Đồng Thị Thanh Hà
Giới thiệu về bản thân
Truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng là một tác phẩm cảm động viết về tình cha con trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt. Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, tác phẩm đã để lại nhiều xúc động sâu sắc trong lòng người đọc bởi tình cảm gia đình thiêng liêng và vẻ đẹp tâm hồn của con người Việt Nam thời kháng chiến. Với giọng văn chân thật, giàu cảm xúc cùng nghệ thuật xây dựng tình huống đặc sắc, truyện đã giúp người đọc hiểu hơn về những mất mát mà chiến tranh gây ra cho con người.
Truyện kể về ông Sáu – một người lính tham gia kháng chiến xa nhà nhiều năm. Khi con gái ông là bé Thu lên tám tuổi, ông mới có dịp về thăm nhà trong ba ngày ngắn ngủi. Vì vết thẹo trên mặt khiến ông khác với tấm ảnh chụp ngày trước nên bé Thu không nhận cha. Trong suốt những ngày ở nhà, bé Thu luôn tỏ thái độ lạnh nhạt và xa cách với ông Sáu. Điều đó khiến ông rất đau lòng nhưng vẫn kiên nhẫn yêu thương con. Đến lúc ông Sáu chuẩn bị lên đường, bé Thu mới hiểu ra sự thật và cất tiếng gọi “Ba!” đầy xúc động. Tình cha con bùng lên mãnh liệt trong giây phút chia tay ngắn ngủi. Trở lại chiến khu, ông Sáu dồn hết tình yêu thương vào việc làm cho con một chiếc lược bằng ngà voi. Ông luôn nâng niu, chăm chút chiếc lược như gửi gắm tất cả nỗi nhớ con. Nhưng chưa kịp trao tận tay món quà ấy cho bé Thu thì ông đã hi sinh trong một trận càn của giặc.
Trước hết, chủ đề được thể hiện ở nhân vật ông Sáu – người cha có tình yêu thương con vô cùng sâu nặng. Sau tám năm xa cách, ông luôn mong chờ giây phút được gặp lại con gái. Khi vừa nhìn thấy bé Thu, ông xúc động gọi con bằng tất cả tình yêu thương dồn nén bấy lâu. Thế nhưng, sự lạnh nhạt của bé Thu khiến ông đau khổ và hụt hẫng. Dù buồn, ông vẫn kiên nhẫn chờ con hiểu ra sự thật chứ không trách mắng hay ép buộc con. Trong giây phút chia tay, khi nghe tiếng gọi “Ba!”, ông xúc động đến nghẹn ngào vì hạnh phúc. Trở lại chiến khu, ông luôn day dứt vì chưa được gần con nhiều hơn. Chính vì vậy, ông đã tự tay làm chiếc lược ngà để tặng con gái yêu quý. Từng chiếc răng lược được ông cẩn thận gọt giũa bằng tất cả tình yêu thương của một người cha. Chiếc lược ngà không chỉ là món quà mà còn là kết tinh của tình phụ tử thiêng liêng. Trước lúc hi sinh, ông vẫn cố gửi lại chiếc lược cho đồng đội để trao tận tay bé Thu. Qua nhân vật ông Sáu, tác giả đã làm nổi bật vẻ đẹp của tình cha con trong hoàn cảnh chiến tranh éo le.
Bên cạnh đó, nhân vật bé Thu cũng làm nổi bật chủ đề của truyện. Bé Thu là một cô bé hồn nhiên nhưng rất cá tính và giàu tình cảm. Vì chỉ biết cha qua tấm ảnh chụp chung với má nên khi thấy ông Sáu có vết thẹo trên mặt, em nhất quyết không chịu nhận cha. Trong những ngày ông Sáu ở nhà, bé Thu luôn giữ khoảng cách và tỏ ra lạnh nhạt. Em không gọi “ba” mà chỉ nói trống không khiến ông Sáu vô cùng buồn bã. Tuy nhiên, sự bướng bỉnh ấy lại xuất phát từ tình yêu thương cha sâu sắc và tính cách hồn nhiên của trẻ nhỏ. Sau khi được bà ngoại giải thích, bé Thu mới hiểu ra tất cả và vô cùng ân hận. Tiếng gọi “Ba!” vang lên ở phút chia tay đã khiến người đọc không khỏi xúc động. Em ôm chặt lấy ba, hôn ba liên tiếp như muốn giữ ba ở lại. Những hành động ấy cho thấy tình yêu cha mãnh liệt đã bị dồn nén bấy lâu nay. Nhân vật bé Thu đã góp phần làm cho câu chuyện trở nên chân thật và cảm động hơn.
