Chu Thế Toàn

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Chu Thế Toàn
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1
Bài Làm
Trong đoạn trích từ văn bản Chiếu cầu hiền tài " năm 1429, nghệ thuật lập luận của Nguyễn Trãi hiện lên vô cùng sắc sảo và đầy sức thuyết phục. Ngay từ đầu, tác giả đã đưa ra một tư tưởng mang tính chân lý: muốn đất nước thịnh trị thì phải có người hiền, và người hiền xuất hiện là nhờ sự tiến cử. Để tăng thêm sức nặng cho lí lẽ, ông dẫn chứng hàng loạt tấm gương lịch sử từ thời Hán, Đường như Tiêu Hà, Ngụy Vô Tri... cho thấy việc tiến cử tài năng là truyền thống tốt đẹp của các triều đại hưng thịnh. Điểm đặc biệt trong cách lập luận ở đây là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa "lý" và "tình". Tác giả không dùng quyền uy của bậc quân vương để ra lệnh, mà bộc lộ nỗi lòng chân thành, "lo sợ như gần vực sâu" vì chưa tìm được người giúp nước. Cách đặt vấn đề này giúp xóa bỏ khoảng cách giữa nhà vua và kẻ sĩ. Hơn nữa, việc đưa ra các dẫn chứng về Mạo Toại, Ninh Thích đã khéo léo cổ vũ người tài tự tin tiến cử, phá tan định kiến "đem ngọc bán rao" là xấu hổ. Hệ thống câu hỏi tu từ và cách hành văn khiêm nhường nhưng cương quyết đã tạo nên một sức mạnh cảm hóa lớn lao. Tóm lại, bằng bố cục chặt chẽ và ngôn ngữ trang trọng, đoạn trích không chỉ cho thấy tầm nhìn sáng suốt của triều đại Lê sơ mà còn thể hiện tư tưởng trọng dụng nhân tài một cách thiết thực, tiến bộ.
Câu 2
Bài Làm
Trong thời đại toàn cầu hóa, nguồn lực quý giá nhất của mỗi quốc gia không còn là tài nguyên thiên nhiên mà chính là con người. Tuy nhiên, Việt Nam đang phải đối mặt với một thách thức lớn mang tên “chảy máu chất xám”. Đây là hiện tượng những người có trình độ cao, những trí thức tài năng quyết định rời bỏ quê hương để sống và làm việc lâu dài tại nước ngoài. Thực trạng này để lại nhiều nỗi trăn trở về việc làm sao để giữ chân người tài phục vụ đất nước.

Trước hết, chúng ta cần hiểu rõ nguyên nhân dẫn đến làn sóng này. Đầu tiên phải kể đến môi trường làm việc. Nhiều người tài cảm thấy "ngột ngạt" khi cơ sở vật chất trong nước còn thiếu thốn, thiếu sự minh bạch trong đánh giá năng lực và cơ hội thăng tiến đôi khi chưa thực sự công bằng. Tiếp theo là sự chênh lệch về cơ hội phát triển. Ở các nước phát triển, họ dễ dàng tiếp cận với các dự án quốc tế và mạng lưới chuyên gia toàn cầu. Cuối cùng, một thực tế không thể phủ nhận là mức lương và chế độ đãi ngộ ở nước ngoài thường cao gấp nhiều lần so với trong nước, giúp họ đảm bảo cuộc sống tốt hơn cho gia đình.

Hậu quả của việc “chảy máu chất xám” là vô cùng nặng nề. Khi những bộ óc ưu tú nhất ra đi, đất nước mất đi nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội cấp bách. Điều này vô hình trung làm nới rộng khoảng cách về khoa học, kỹ thuật giữa Việt Nam và thế giới. Không chỉ vậy, bản thân những người ra đi cũng đối mặt với khó khăn khi phải thích nghi với văn hóa xa lạ và dần đánh mất sợi dây kết nối với nguồn cội. Điển hình như trường hợp của những nhà khoa học hay nghệ sĩ lớn, dù thành danh ở xứ người nhưng nỗi lòng hướng về quê hương vẫn luôn là một khoảng trống khó lấp đầy.

