ĐẶNG QUANG MINH
Giới thiệu về bản thân
câu 1:
BÀI LÀM
Đoạn trích trong tác phẩm Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du đã khắc họa sinh động cuộc gặp gỡ giữa Thúy Kiều và Từ Hải. Không chỉ hấp dẫn ở nội dung, đoạn thơ còn nổi bật bởi nhiều đặc sắc nghệ thuật tiêu biểu, góp phần thể hiện rõ vẻ đẹp nhân vật và tài năng nghệ thuật của tác giả.Trước hết, đoạn trích được viết bằng thể thơ lục bát truyền thống, có nhịp điệu uyển chuyển, giàu tính nhạc, tạo nên giọng điệu mềm mại và dễ đi vào lòng người. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng bút pháp ước lệ và lí tưởng hóa để khắc họa hình tượng Từ Hải – một người anh hùng có khí phách mạnh mẽ, “đội trời đạp đất”, tung hoành ngang dọc. Ngôn ngữ miêu tả giàu hình ảnh, gợi cảm giúp nhân vật hiện lên sinh động và ấn tượng. Ngoài ra, nghệ thuật đối thoại giữa Từ Hải và Thúy Kiều được xây dựng rất tự nhiên, qua đó bộc lộ rõ tính cách và tâm trạng của từng nhân vật: Thúy Kiều khiêm nhường, tinh tế; Từ Hải hào sảng, trọng nghĩa tình và có con mắt tinh đời. Đặc biệt, tác giả còn sử dụng điển tích,điển cố như “Bình Nguyên Quân”, “Tấn Dương”, làm tăng tính trang trọng và chiều sâu văn hóa cho đoạn thơ. Qua đoạn trích trên, là một học sinh đang đứng trước ngưỡng cửa cuả tuổi 17,em nhận thức được giá trị của sự thấu hiểu và trân trọng giữa con người với nhau, đồng thời thêm yêu quý những giá trị nhân văn sâu sắc trong văn học dân tộc.Nhờ những nghệ thuật đặc sắc ấy, đoạn trích đã khắc họa thành công hình tượng nhân vật và làm nổi bật cuộc gặp gỡ tri kỷ giữa Từ Hải và Thúy Kiều, đồng thời thể hiện tài năng nghệ thuật bậc thầy của Nguyễn Du.
câu 2:
BÀI LÀM
Trong cuộc sống, lòng tốt luôn được xem là một trong những phẩm chất cao đẹp của con người. Lòng tốt giúp con người gắn kết với nhau, làm cho xã hội trở nên nhân văn và ấm áp hơn. Tuy nhiên, lòng tốt không chỉ cần sự chân thành mà còn cần sự tỉnh táo và sáng suốt. Vì vậy, có ý kiến cho rằng: “Lòng tốt của con người có thể chữa lành các vết thương nhưng lòng tốt cũng cần đôi phần sắc sảo, nếu không chẳng khác nào con số không tròn trĩnh.” Đây là một nhận định sâu sắc, gợi cho chúng ta nhiều suy nghĩ về cách sống và cách trao đi lòng tốt trong cuộc đời.
Trước hết,lòng tốt là sự yêu thương, cảm thông và sẵn sàng giúp đỡ người khác khi họ gặp khó khăn. Lòng tốt có sức mạnh lớn lao, bởi nó có thể xoa dịu nỗi đau, giúp con người vượt qua những tổn thương trong cuộc sống. Một lời động viên đúng lúc, một hành động giúp đỡ chân thành có thể mang lại niềm hy vọng và sự ấm áp cho người khác. Trong thực tế, có rất nhiều người sẵn sàng giúp đỡ cộng đồng, hỗ trợ những người gặp khó khăn, từ đó lan tỏa những giá trị tích cực trong xã hội. Chính vì thế, lòng tốt được xem là “liều thuốc” giúp chữa lành những vết thương về tinh thần. Tuy nhiên, ý kiến trên cũng nhấn mạnh rằng lòng tốt cần có sự sắc sảo, tức là phải đi kèm với sự tỉnh táo, hiểu biết và suy nghĩ đúng đắn. Nếu lòng tốt chỉ xuất phát từ cảm xúc mà thiếu sự suy xét thì đôi khi lại gây ra những hậu quả không mong muốn. Ví dụ, nếu chúng ta giúp đỡ một người nhưng vô tình dung túng cho hành vi sai trái của họ thì lòng tốt ấy không còn ý nghĩa tích cực nữa. Trong nhiều trường hợp, sự giúp đỡ thiếu suy nghĩ còn có thể khiến người khác trở nên ỷ lại, phụ thuộc hoặc tiếp tục lặp lại những sai lầm. Vì vậy, lòng tốt cần được đặt đúng chỗ, đúng cách và đúng thời điểm. Trong cuộc sống, đã có không ít trường hợp lòng tốt bị lợi dụng. Một số người giả vờ khó khăn để nhận sự giúp đỡ từ người khác, khiến những người tốt bụng bị tổn thương hoặc mất niềm tin. Điều đó cho thấy nếu lòng tốt không đi cùng với sự sáng suốt thì dễ trở thành “con số không tròn trĩnh”, nghĩa là không mang lại giá trị thực sự. Vì thế, con người cần biết cân bằng giữa tình cảm và lí trí khi giúp đỡ người khác. Lòng tốt đúng đắn không chỉ là cho đi mà còn là giúp người khác thay đổi theo hướng tích cực và tốt đẹp hơn.
