Trần Nguyên Tân
Giới thiệu về bản thân
- Nước muối sinh lí là dung dịch đẳng trương đối với các tế bào ở người nên các tế bào niêm mạc miệng không bị ảnh hưởng.
- Nước muối sinh lí là dung dịch ưu trương đối với vi khuẩn nên các vi khuẩn có hại trong miệng sẽ bị mất nước khiến quá trình phân chia của vi khuẩn bị hạn chế, thậm chí ngừng lại.
Nơi diễn ra
Pha sáng : màng tilacoit của lục lạp
Pha tối: chất nền ( stroma) của lục lạp
Điều kiện ánh sáng
Pha sáng: cần ánh sáng
Pha tối: không cần ánh sáng, nhưng phụ thuộc vào sản phẩm của pha sáng
Nguyên liệu
Pha sáng: nước,ADP,pi,NADP+
Pha tối: Co2,ATP,NADPH
Sản phẩm
Pha sáng:O2,ATP,NADPH
pha tối:chất hữu cơ,ADP,Pi,NADP+
a. Mỗi ATP có cấu tạo gồm ba thành phần cơ bản:
- Phân tử adenine
- Phân tử đường ribose
- 3 gốc phosphate chứa 2 liên kết cao năng
b. Liên kết giữa các phosphate được gọi là liên kết cao năng vì khi phá vỡ liên kết giữa các các gốc phosphate sẽ giải phóng ra một lượng lớn năng lượng.
Câu 1:
Trong văn bản Chiếu cầu hiền, Nguyễn Trãi đã thể hiện nghệ thuật lập luận chặt chẽ, thuyết phục và giàu tính nhân văn. Trước hết, tác giả sử dụng cách lập luận dựa trên những chân lí quen thuộc của Nho giáo, khẳng định vai trò quan trọng của người hiền tài đối với quốc gia. Điều này tạo nên cơ sở lí lẽ vững chắc, khiến người đọc dễ dàng đồng tình. Tiếp đó, ông chỉ ra thực trạng nhiều người hiền tài còn ẩn mình, chưa ra giúp nước, từ đó bày tỏ sự tiếc nuối và mong mỏi của triều đình. Cách nêu vấn đề vừa nhẹ nhàng vừa chân thành giúp tránh sự ép buộc, khiến lời kêu gọi trở nên gần gũi và thuyết phục. Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng các hình ảnh so sánh, ẩn dụ quen thuộc để làm nổi bật vị trí của hiền tài đối với đất nước. Giọng điệu của bài chiếu trang trọng nhưng tha thiết, thể hiện tấm lòng trọng dụng nhân tài và khát vọng xây dựng đất nước hưng thịnh. Nhờ sự kết hợp hài hòa giữa lí lẽ, dẫn chứng và cảm xúc, nghệ thuật lập luận của Nguyễn Trãi trong tác phẩm đã góp phần làm nổi bật tư tưởng trọng hiền tài và sức thuyết phục mạnh mẽ của văn bản.
Câu 2:
Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập và phát triển, Việt Nam đang phải đối mặt với hiện tượng “chảy máu chất xám”. Đây là tình trạng nhiều người có trình độ cao, tài năng hoặc được đào tạo bài bản lựa chọn ra nước ngoài học tập, làm việc và không quay trở về phục vụ đất nước. Hiện tượng này đã và đang đặt ra nhiều vấn đề đáng suy nghĩ đối với sự phát triển của quốc gia.
Trước hết, “chảy máu chất xám” có thể hiểu là sự dịch chuyển nguồn nhân lực chất lượng cao từ trong nước ra nước ngoài. Những người này thường là các nhà khoa học, chuyên gia, kỹ sư hoặc sinh viên giỏi. Sau khi được đào tạo hoặc có cơ hội tiếp cận môi trường làm việc tốt hơn ở nước ngoài, họ quyết định ở lại để phát triển sự nghiệp. Điều này khiến nguồn nhân lực chất lượng cao trong nước bị thiếu hụt, ảnh hưởng đến sự phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế.
Hiện tượng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Trước hết là do môi trường làm việc và điều kiện nghiên cứu ở nhiều quốc gia phát triển tốt hơn, có cơ sở vật chất hiện đại và nhiều cơ hội thăng tiến. Bên cạnh đó, mức thu nhập và chế độ đãi ngộ ở nước ngoài thường cao hơn, tạo động lực để nhiều người lựa chọn ở lại. Ngoài ra, ở trong nước đôi khi vẫn còn tồn tại những hạn chế như môi trường làm việc chưa thật sự thuận lợi, cơ hội phát triển chưa tương xứng với năng lực của người tài. Tất cả những yếu tố đó đã góp phần khiến nhiều người giỏi tìm kiếm cơ hội ở nơi khác.