Tuy nhiên, chúng ta cũng cần có cái nhìn đa chiều. Trong thế giới phẳng, việc người Việt làm việc tại nước ngoài không hoàn toàn là mất mát. Nếu họ vẫn giữ liên lạc, hỗ trợ đào tạo thế hệ trẻ trong nước hoặc đầu tư về Việt Nam, thì đó lại là hình thức "di cư chất xám" mang lại lợi ích lâu dài. Điều quan trọng là chúng ta cần có giải pháp thực tế: cải thiện môi trường làm việc, nâng cao thu nhập và đặc biệt là sự tôn vinh xứng đáng cho những đóng góp của người tài.

Tóm lại, hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Để ngăn chặn tình trạng chảy máu chất xám, Nhà nước và xã hội cần tạo ra một "mảnh đất lành" để "chim đậu". Là một học sinh, em tự nhủ phải nỗ lực học tập thật tốt, không chỉ để nâng cao giá trị bản thân mà còn để sau này có đủ năng lực góp phần xây dựng quê hương, dù ở bất cứ vị trí nào.

Câu 1 : Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài là nghị luận
Câu 2 : Chủ thể bài viết là Vua Lê Lợi
Câu 3 : Mục đích chính: Tìm kiếm và kiêu gọi những người hiền tài, có đức, có tài ra gánh vác việc nước, cùng nhà vua xây dựng và phát triển đất nước sau khi đất nước đã hoà bình
- Các đường lối tiến cử người hiền tài : Các văn võ đại thần , công hầu , đại phu từ tam phẩm trở lên đều phải cử người có tài , bất kể là ở triều đình hay thôn dã , đã xuất sĩ hay chưa - Người có tài kinh luân mà bị khuất hoặc náu mình nơi làng quê , binh lính có thể tự tiến cử - Những người tiến cử được hiền tài sẽ được thưởng , tuỳ theo năng lực của người
Câu 4 : Tiêu Hà tiến cử Tào Tham , Nguy Vô Tri tiến cử Trần Bình - Địch Nhân Kiệt tiến cử Trương Cửu Linh , Tiêu Tung tiến cử Hàn Hưu . Các dẫn chứng được chọn lọc kỹ lưỡng , có tính điển hình cao và phù hợp với bối cảnh nghị luận . Tác giả không chỉ kể tên mà còn nhấn mạnh vai trò của việc tiến cử trong sự thành công của triều đại , từ đó tăng tính thuyết phục
Câu 5: Thông qua văn bản, có thể thấy chủ thể bài viết (vua Lê Lợi) là người trọng dụng hiền tài, có tầm nhìn và trách nhiệm với đất nước. Nhà vua nhận thức rõ rằng việc tìm kiếm và sử dụng người tài là yếu tố quan trọng để xây dựng và phát triển quốc gia. Đồng thời, ông cũng thể hiện tấm lòng khiêm nhường, tha thiết mong cầu nhân tài, sẵn sàng mở rộng con đường để người tài ra giúp nước. Điều đó cho thấy tư tưởng tiến bộ và tinh thần vì dân vì nước của vị vua đứng đầu đất nước.




Câu 1 : Trong cuộc sống hiện đại đầy năng động và thử thách, lối sống chủ động đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Sống chủ động là luôn ý thức được mục tiêu của mình, tự giác lập kế hoạch và hành động để đạt được điều đó, thay vì thụ động chờ đợi hay để hoàn cảnh xô đẩy. Một người có lối sống chủ động sẽ không ngại khó khăn, dám nghĩ dám làm, biết nắm bắt cơ hội và tự chịu trách nhiệm cho những quyết định của mình. Nhờ đó, họ có thể làm chủ cuộc đời, sắp xếp công việc và học tập một cách hiệu quả, luôn sẵn sàng thích ứng với mọi biến động. Ngược lại, lối sống thụ động, ỷ lại khiến chúng ta dễ dàng bỏ lỡ những cơ hội tốt, trở nên lạc hậu và khó thành công. Vì vậy, mỗi học sinh chúng ta cần rèn luyện cho mình tính chủ động ngay từ những việc nhỏ nhất như tự giác học tập, tham gia các hoạt động tập thể hay chủ động giúp đỡ bạn bè và gia đình. Sống chủ động chính là chìa khóa vàng để mở ra cánh cửa của sự trưởng thành và thành công trong tương lai.
Câu 2
Bài Làm
Bài thơ "Bảo kính cảnh giới" của Nguyễn Trãi là một bức tranh ngày hè tuyệt đẹp và cũng là tiếng lòng yêu nước thương dân sâu sắc của tác giả.

