La Thị Thanh Nga
Giới thiệu về bản thân
Trong dòng chảy của văn học hiện thực trước Cách mạng tháng Tám, Nam Cao nổi lên như một cây bút nhân đạo sâu sắc khi viết về người nông dân. Trong số đó, truyện ngắn "Lão Hạc" là tác phẩm đã để lại trong lòng em nhiều dư ba và niềm xúc động nghẹn ngào nhất về số phận và phẩm giá con người.
Trước hết, Lão Hạc hiện lên là một người nông dân có số phận vô cùng bất hạnh và đau khổ. Vợ mất sớm, đứa con trai duy nhất vì nghèo không cưới được vợ nên đã bỏ đi làm phu đồn điền cao su. Lão sống thui thủi một mình, bầu bạn với "cậu Vàng" – kỷ vật mà con trai để lại. Nỗi đau ấy càng nhân lên khi cái nghèo, cái đói dồn đẩy lão vào đường cùng. Sau trận ốm kéo dài và bão phá sạch hoa màu, lão rơi vào cảnh túng quẫn, phải đưa ra quyết định đau đớn nhất: bán chó. Chi tiết lão Hạc kể về việc lừa bán cậu Vàng với gương mặt "co rúm lại", "nước mắt chảy ra" cho thấy một tâm hồn đầy nhạy cảm và giàu tình yêu thương. Lão đau đớn không chỉ vì mất đi một người bạn, mà còn vì cảm thấy mình là một kẻ "đánh lừa một con chó".
Tuy nhiên, điều làm nên giá trị bất hủ của tác phẩm chính là vẻ đẹp phẩm giá sáng ngời của lão Hạc. Dù trong hoàn cảnh bần cùng, lão vẫn giữ vững lòng tự trọng và tình yêu thương con vô bờ bến. Lão thà nhịn ăn, nhịn mặc, thậm chí là tìm đến cái chết chứ quyết không đụng vào mảnh vườn – tài sản duy nhất dành cho con trai. Lão từ chối mọi sự giúp đỡ của ông Giáo vì sợ làm phiền người khác. Cái chết bằng bả chó của lão Hạc là một cái chết dữ dội, đau đớn nhưng đầy cao thượng. Lão chọn cách chết ấy để bảo toàn lòng tự trọng và để giữ trọn vẹn mảnh đất cho con. Đó là một sự hy sinh thầm lặng nhưng vĩ đại của người cha dành cho con mình.
Thông qua nhân vật ông Giáo – người chứng kiến và kể lại câu chuyện, Nam Cao đã gửi gắm những suy ngẫm sâu sắc về cuộc đời. Ông Giáo chính là hình ảnh của tầng lớp trí thức nghèo, luôn nhìn đời bằng ánh mắt cảm thông và trân trọng.Qua lời ông Giáo, chúng ta hiểu rằng đằng sau cái vẻ ngoài gàn dở, lẩm cẩm của người nông dân là một tâm hồn trong sạch và cao quý.
Tóm lại, với nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật bậc thầy và ngôn ngữ giản dị, giàu sức biểu cảm, Nam Cao đã xây dựng thành công hình tượng lão Hạc – biểu tượng cho vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân Việt Nam trước cách mạng. Đọc "Lão Hạc", em không chỉ thương xót cho một kiếp người lầm than mà còn thêm trân trọng những giá trị nhân văn cao cả, nhắc nhở chúng ta phải luôn biết yêu thương và thấu hiểu con người quanh mình.
Đoạn thơ trên của nhà thơ Thanh Thảo đã để lại trong em những xúc cảm sâu sắc về lý tưởng sống của thế hệ trẻ thời kháng chiến chống Mỹ. Tác giả sử dụng cách nói đầy chân thực: "Những tuổi hai mươi làm sao không tiếc", bởi đó là lứa tuổi đẹp nhất của đời người với bao ước mơ và hoài bão. Thế nhưng, đứng trước vận mệnh của dân tộc, họ đã sẵn sàng gạt bỏ cái "tôi" cá nhân để hướng tới cái "ta" chung của đất nước. Câu hỏi tu từ ở cuối đoạn thơ như một lời khẳng định đanh thép về tinh thần trách nhiệm và lòng yêu nước nồng nàn: nếu ai cũng ích kỷ giữ riêng cho mình, thì ai sẽ là người bảo vệ Tổ quốc? Những dòng thơ ấy không chỉ ca ngợi sự hy sinh cao cả của cha ông đi trước mà còn nhắc nhở thế hệ học sinh chúng em hôm nay phải biết trân trọng nền hòa bình và sống có ích hơn cho xã hội.
Thành phần biệt lập: Phụ chú.
Dấu hiệu nhận biết: Cụm từ nằm trong dấu ngoặc đơn: (Những tuổi hai mươi làm sao không tiếc).
Tác dụng:
+)Bổ sung thông tin, bày tỏ tâm trạng và cảm xúc thực của người viết (sự tiếc nuối tuổi trẻ là tâm lý tự nhiên của con người).
+)Làm nổi bật sự hy sinh cao cả của thế hệ trẻ: Dù biết trân trọng tuổi xuân nhưng họ vẫn sẵn sàng lên đường vì nghĩa lớn của Tổ quốc.
Tổng số thẻ trong hộp: 20. Số thẻ mang số 3: 6.
Xác suất rút được thẻ số 3 là:
P= 6/20 = 3/10
Vậy xác xuất cần tìm là 3/10
Gọi vận tốc riêng của ca nô là x (km/h), (x>3). Vận tốc dòng nước là 3 km/h.
Vận tốc ca nô khi xuôi dòng là x+3 (km/h). Thời gian đi xuôi là 1 giờ 30 phút =1,5 giờ. Quãng đường AB: (x+3)×1,5.
Vận tốc ca nô khi ngược dòng là x−3 (km/h). Thời gian đi ngược là 2 giờ. Quãng đường AB: (x−3)⋅2.
Vì quãng đường không đổi nên: (x+3)⋅1,5=(x−3)⋅2
Giải phương trình: 1,5x+4,5=2x−6 4,5+6=2x−1,5x 10,5=0,5x x=21
Quãng đường AB: (21+3)⋅1,5=36 (km)
Vậy vận tốc riêng của ca nô là \(21\) km/h.
Quãng sông \(A B\) dài \(36\) km.
a) 3x−4=5+x
3x−x=5+4
2x=9 x= 9/2
Vậy S ={9/2}
b) 3(x−1)−7=5(x+2) 3x−3−7=5x+10
3x−10=5x+10
3x−5x=10+10
−2x=20 x=−10
Vậy S ={-10}