“Chảy máu chất xám” gây ra không ít hậu quả. Trước hết, đất nước mất đi một lực lượng nhân tài quan trọng – những người có thể đóng góp vào sự phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế. Điều này có thể làm chậm quá trình đổi mới, sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia. Bên cạnh đó, khi nhiều người giỏi ra nước ngoài và không quay trở lại, xã hội cũng có thể xuất hiện tâm lí so sánh hoặc mất niềm tin vào khả năng phát triển của môi trường trong nước.
Tuy nhiên, nhìn ở góc độ khác, việc học tập và làm việc ở nước ngoài cũng có những mặt tích cực nếu người tài quay trở về đóng góp cho quê hương. Khi đó, họ có thể mang theo tri thức, kinh nghiệm và những thành tựu khoa học tiên tiến để áp dụng vào thực tiễn trong nước. Vì vậy, điều quan trọng không chỉ là ngăn chặn “chảy máu chất xám” mà còn tạo điều kiện để thu hút và phát huy tài năng của những người có trình độ cao.
Để hạn chế hiện tượng này, Nhà nước và xã hội cần xây dựng môi trường làm việc tốt hơn cho người tài, cải thiện chế độ đãi ngộ, tạo cơ hội nghiên cứu và sáng tạo. Đồng thời, cần có những chính sách khuyến khích, thu hút trí thức Việt Nam ở nước ngoài trở về đóng góp cho đất nước. Bản thân mỗi người trẻ cũng cần ý thức được trách nhiệm của mình đối với quê hương, không chỉ tìm kiếm lợi ích cá nhân mà còn nghĩ đến việc cống hiến cho sự phát triển chung.
Tóm lại, “chảy máu chất xám” là một vấn đề đáng quan tâm trong xã hội hiện nay. Việc giữ chân và thu hút nhân tài không chỉ phụ thuộc vào chính sách của Nhà nước mà còn gắn liền với ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân. Khi người tài được trân trọng và có điều kiện phát triển, họ sẽ sẵn sàng đóng góp trí tuệ của mình để xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh và phát triển bền vững.
Câu 1 (0,5 điểm):
Phương thức biểu đạt chính của văn bản là nghị luận.
Câu 2 (0,5 điểm):
Chủ thể bài viết là Lê Lợi.
Câu 3 (1,0 điểm):
- Mục đích chính của văn bản:
Chiêu dụ người tài đức ra giúp việc triều chính, xây dựng đất nước. - Các đường lối tiến cử hiền tài:
- Các đại thần từ tam phẩm trở lên, mỗi người đều tiến cử một người tài.
- Nếu tiến cử được người trung tài thì được thăng chức hai bậc; nếu tiến cử được người tài đức xuất chúng thì được trọng thưởng.
- Những người có tài đức có thể tự tiến cử để triều đình biết đến.
Câu 4 (1,0 điểm):
- Các dẫn chứng được đưa ra:
- Thời xưa, khi hiền sĩ đầy triều thì dưới không sót nhân tài, trên không bỏ việc, đất nước thịnh trị.
- Các quan đời Hán, Đường tiến cử người tài như: Tiêu Hà tiến Tào Tham, Ngụy Vô Tri tiến Trần Bình, Địch Nhân Kiệt tiến Trương Cửu Linh, Tiêu Tung tiến Hàn Hưu.
- Nhận xét:
- Dẫn chứng phong phú, tiêu biểu, có thật trong lịch sử.
- Được nêu hợp lí, thuyết phục, làm rõ luận điểm: muốn đất nước thịnh trị phải biết trọng dụng và tiến cử hiền tài.
Câu 5 (1,0 điểm):
Qua văn bản có thể thấy chủ thể bài viết có những phẩm chất:
- Trọng dụng người tài, đề cao vai trò của hiền tài đối với đất nước.
- Khiêm nhường, cầu thị, sẵn sàng lắng nghe và tìm kiếm nhân tài trong dân.
- Anh minh, sáng suốt, đưa ra những chính sách đúng đắn để xây dựng và phát triển đất nước.
Câu 1:
Trong cuộc sống hiện đại đầy biến động, lối sống chủ động có vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi người, đặc biệt là thế hệ trẻ. Sống chủ động là tự mình xác định mục tiêu, lên kế hoạch và nỗ lực hành động thay vì chờ đợi hay phụ thuộc vào người khác. Khi chủ động, con người sẽ biết nắm bắt cơ hội, vượt qua khó khăn và không dễ dàng bỏ cuộc trước thử thách. Lối sống này giúp chúng ta quản lí thời gian hiệu quả, học tập và làm việc có định hướng rõ ràng hơn. Ngược lại, nếu sống thụ động, con người dễ đánh mất cơ hội, trở nên trì trệ và tụt hậu. Trong thời đại công nghệ phát triển nhanh chóng, ai không chịu thay đổi và thích nghi sẽ nhanh chóng bị bỏ lại phía sau. Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện tinh thần tự giác, ý thức trách nhiệm và sự quyết đoán trong mọi việc. Sống chủ động không chỉ giúp ta đạt được thành công mà còn tạo nên bản lĩnh, sự tự tin và giá trị riêng của chính mình.
