TRẦN NGỌC KHUÊ
Giới thiệu về bản thân
Trong thế giới của Truyện Kiều, nếu Thúy Kiều là hiện thân của tài hoa bạc mệnh thì Từ Hải lại là đại diện cho khát vọng tự do và công lý. Đặc sắc nghệ thuật của đoạn trích là nhân vật theo phong cách sử thi anh hùng. Nguyễn Du đã sử dụng một hệ thống ngôn từ giàu tính ước lệ và tượng trưng để tạc dựng nên bức chân dung Từ Hải đầy lẫm liệt. Ngay từ những câu thơ đầu, cụm từ “đường đường một đấng anh hào” không chỉ miêu tả ngoại hình mà còn khẳng định tư thế đĩnh đạc, danh giá của một con người có tầm vóc khác thường. Các thuật ngữ như “côn quyền”, “lược trận” cho thấy một cá nhân toàn tài, văn võ song toàn.Đặc biệt, nghệ thuật sử dụng tài liệu thi và điển tích bác học đã nâng tầm nhân vật lên mức phi thường. Hình ảnh “sánh phượng”, “cưỡi rồng” không đơn thuần là sự kết duyên nam nữ mà là sự giao hòa của những bậc kỳ tài, là cuộc gặp gỡ định mệnh giữa “trai anh hùng, gái thuyền quyên”. Bút pháp vũ trụ hóa cũng được vận dụng tài tình khi đặt nhân vật trong thế đối sánh với những hình ảnh kỳ vĩ như “ánh hào”, “rồng”, “phượng”, tạo nên một không gian hào hùng, rực rỡ, hoàn toàn khác biệt với không khí buồn thương, bế tắc của các đoạn trích trước đó. Bên cạnh đó, ngôn ngữ lục bát vốn dĩ mềm mại đã được Nguyễn Du thổi vào luồng sinh khí mới: sảng khoái, mạnh mẽ và đầy tính nhạc. Cách ngắt nhịp dứt khoát kết hợp với các tính từ cực tả đã bộc lộ sự trân trọng, ngưỡng mộ tuyệt đối của tác giả dành cho nhân vật. Qua đó, nghệ thuật khắc họa nhân vật không chỉ dừng lại ở việc miêu tả diện mạo mà còn chuyển tải thành công cảm hứng nhân văn sâu sắc: ca ngợi những con người dám đứng ngoài vòng kiềm tỏa của lễ giáo phong kiến để khẳng định giá trị bản thân. Chính những đặc sắc nghệ thuật này đã giúp Từ Hải trở thành hình tượng anh hùng đẹp nhất và có sức sống bền bỉ nhất trong lịch sử văn học trung đại Việt Nam.
Câu2:
Trong hành trình nhân sinh, lòng tốt luôn được xem là tôn chỉ cao đẹp nhất, là sợi dây vô hình gắn kết những trái tim xa lạ. Thế nhưng, có ý kiến cho rằng: “Lòng tốt của con người có thể chữa lành các vết thương nhưng lòng tốt cũng cần đôi phần sắc sảo, nếu không chẳng khác nào con số không tròn trĩnh.” Câu nói này đã đặt ra một cái nhìn đa chiều: Lòng tốt là liều thuốc quý, nhưng nếu thiếu đi sự tỉnh táo, nó sẽ trở nên vô nghĩa, thậm chí là phản tác dụng.
Trước hết, không thể phủ nhận sức mạnh diệu kỳ của lòng tốt. Đó là sự thấu cảm, sẻ chia và sẵn sàng giúp đỡ người khác mà không mưu cầu vụ lợi. Lòng tốt có khả năng "chữa lành các vết thương" bởi nó xoa dịu nỗi đau, tiếp thêm niềm tin cho những mảnh đời bất hạnh. Một lời an ủi đúng lúc, một bàn tay đưa ra khi hoạn nạn có thể cứu rỗi một tâm hồn đang trên bờ vực tuyệt vọng. Khi ta trao đi yêu thương, thế giới bớt đi một phần lạnh lẽo và thêm một phần hơi ấm của tình người.
Tuy nhiên, vế thứ hai của nhận định lại đưa ra một cảnh báo thực tế: "lòng tốt cũng cần đôi phần sắc sảo". Sắc sảo ở đây không phải là sự khôn lỏi, mưu mô, mà là sự minh mẫn, trí tuệ để nhận diện đúng đối tượng và hoàn cảnh. Nếu lòng tốt đặt sai chỗ, nó có thể nuôi dưỡng thói ỷ lại, tạo cơ hội cho kẻ xấu lợi dụng. Khi chúng ta giúp đỡ một người lười biếng bằng tiền bạc thay vì tạo cho họ cần câu, ta đang vô tình tước đi cơ hội để họ tự lập. Đó chính là lúc lòng tốt trở thành "con số không tròn trĩnh" – tức là dù xuất phát từ tâm ý tốt nhưng lại không mang lại giá trị thực tế, thậm chí gây ra hậu quả tiêu cực cho cả người cho và người nhận.