Bên cạnh đó, mỗi người cũng cần rèn luyện bản thân để vừa sống nhân ái, vừa biết suy nghĩ thấu đáo. Khi giúp đỡ người khác, chúng ta nên tìm hiểu hoàn cảnh, cân nhắc khả năng của mình và lựa chọn cách hỗ trợ phù hợp. Một lòng tốt đúng đắn sẽ không chỉ giải quyết vấn đề trước mắt mà còn tạo ra giá trị lâu dài cho xã hội. Mỗi chúng ta cần biết nuôi dưỡng lòng nhân ái, sẵn sàng giúp đỡ người khác, nhưng cũng phải suy nghĩ cẩn trọng để lòng tốt được trao đi đúng lúc, đúng người và mang lại ý nghĩa tích cực cho cuộc sống.
Tóm lại, ý kiến trên đã khẳng định giá trị to lớn của lòng tốt đồng thời nhắc nhở con người phải biết sống tốt một cách sáng suốt và có trách nhiệm. Lòng tốt thực sự không chỉ xuất phát từ trái tim mà còn cần sự tỉnh táo của lý trí.
Câu 1 (0,5 điểm):
Văn bản được viết theo thể thơ lục bát (một câu 6 tiếng và một câu 8 tiếng nối tiếp nhau).
Câu 2 (0,5 điểm):
Hai nhân vật Từ Hải và Thúy Kiều gặp nhau ở lầu hồng (lầu xanh – nơi Kiều đang sống) khi Từ Hải đến chơi và nghe tiếng nàng Kiều.
Câu 3 (1,0 điểm):
Qua những câu thơ này, nhân vật Thúy Kiều hiện lên là người:
- Khiêm tốn, tự trọng, tự nhận mình chỉ là “cỏ nội hoa hèn”, “thân bèo bọt”.
- Khéo léo, tinh tế trong lời nói, thể hiện sự kính trọng đối với Từ Hải.
- Đồng thời cho thấy tấm lòng chân thành và biết ơn, mong được Từ Hải rộng lòng thương giúp.
Câu 4 (1,0 điểm):
Qua đoạn trích, Từ Hải được khắc họa là:
- Người anh hùng có khí phách mạnh mẽ, tung hoành giang hồ (“đội trời đạp đất ở đời”).
- Tài giỏi, bản lĩnh, vừa có võ nghệ vừa có mưu lược.
- Trọng nghĩa, trọng tình, biết trân trọng tài sắc và tâm hồn của Thúy Kiều.
- Có con mắt tinh đời, nhận ra và đồng cảm với Kiều, coi nàng là tri kỷ.
Câu 5 (1,0 điểm):
Đoạn trích gợi cho em sự cảm phục và xúc động.
- Em cảm phục khí phách anh hùng của Từ Hải, một con người mạnh mẽ, nghĩa khí.
- Đồng thời thương cảm cho số phận của Thúy Kiều, một người tài sắc nhưng phải chịu nhiều bất hạnh.
- Tình tri kỷ giữa hai nhân vật khiến người đọc cảm thấy ấm áp và hy vọng về sự đồng cảm, thấu hiểu giữa con người với nhau.
ta có :
pít tông h = 2 x R(bán kính)
= 2 x 0,085=0,17m
=> thể tích công tác của động cơ 6 xi lanh là: Vh= [pi x D(đường kính)^2]/4 x 0,17
= xấp xỉ 0,001(lít)
- Thân máy: là bộ phận chính của động cơ, dùng để lắp các xi lanh và các chi tiết khác, tạo khung vững chắc cho động cơ, chịu lực và tản nhiệt.
- Nắp máy: dùng để đậy kín phía trên xi lanh, cùng với thân máy và piston tạo thành buồng cháy.
Nắp máy được coi là chi tiết có kết cấu phức tạp vì trên đó có nhiều bộ phận như: buồng cháy, lỗ lắp bugi/vòi phun, đường nạp – xả, đường nước làm mát, xupáp…