Chủ đề của truyện không chỉ thể hiện ở nội dung mà còn được bộc lộc qua các hình thức nghệ thuật đặc sắc. Trước hết, tác giả đã xây dựng được tình huống truyện vô cùng độc đáo và giàu cảm xúc. Việc bé Thu không nhận cha rồi lại nhận cha đúng lúc ông Sáu chuẩn bị lên đường đã tạo nên cao trào xúc động cho tác phẩm. Tác giả còn lựa chọn ngôi kể thứ nhất qua lời kể của bác Ba giúp câu chuyện trở nên chân thật và gần gũi hơn. Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật được thể hiện rất tinh tế, đặc biệt là diễn biến cảm xúc của ông Sáu và bé Thu. Ngôn ngữ truyện giản dị, đậm chất Nam Bộ khiến lời kể tự nhiên và chân thực. Những chi tiết như tiếng gọi “Ba!”, vết thẹo trên mặt hay chiếc lược ngà đều mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Hình ảnh chiếc lược ngà là biểu tượng đẹp cho tình cha con thiêng liêng, bất diệt. Giọng văn nhẹ nhàng nhưng giàu cảm xúc đã tạo nên sức lay động mạnh mẽ đối với người đọc. Tác giả còn kết hợp hài hòa giữa kể chuyện, miêu tả và biểu cảm. Nghệ thuật đối lập giữa sự lạnh nhạt ban đầu và tình cảm bùng nổ cuối truyện đã làm nổi bật giá trị nhân văn của tác phẩm. Bên cạnh đó, truyện còn phản ánh hiện thực đau thương mà chiến tranh gây ra cho con người. Tuy chiến tranh khốc liệt nhưng tình cảm gia đình vẫn luôn sáng đẹp và thiêng liêng. Cốt truyện ngắn gọn nhưng chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu sắc. Những chi tiết xúc động trong truyện khiến người đọc càng thêm yêu quý và trân trọng tình cảm gia đình. Chính những thành công nghệ thuật ấy đã góp phần làm nên giá trị đặc sắc cho Chiếc lược ngà.
Từ tác phẩm Chiếc lược ngà, em liên tưởng đến truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long. Nếu Chiếc lược ngà ca ngợi tình cha con thiêng liêng trong chiến tranh thì Lặng lẽ Sa Pa lại ca ngợi vẻ đẹp của những con người lao động thầm lặng trong cuộc sống mới. Dù viết về những đề tài khác nhau nhưng cả hai tác phẩm đều làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn của con người Việt Nam: giàu tình yêu thương, sống có trách nhiệm và biết hi sinh vì người khác. Qua đó, người đọc càng thêm trân trọng cuộc sống hòa bình hôm nay.
Chiếc lược ngà là một truyện ngắn giàu giá trị nhân văn và để lại nhiều xúc động trong lòng người đọc. Tác phẩm không chỉ ca ngợi tình cha con sâu nặng mà còn tố cáo chiến tranh đã gây ra biết bao mất mát, chia lìa cho con người. Qua hình ảnh ông Sáu và bé Thu, em càng thêm yêu quý tình cảm gia đình và biết ơn những thế hệ cha anh đã hi sinh vì độc lập dân tộc. Truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng sẽ mãi là một tác phẩm đẹp về tình người trong nền văn học Việt Nam hiện đại.
Đoạn thơ đã thể hiện sâu sắc tinh thần yêu nước và sự hi sinh cao đẹp của thế hệ trẻ Việt Nam trong thời kháng chiến. Người lính ra đi không phải không tiếc tuổi xuân của mình ,bởi tuổi hai mươi là quang thơi gian đẹp nhất với biết bao ước mơ và khát vọng. Câu thơ "Những tuổi hai mươi làm sao không tiếc" đã diễn tả chân thật tâm trạng ấy. Tuy nhiên, vượt lên nỗi tiếc nuối cá nhân, họ sẵn sàng cống hiến tuổi trẻ cho Tổ quốc. Câu hỏi tu từ"Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc?" đã nhấn mạnh trách nhiệm của thanh niên đối với đất nước, đồng thời làm cho lời thơ trở nên mạnh mẽ và giàu sức lay động. Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng điệp ngữ "tuổi hai mươi" đê nhấn mạnh vẻ đẹp của tuổi trẻ và sự hi sinh cao cả của người lính. Qua đoạn thơ, em càng thêm khâm phục, biết ơn thế hệ cha anh đã hi sinh vì độc lập dân tộc và tự nhắc bản thân phải sống có lý tưởng, biết học tập và cống hiến cho quê hương, đất nước
Thành phần biệt lập trong đoạn thơ là "Những tuổi hai mươi làm sao không tiếc"-thành phần phụ chú
Tác dụng
+ Bổ sung,giải thích cho ý"Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình"
+Thể hiện tâm trạng chân thật của người lính: ở tuổi hai mươi ai cũng có những điều đáng quý ,đáng tiếc nuối
+Qua đó làm nổi bật tinh thần yêu nước, sự sẵn sàng hi sinh tuổi trẻ cho Tổ quốc của thế hệ thanh niên thời chiến