản của con đường cứu nước do Nguyễn Ái Quốc xác định:
  • Mục tiêu: Giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng con người; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
  • Lực lượng: Là khối liên minh công - nông, đồng thời đoàn kết các tầng lớp yêu nước khác.
  • Lãnh đạo: Cách mạng phải có một đảng của giai cấp công nhân (Đảng Cộng sản) lãnh đạo theo học thuyết Mác - Lênin.
  • Mối quan hệ quốc tế: Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, cần có sự đoàn kết với giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức trên toàn cầu.

Câu 1: ngôi kể trong văn bản ngôi kể thứ ba

Câu 2 ;

Quê hương của Lê gắn với sông Lam

Quê hương của Sơn gắn với sông Hồng

Câu 3: Biện pháp tu từ so sánh “Đại đội pháo của họ như một gốc cây đã lớn, nhựa cây ứ đầy tỏa ra thành hai nhánh” hình ảnh được nói lên với sự sinh động về sự chia tách của đơn vị pháo binh. với sự gắn bó, : dù chia hai hướng chiến đấu nhưng cùng chung cội nguồn, Và chung một lý tưởng.Làm nổi bật tình đồng đội sâu nặng, và sự trưởng thành của người lính trong chiến tranh.

Câu 4: “Họ chia nhau tấm giát nằm, vài tấm áo sặc mùi thuốc đạn và chia nhau bầu trời Tổ quốc trên đầu” Khắc họa tình đồng chí, đồng đội gắn bó, sẻ chia gian khổ được nói lên với lý tưởng chung: cùng chung bầu trời Tổ quốc, đều là nhiệm vụ bảo vệ đất nước, làm nổi bật chủ đề tình người trong chiến tranh, vừa khốc liệt vừa giàu tình đồng đội của cắc chiến sỹ

Câu 5: hai ngữ liệu có sự tuông đồng về .Đều khẳng định sự gắn bó sâu nặng giữa con người và nơi đã đi qua khi rời xa, đất không chỉ là những nơi đã đi qua mà đã hoà vào tâm hồn của mỗi người cùng với những ký ức, tình cảm của mỗi con người để lại cho họ những khí ức không thể nào quyên được