35 Nguyễn Anh Thư

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của 35 Nguyễn Anh Thư
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:

Đoạn trích trong truyện thơ Thạch Sanh là một đoạn đặc sắc, thể hiện tập trung tư tưởng nhân đạo và giá trị nghệ thuật tiêu biểu của văn học dân gian Việt Nam. Trước hết, về nội dung, đoạn trích làm nổi bật bi kịch oan khuất của Thạch Sanh – người anh hùng hiền lành, chất phác nhưng liên tiếp bị kẻ xấu hãm hại. Bị Chằn tinh và Đại bàng vu oan, lại thêm sự tiếp tay của Lý Thông tham lam, độc ác, Thạch Sanh phải chịu cảnh tù tội, đứng trước án tử hình dù hoàn toàn vô tội. Chi tiết “bạc vàng châu báu” bị giấu trong lều Thạch Sanh là minh chứng rõ ràng cho âm mưu thâm độc, qua đó tố cáo bản chất xấu xa, ích kỉ của Lý Thông. Đặc biệt, hình ảnh tiếng đàn của Thạch Sanh mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Tiếng đàn không chỉ là tiếng nói của nỗi oan khuất, đau khổ mà còn là tiếng gọi của công lý và lương tri, có sức lay động mạnh mẽ đến tâm hồn con người. Nhờ tiếng đàn ấy, công chúa tỉnh lại, nhớ về ân nhân đã cứu mình và quyết tâm nói lên sự thật, giúp sự thật được sáng tỏ. Qua đó, nhân dân gửi gắm niềm tin vào quy luật “ở hiền gặp lành”, cái thiện dù bị vùi dập vẫn sẽ được minh oan và chiến thắng. Về nghệ thuật, đoạn trích được viết bằng thể thơ lục bát truyền thống, nhịp điệu mềm mại, giàu tính nhạc, rất phù hợp với việc diễn tả tâm trạng bi ai, uất ức của nhân vật. Ngôn ngữ giản dị, đậm màu sắc dân gian giúp câu chuyện gần gũi, dễ đi vào lòng người. Các biện pháp tu từ như điệp từ (“chợt… chợt…”, “nửa lòng… nửa lòng”), hình ảnh gợi cảm và lối kể chuyện tự nhiên đã khắc họa sinh động diễn biến tâm lí của công chúa và nỗi đau của Thạch Sanh. Kết thúc đoạn trích, việc Lý Thông bị sét đánh thể hiện quan niệm nhân dân về luật nhân quả, khẳng định công lí tất thắng. Nhờ sự kết hợp hài hòa giữa nội dung nhân văn sâu sắc và nghệ thuật kể chuyện đặc sắc, đoạn trích đã để lại ấn tượng mạnh mẽ trong lòng người đọc.

Câu 2:

Trong nhịp sống hiện đại đầy biến động, khi công nghệ phát triển từng ngày và con người không ngừng chạy đua với thời gian, “nhanh” dường như đã trở thành một tiêu chuẩn sống. Người ta ăn nhanh, học nhanh, làm việc nhanh và thậm chí yêu cũng vội. Giữa guồng quay hối hả ấy, con người dễ đánh mất sự bình tĩnh, sự thấu hiểu bản thân và cả những giá trị tinh thần vốn rất cần cho một đời sống bền vững. Chính trong bối cảnh đó, sống chậm không phải là một lựa chọn lạc lõng, mà là một cách sống tỉnh táo và nhân văn, giúp con người tìm lại ý nghĩa đích thực của cuộc đời.

Vậy sống chậm là gì? Sống chậm là biết chủ động điều chỉnh nhịp sống của mình, không để bản thân bị cuốn theo tốc độ chung của xã hội một cách mù quáng. Đó là cách sống biết dừng lại đúng lúc để suy ngẫm, cảm nhận và trân trọng những điều tưởng chừng rất nhỏ bé như một bữa cơm gia đình, một cuộc trò chuyện chân thành hay một khoảnh khắc yên tĩnh hiếm hoi. Sống chậm không đồng nghĩa với lười biếng hay chậm tiến, mà là sống có ý thức, biết cân bằng giữa lao động và nghỉ ngơi, giữa theo đuổi thành công và nuôi dưỡng đời sống tinh thần. Khi sống chậm, con người không chạy theo số lượng mà hướng tới chất lượng, không sống hời hợt mà sống có chiều sâu.

Trong xã hội hiện đại, áp lực từ học tập, công việc, tiền bạc và danh vọng khiến con người luôn ở trong trạng thái căng thẳng và mệt mỏi. Nếu cứ mãi sống nhanh, ta dễ rơi vào vòng xoáy của stress, kiệt sức và mất phương hướng. Nhiều người đạt được thành công sớm nhưng lại đánh đổi bằng sức khỏe, cảm xúc và các mối quan hệ thân thiết. Khi không còn thời gian lắng nghe chính mình, con người trở nên xa lạ với chính bản thân và dần đánh mất sự đồng cảm với người khác. Sống chậm giúp ta có cơ hội nhìn lại, nhận ra điều gì thực sự quan trọng để điều chỉnh hướng đi cho phù hợp. Nhờ đó, con người biết yêu thương bản thân đúng cách và xây dựng những mối quan hệ bền vững hơn.

