Trần Hữu Phúc
Giới thiệu về bản thân
Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản "Hoa rừng" là tự sự.
Câu 2.
Nhân vật Phước hái hoa để chuẩn bị cho buổi lễ kết nạp đoàn viên mới.
Câu 3.
Nhân vật Phước được khắc hoạ với những phẩm chất đáng quý:
− Dũng cảm, kiên cường và tận tuỵ: Dù là nữ nhưng cô dẫn bộ đội xuyên rừng suốt đêm trong mưa bom bão đạn. Phước có sức khoẻ đáng bất ngờ, đi đường không biết mệt mỏi và còn mang vác giúp chiến sĩ đau chân.
− Lạc quan, yêu đời: Giữa chiến trường ác liệt và sự mệt mỏi, cô vẫn chú ý đến vẻ đẹp của hoa rừng và hái về để trang trí cho sinh hoạt tập thể.
− Dịu dàng, hồn nhiên và bao dung: Cô cư xử nhẹ nhàng ("ăn nhỏ nhẹ", "mỉm cười ngoan ngoãn"), sẻ chia củ sắn với cấp trên và đặc biệt là tấm lòng vô tư, không hề để bụng hay giận hờn trước những lời trách móc vô cớ của người khác.
Câu 4.
− Văn bản "Hoa rừng" sử dụng ngôi kể thứ ba.
− Tác dụng của việc sử dụng ngôi kể thứ ba trong văn bản:
+ Giúp người kể chuyện có thể bao quát toàn bộ bối cảnh, sự việc và hành động của các nhân vật một cách khách quan.
+ Dễ dàng đi sâu vào thế giới nội tâm của nhiều nhân vật khác nhau (từ sự hối hận của các anh lính, sự day dứt của đoàn trưởng Thăng đến sự vô tư của Phước), từ đó làm nổi bật lên vẻ đẹp của nhân vật chính qua cái nhìn của người khác.
Câu 5.
Học sinh trình bày bài học của bản thân về cách nhìn nhận và đánh giá người khác. Gợi ý:
− Không nên vội vàng đánh giá, phán xét người khác chỉ qua vẻ bề ngoài hay một vài hành động nhất thời.
− Cần phải có cách nhìn nhận đa chiều, sâu sắc và xuất phát từ sự bao dung, đồng cảm với những người xung quanh.
− Đừng để sự nóng nảy hay định kiến chủ quan che lấp đi vẻ đẹp nhân cách của người đối diện, dẫn đến những hối tiếc muộn màng.
.
. Tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa trong lớp phủ thổ nhưỡng nước ta:
- Tính chất nóng ẩm của khí hậu nước ta khiến quá trình phong hóa diễn ra mạnh mẽ, tạo nên một lớp phủ thổ nhưỡng dày.
- Quá trình feralit là quá trình hình thành đất đặc trưng ở nước ta:
+ Khí hậu nhiệt đới gió mùa với lượng mưa lớn và mưa tập trung theo mùa làm cho quá trình rửa trôi các chất badơ dễ hòa tan xảy ra mạnh, dẫn đến tích lũy các ôxít sắt và ôxít nhôm, hình thành các loại đất feralit điển hình ở Việt Nam.
+ Một số nơi ở trung du và miền núi có sự phân mùa mưa - khô sâu sắc đã làm tăng cường tích lũy ôxít sắt và ôxít nhôm, tạo thành các tầng kết von hoặc đá ong.
- Lượng mưa lớn, tập trung chủ yếu vào 4-5 tháng mùa mưa đã làm gia tăng hiện tượng xói mòn rửa trôi ở vùng đồi núi. Đất bị xói mòn sẽ theo dòng chảy ra sông ngòi và bồi tụ ở vùng đồng bằng hình thành đất phù sa.
b. Nguyên nhân dẫn đến suy giảm tài nguyên sinh vật ở nước ta:
- Do tự nhiên: Biến đổi khí hậu với những hệ quả như bão, lũ lụt, hạn hán, cháy rừng,...
- Do hoạt động của con người:
+ Khai thác lâm sản.
+ Đốt rừng làm nương rẫy.
+ Nạn du canh, du cư.
+ Sử dụng động - thực vật hoang dã cho nhu cầu đời sống.
+ Đánh bắt thủy sản quá mức.
+ Ô nhiễm môi trường do chất thải sinh hoạt và sản xuất.
+ Sự xâm nhập của các loài ngoại lai.
- Về nông nghiệp:
+ Nhà nước cho khai hoang, di dân lập ấp, lập đồn điền,… Tuy nhiên do địa chủ, cường hào bao chiếm ruộng đất nên nông dân không có ruộng cày cấy.
+ Hạn hán, lụt lội, mất mùa xảy ra thường xuyên.
- Về thủ công nghiệp, thương nghiệp:
+ Có điều kiện phát triển, kĩ thuật được cải tiến.
+ Nghề khai mỏ được đẩy mạnh.
+ Hoạt động buôn bán trong và ngoài nước ngày càng phát triển.
- Nhiều trung tâm đô thị bị sa sút: Thăng Long, Phố Hiến, Thanh Hà, Hội An.
- Quy định nhà nước như: bế quan toả cảng, tập trung thợ giỏi vào quan xưởng làm cho kinh tế gặp nhiều khó khăn.
b. Về tình hình xã hội:
- Đời sống nhân dân cơ cực, mâu thuẫn xã hội gia tăng.
- Mâu thuẫn xã hội làm bùng nổ nhiều cuộc khởi nghĩa chống triều đình nhà Nguyễn. Lực lượng tham gia vào đấu tranh gồm có: nông dân, thợ thuyền, binh lính, nhà nho, nhân dân các dân tộc thiểu số…
- Các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu: khởi nghĩa của Phan Bá Vành (1821 – 1927) ở Nam Định, Thái Bình; của Lê Duy Lương (1833 – 1838) ở Ninh Bình, Thanh Hoá; của Nông Văn Vân (1833 – 1835) ở Cao Bằng; của Cao Bá Quát (1854 – 1856) ở Hà Nội,… Tính từ năm 1802 – 1862, có khoảng 405 cuộc nổi dậy của nông dân.
=> Chứng tỏ bộ máy nhà nước chưa chăm lo tốt cho đời sống nhân dân, không nhận được sự ủng hộ của nhân dân, đời sống nhân dân khổ cực, khó khăn, tình hình chính trị đất nước không ổn định
t
dung roi em