Cao Ngọc Anh
Giới thiệu về bản thân
Dạng tổng quát của định lý FLT: 𝐴 𝑥 𝑛 + 𝐵 𝑦 𝑛 = 𝐶 𝑧 𝑛 Ax n +By n =Cz n với các điều kiện: 𝐴 , 𝐵 , 𝐶 , 𝑥 , 𝑦 , 𝑧 A,B,C,x,y,z là số nguyên dương 𝑛 > 2 n>2 (tức là lũy thừa bậc 3 trở lên) 𝐴 , 𝐵 , 𝐶 A,B,C có cùng bội số chung nhỏ nhất (thường chọn 𝐴 = 𝐵 = 𝐶 = 1 A=B=C=1 cho đơn giản) 🔹 Dạng cơ bản nhất (thường gặp trong SGK và toán học cổ điển): 𝑥 𝑛 + 𝑦 𝑛 = 𝑧 𝑛 x n +y n =z n Đây chính là Định lý cuối cùng của Fermat (Fermat’s Last Theorem). 🔹 Nội dung định lý: Không tồn tại các số nguyên dương 𝑥 , 𝑦 , 𝑧 x,y,z thỏa mãn 𝑥 𝑛 + 𝑦 𝑛 = 𝑧 𝑛 x n +y n =z n khi 𝑛 > 2 n>2. Hay nói cách khác: Với 𝑛 = 2 n=2: có nghiệm (ví dụ 3² + 4² = 5²). Với 𝑛 > 2 n>2: không có nghiệm nguyên dương nào. ✅ Vậy, điền dạng định lý FLT đúng là: 𝐴 𝑥 𝑛 + 𝐵 𝑦 𝑛 = 𝐶 𝑧 𝑛 Ax n +By n =Cz n với 𝐴 , 𝐵 , 𝐶 , 𝑥 , 𝑦 , 𝑧 A,B,C,x,y,z là số nguyên dương, 𝑛 > 2 n>2, và 𝐴 , 𝐵 , 𝐶 A,B,C có cùng bội số chung nhỏ nhất.
Dạng tổng quát của định lý FLT: 𝐴 𝑥 𝑛 + 𝐵 𝑦 𝑛 = 𝐶 𝑧 𝑛 Ax n +By n =Cz n với các điều kiện: 𝐴 , 𝐵 , 𝐶 , 𝑥 , 𝑦 , 𝑧 A,B,C,x,y,z là số nguyên dương 𝑛 > 2 n>2 (tức là lũy thừa bậc 3 trở lên) 𝐴 , 𝐵 , 𝐶 A,B,C có cùng bội số chung nhỏ nhất (thường chọn 𝐴 = 𝐵 = 𝐶 = 1 A=B=C=1 cho đơn giản) 🔹 Dạng cơ bản nhất (thường gặp trong SGK và toán học cổ điển): 𝑥 𝑛 + 𝑦 𝑛 = 𝑧 𝑛 x n +y n =z n Đây chính là Định lý cuối cùng của Fermat (Fermat’s Last Theorem). 🔹 Nội dung định lý: Không tồn tại các số nguyên dương 𝑥 , 𝑦 , 𝑧 x,y,z thỏa mãn 𝑥 𝑛 + 𝑦 𝑛 = 𝑧 𝑛 x n +y n =z n khi 𝑛 > 2 n>2. Hay nói cách khác: Với 𝑛 = 2 n=2: có nghiệm (ví dụ 3² + 4² = 5²). Với 𝑛 > 2 n>2: không có nghiệm nguyên dương nào. ✅ Vậy, điền dạng định lý FLT đúng là: 𝐴 𝑥 𝑛 + 𝐵 𝑦 𝑛 = 𝐶 𝑧 𝑛 Ax n +By n =Cz n với 𝐴 , 𝐵 , 𝐶 , 𝑥 , 𝑦 , 𝑧 A,B,C,x,y,z là số nguyên dương, 𝑛 > 2 n>2, và 𝐴 , 𝐵 , 𝐶 A,B,C có cùng bội số chung nhỏ nhất.
ủa đây lp 6
Đó là phương trình mô tả hình dạng của sóng, xoáy lốc không khí, chuyển động của khí quyển, hình thái của các thiên hà trong thời điểm nguyên thủy của vũ trụ. Nó được đưa ra bởi Henri Navier và George Stokes cách đây 150 năm.
Các phương trình được áp dụng vào các định luật về chuyển động của Newton vào chất lỏng và chất khí. Tuy nhiên cho đến nay thì các phương trình này vẫn còn là một điều bí ẩn của toán học thậm chí là người ta không thể xác nhận là nó có nghiệm hay không.
Đó là phương trình mô tả hình dạng của sóng, xoáy lốc không khí, chuyển động của khí quyển, hình thái của các thiên hà trong thời điểm nguyên thủy của vũ trụ. Nó được đưa ra bởi Henri Navier và George Stokes cách đây 150 năm.
Các phương trình được áp dụng vào các định luật về chuyển động của Newton vào chất lỏng và chất khí. Tuy nhiên cho đến nay thì các phương trình này vẫn còn là một điều bí ẩn của toán học thậm chí là người ta không thể xác nhận là nó có nghiệm hay không.
Đó là phương trình mô tả hình dạng của sóng, xoáy lốc không khí, chuyển động của khí quyển, hình thái của các thiên hà trong thời điểm nguyên thủy của vũ trụ. Nó được đưa ra bởi Henri Navier và George Stokes cách đây 150 năm.
Các phương trình được áp dụng vào các định luật về chuyển động của Newton vào chất lỏng và chất khí. Tuy nhiên cho đến nay thì các phương trình này vẫn còn là một điều bí ẩn của toán học thậm chí là người ta không thể xác nhận là nó có nghiệm hay không.
Đó là phương trình mô tả hình dạng của sóng, xoáy lốc không khí, chuyển động của khí quyển, hình thái của các thiên hà trong thời điểm nguyên thủy của vũ trụ. Nó được đưa ra bởi Henri Navier và George Stokes cách đây 150 năm.
Các phương trình được áp dụng vào các định luật về chuyển động của Newton vào chất lỏng và chất khí. Tuy nhiên cho đến nay thì các phương trình này vẫn còn là một điều bí ẩn của toán học thậm chí là người ta không thể xác nhận là nó có nghiệm hay không.