Tại sao lòng tốt không có sự sắc sảo lại bị coi là con số không? Bởi lẽ, lòng tốt mù quáng thường đi kèm với sự yếu đuối. Một người tốt mà không biết từ chối những đòi hỏi vô lý, không biết phân biệt thật giả sẽ tự biến mình thành nạn nhân của sự lợi dụng. Trong xã hội hiện đại đầy rẫy những cạm bẫy, sự sắc sảo chính là "lớp giáp" bảo vệ lòng tốt, giúp lòng tốt được trao đi một cách đúng đắn, khoa học và hiệu quả nhất.
Để lòng tốt thực sự phát huy giá trị, chúng ta cần học cách cân bằng giữa trái tim nóng và cái đầu lạnh. Hãy cứ yêu thương, hãy cứ bao dung, nhưng đừng quên quan sát và đánh giá. Giúp đỡ một người gặp khó khăn trên đường là tốt, nhưng hãy tỉnh táo để không rơi vào kịch bản dàn cảnh của tội phạm. Ủng hộ các quỹ từ thiện là quý, nhưng cần tìm hiểu kỹ để lòng tin của mình đặt đúng nơi uy tín. Sự sắc sảo sẽ giúp lòng tốt của chúng ta có sức nặng, có định hướng và tạo ra sức lan tỏa mạnh mẽ hơn.
Lòng tốt chính là báu vật của nhân loại, nhưng trí tuệ mới là thứ giữ cho báu vật ấy không bị vấy bẩn hay hao mòn. Sống tử tế nhưng phải đủ bản lĩnh, bao dung nhưng phải kèm sự sáng suốt. Đừng để lòng tốt của mình là một sự ban phát ngây thơ, mà hãy biến nó thành một nguồn năng lượng mạnh mẽ, có thể thay đổi cục diện cuộc sống của người khác một cách bền vững. Đó mới chính là lòng tốt đích thực – một lòng tốt không bao giờ là "con số không".
câu1: Thể thơ lục bát
câu2: Nhân vật Từ Hải và Thúy Kiều gặp nhau ở lầu xanh
câu3:
Lời nói của Thúy Kiều rất nhẹ nhàng và từ tốn của người phụ nữ "Thưa rằng" và cả những lời nói ẩn dụ bóng dó của cô như "mây rồng có phen" cho ta thấy Tư Hải trong mắt của Kiều và cả "Cỏ nội hoa hèn" để chỉ danh phận và con người của cô hiện tại đang tàn đi, nhạt dần. Cuối cùng là sự tha thiết cầu khấn Tư Hải cưu mang mình.
-> Từ đó ta thấy được sự dịu dàng trong lời nói của Kiều, con người phẩm chất của cô qua đôi mắt cả chính cô và cả sự bất lực tha thiết cầu xin sự giúp đỡ khi bị lưu đày tại lầu xanh.
câu4:
- Ngoại hình: Tư Hải toác lên vẻ của một bậc tượng phu. "Râu hùm, hàm én, mày ngài" đều là những nét của tướng mạo của một bậc võ tướng, đầy uy nghi và mạnh mẽ. "Vai năm tấc rộng, thân mười thước" một cơ thể vạm vỡ, lấn át không gian. "Đường đường", "tả dột hữu xông", "đội trời đạp đất", cho thấy sức mạnh nằm ngoài những khuôn khổ trói buộc của xã hội phong kiến
câu 5:
Từ đoạn trích trên, em ngưỡng một trước vẻ đẹp khí phách và tài năng. Đó là sự choáng ngợp tước con người mạnh mẽ, mang tầm vóc lớn lao của Tư Hải và cả sự sắc sảo của Thúy Kiều trong việc nhận ra được anh hùng trong cảnh bùn nhơ. Cũng như đoạn trích trên đã mang lại cảm hứng về niềm tin, hy vọng và sự trân trọng giá trị con người. Khiến ta tin rằng trong hoàn cảnh tối tăm nhất sẽ vẫn có cơ hội tỏa sáng nếu gặp đúng người và thời điểm
Hành trình của pit-tong là:
S = 2 * R = 2 x 0,085 = 0,17 (m)
Thể tích công tác của một động cơ 6 xi lanh là:
Vs =6 *((pi * D ^2) / 4) * S =6 * ((pi * 0,09 ^ 2)) / 4 * 0,17 = xấp xỉ 0,00648( m ^ 3) = 6,48 (l).
* Thân máy có những đặc điểm cấu tạo là: - Là nơi lắp đặt các xi lanh và bố trí các chi tiết chính của động cơ như: +) Trục khuỷu. +) Hệ thống làm mát. +) Bơm dầu. +) Bơm nước. - Xi lanh trong thân máy thường có dạng hình ống và được gia công độ chính xác cao. * Nắp máy có các đặc điểm cấu tạo: - Nắp máy (nắp xi lanh) cùng với xi lanh và đỉnh pít tông tạo thành buồng cháy của động cơ. - Được dùng để lắp các chi tiết như: + Vòi phun nhiên liệu, + Cơ cấu phối khí. -> Là chi tiết có kết cấu phức tạp vì phải bố trí hệ thống đường dẫn nhiên liệu, đường dẫn khí và cả hệ thống làm mát và bộ phận cách nhiệt.