Mở đầu bài thơ, ta bắt gặp một tư thế rất đỗi bình thản, ung dung: "Rồi hóng mát thuở ngày trường". "Rồi" nghĩa là rảnh rỗi, nhàn hạ. Trong khoảng thời gian nhàn ấy, tác giả thả hồn mình vào thiên nhiên và cảm nhận vẻ đẹp của cảnh vật ngày hè. Cảnh vật hiện lên thật sinh động, tràn đầy sức sống. Màu xanh của "hòe lục" cứ "đùn đùn" lên, tán xòe rộng như che rợp cả một khoảng sân. Màu đỏ của hoa "thạch lựu" như tưởng tượng của thi nhân đang phun ra những tia lửa đỏ rực. Hoa "hồng liên" thì đã ươm hương thơm ngát. Không chỉ có màu sắc, âm thanh của cuộc sống cũng hiện về: tiếng "lao xao" của chợ cá làng ngư phủ, tiếng ve kêu rộn rã trong buổi chiều tà "dắng dỏi cầm ve". Tất cả đều được cảm nhận bằng tâm hồn tinh tế, yêu thiên nhiên tha thiết của nhà thơ.

Nhưng ẩn sâu trong tâm hồn ấy là một tấm lòng luôn hướng về nhân dân, về đất nước. Câu thơ cuối "Dân giàu đủ khắp đòi phương" là điểm sáng kết tinh toàn bộ cảm xúc của bài thơ. Không phải là ước muốn xa vời, mà là một mong ước thật giản dị, cụ thể: ai ai cũng có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Từ cảnh vật ngày hè, Nguyễn Trãi đã gửi gắm khát vọng lớn lao ấy. Bài thơ không chỉ là bức tranh thiên nhiên mà còn là vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi: một con người suốt đời lo cho nước, cho dân. Qua bài thơ, em càng thêm yêu và trân trọng những giá trị cuộc sống cũng như tấm lòng cao cả của người anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi.



Câu 1: Thể thơ: Thất ngôn bát cú Đường luật
Câu 2: Các hình ảnh: một mai, một cuốc, một cần câu; thơ thẩn; thu ăn măng trúc, đông ăn giá; xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao; rượu đến cội cây ta sẽ uống… (cuộc sống giản dị, hòa hợp thiên nhiên, không bon chen).
Câu 3: "Một mai, một cuốc, một cần câu / Thơ thẩn dầu ai vui thú nào". 2 câu thơ đã sử dụng biện pháp tu từ liệt kê với điệp từ " một "
- Tác dụng về nghệ thuật : biện pháp liệt kê với điệp từ " một " đã tạo nhịp điệu , tăng sức gợi hình gợi cảm cho bài thơ
- Tác dụng về nội dung : Cho thấy cuộc sống giản dị của Nguyễn Bình Khiểm , bộc lộ tình yêu thiên nhiên vô cùng sâu đậm của tác giả
Câu 4  Đặc biệt ở chỗ: tác giả tự nhận mình "dại" (tìm nơi vắng vẻ, ẩn dật), còn người đời cho là "khôn" (đến chốn lao xao – bon chen danh lợi). Nhưng thực chất đây là nghịch lý: "dại" mới là khôn ngoan thực sự (giữ cốt thanh cao , tránh xô bồ , chốn lao xao ), "khôn" mới là dại (đuổi theo chốn đông người , phù du ).
Câu 5 : Qua văn bản " Nhàn " , ta thấy hiện lên vẻ đẹp nhân cách vô cùng cao đẹp của Nguyễn Bình Khiểm . Ông không ham mê tiền tài địa vị mà chọn một cuộc sống giản dị , gần gũi với thiên nhiên qua những công việc như cuốc đất , câu cá . Vẻ đẹp của ông còn nằm ở bản lĩnh , dám rời xa chốn lao xao , xô bồ để giữ cho mình một tâm hồn thanh tịnh , thảnh thơi . Dù nhận mình là " dại " , nhưng thực tế đó là cái khôn của một người hiểu cuộc đời , biết tìm niềm vui trong sự đơn giản thay vì chạy theo phú quý . Tóm lại , nhân cách của ông là một tấm gương sáng về lối sống thanh cao