Hơn thế nữa, sống chậm giúp con người mở rộng khả năng cảm nhận và sẻ chia. Khi bước chậm lại, ta mới đủ bình tĩnh để quan sát vẻ đẹp của thiên nhiên, lắng nghe câu chuyện của người khác và thấu hiểu những nỗi niềm xung quanh. Những khoảnh khắc tưởng như bình thường ấy lại chính là nền tảng nuôi dưỡng tâm hồn và nhân cách con người. Thực tế cho thấy, nhiều người trẻ ngày nay đã lựa chọn “detox mạng xã hội”, hạn chế sử dụng điện thoại để dành thời gian đọc sách, tập thể thao, thiền định hoặc đơn giản là ở một mình trong yên tĩnh. Đây là cách họ sống chậm để tái tạo năng lượng tinh thần và tìm lại sự cân bằng trong cuộc sống. Bên cạnh đó, các triết lí sống như “thiền” của người Nhật hay “hygge” của người Đan Mạch đều hướng con người đến lối sống giản dị, chậm rãi và biết tận hưởng từng khoảnh khắc nhỏ bé nhưng ý nghĩa.

Tuy nhiên, cần nhìn nhận một cách đúng đắn rằng sống chậm không có nghĩa là dừng lại hay buông xuôi. Nếu hiểu sai, con người dễ rơi vào trạng thái trì trệ, thiếu ý chí phấn đấu và bỏ lỡ những cơ hội quý giá. Trong xã hội cạnh tranh khốc liệt, sống chậm càng đòi hỏi bản lĩnh và sự chủ động: chậm để suy nghĩ kĩ hơn, để hành động đúng đắn và hiệu quả hơn, chứ không phải chậm lại để tụt hậu. Vì thế, điều quan trọng là biết kết hợp giữa sống chậm và sống tích cực, giữa sự tĩnh lặng bên trong và nỗ lực không ngừng trong hành động.

Giữa guồng quay gấp gáp của xã hội hiện đại, sống chậm chính là cách để con người giữ gìn sự bình yên trong tâm hồn và sống thật với chính mình. Khi biết bước chậm lại, ta sẽ học được cách trân trọng từng phút giây, từng mối quan hệ và từng trải nghiệm của cuộc sống. Sống chậm không làm con người yếu đi, mà giúp ta mạnh mẽ hơn từ bên trong, để mỗi ngày trôi qua không vô nghĩa và để hành trình sống trở nên sâu sắc, nhân văn hơn.

Câu 1: Thể thơ: Lục bát

Câu 2: Phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản: tự sự

Câu 3: Tóm tắt văn bản:

Hồn oan chằn tinh và đại bàng gặp nhau vì bị Thạch Sanh đánh bại nên đem lòng thù hận liền rủ nhau vào cung lấy trộm rồi đổ lên đầu Thạch Sanh. Lý Thông được chủ tọa án hình của Thạch Sanh liền ra lệnh giam Thạch Sanh vào ngục chờ ngày xử tử. Thạch Sanh oan uổng không nơi giãy bày liền đàn một bài và đến tai công chúa. Công chúa sau khi nghe được bản nhạc mà Thạch Sanh đàn liền thốt được thành lời và xin vua cha cho gặp Thạch Sanh. Sau khi biết rằng Thạch Sanh là người cứu con gái mình và là người giết chằn tinh và đại bàng thì nhà vua đã phong cho Thạch Sanh làm phò mã và xử tội Lý Thông. Thạch Sanh dù biết Lý Thông đã lừa mình nhưng vì hắn còn có mẹ già mà cho hắn về quê nhà tu thân, Lý Thông được tha liền dắt mẹ về quê nhưng đi được giữa đường thì bị sét đánh.

-Văn bản thuộc mô hình cốt truyện: tự sự dân gian

Câu 4: Chi tiết kì ảo trong văn bản: Tiếng đàn của Thạch Sanh đã dùng tiếng đàn của mình giúp công chúa có thể nói được trở lại.

Tiếng đàn trong bài thơ đã tượng trưng cho công lí, cho sức mạnh của chính nghĩa. Mong muốn được giải oan, nó đại diện cho cái thiện và giúp công chúa có thể nói được trở lại.Những chi tiết này nhằm tăng sức hấp dẫn cho truyện và thể hiện quan niệm của người dân về công lí và ước mơ ở đời.

Câu 5:

- Giống nhau:

+ Đều lấy Thạch Sanh và Lý Thông làm nhân vật trung tâm của cốt truyện

+ Cốt truyện giống nhau: diệt chằn tinh, đại bàng , cứu công chúa, bị hãm hại rồi được minh oan

+ Ca ngợi Thạch Sanh là một người lương thiện, chính trực

+ Lên án Lý Thông tham lam, độc ác

+ Thể hiện quy luật ở hiền gặp lành, ác giả ác báo

+ Kết thúc câu chuyện cái thiện luôn chiến thắng

-Khác nhau:

+ Thạch Sanh là truyện cổ tích còn văn bản trên là truyện thơ

+ Truyện cổ tích thiên về các sự kiện nhiều hơn, truyện thơ thiên về biểu đạt cảm xúc