Câu 2:
Nguyễn Trãi là nhà thơ lớn của dân tộc, một bậc anh hùng dân tộc và danh nhân văn hóa thế giới. Thơ ông không chỉ chan chứa tình yêu thiên nhiên mà còn thấm đượm tư tưởng nhân nghĩa, lòng yêu nước thương dân sâu sắc. Bài thơ “Bảo kính cảnh giới” (bài 43) là một minh chứng tiêu biểu, vừa vẽ nên bức tranh mùa hè rực rỡ, vừa thể hiện khát vọng cao đẹp của nhà thơ.
Mở đầu bài thơ là tâm thế ung dung, nhàn tản: “Rồi hóng mát thuở ngày trường.” Câu thơ gợi cảm giác thảnh thơi giữa ngày hè dài rộng. Trong không gian ấy, thiên nhiên hiện lên đầy sức sống. Tán hoè xanh “đùn đùn” vươn lên rợp bóng, hoa lựu đỏ “phun thức đỏ” như ngọn lửa nhỏ giữa hiên nhà, còn sen hồng trong ao đã tỏa hương thơm ngát. Những động từ mạnh như “đùn đùn”, “phun” khiến cảnh vật như đang chuyển động, sinh sôi không ngừng. Bức tranh mùa hè không chỉ có màu sắc mà còn vang lên âm thanh: “Lao xao chợ cá làng ngư phủ”, “Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”. Âm thanh đời sống hòa cùng tiếng ve rộn rã làm cho bức tranh thêm sinh động, gần gũi và ấm áp.
Nếu sáu câu đầu là bức tranh thiên nhiên và cuộc sống, thì hai câu cuối chính là điểm sáng tư tưởng của bài thơ. Nguyễn Trãi ước có cây đàn của vua Nghiêu để gảy lên khúc nhạc thái bình, cầu mong “dân giàu đủ khắp đòi phương”. Ước nguyện ấy cho thấy tấm lòng luôn hướng về nhân dân, mong muốn đất nước thái bình, nhân dân ấm no, hạnh phúc. Dù sống giữa thiên nhiên thanh nhàn, trái tim ông vẫn đau đáu vì cuộc đời.
Bài thơ vì thế không chỉ là khúc ca ngợi vẻ đẹp mùa hè mà còn là tiếng lòng của một con người suốt đời vì nước, vì dân. Qua đó, ta càng thêm trân trọng nhân cách cao đẹp và tâm hồn lớn lao của Nguyễn Trãi.
Câu 1:
Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.
Câu 2:
Những hình ảnh thể hiện nét sinh hoạt hằng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả:
- “Một mai, một cuốc, một cần câu”
- “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá”
- “Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”
- “Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống”
→ Đó là cuộc sống giản dị, hòa hợp với thiên nhiên, tự cung tự cấp, không màng vật chất cao sang.
Câu 3:
Biện pháp tu từ liệt kê được sử dụng trong câu:
“Một mai, một cuốc, một cần câu”.
Tác dụng:
- Gợi lên những vật dụng lao động quen thuộc, bình dị.
- Nhấn mạnh cuộc sống đơn sơ, chủ động, tự tại của tác giả.
- Thể hiện tâm thế ung dung, thong thả, không vướng bận danh lợi.
Câu 4:
Quan niệm “dại – khôn” của tác giả rất đặc biệt:
- Ông nhận mình là “dại” vì chọn nơi vắng vẻ, tránh xa chốn quan trường.
- “Người khôn” lại tìm đến “chốn lao xao” – nơi bon chen danh lợi.
→ Thực chất, đó là cách nói ngược nghĩa (mỉa mai nhẹ nhàng). Cái “dại” của ông là sự khôn ngoan, sáng suốt; còn cái “khôn” của người đời lại là sự mê muội chạy theo danh lợi. Qua đó thể hiện thái độ coi thường công danh phú quý.
Quan niệm “dại – khôn” của tác giả rất đặc biệt:
- Ông nhận mình là “dại” vì chọn nơi vắng vẻ, tránh xa chốn quan trường.
- “Người khôn” lại tìm đến “chốn lao xao” – nơi bon chen danh lợi.
→ Thực chất, đó là cách nói ngược nghĩa (mỉa mai nhẹ nhàng). Cái “dại” của ông là sự khôn ngoan, sáng suốt; còn cái “khôn” của người đời lại là sự mê muội chạy theo danh lợi. Qua đó thể hiện thái độ coi thường công danh phú quý.
Câu 5:
Qua bài thơ, Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên là người có nhân cách cao đẹp. Ông sống giản dị, hòa mình với thiên nhiên, giữ tâm hồn thanh thản giữa cuộc đời nhiều bon chen. Ông coi thường danh lợi, xem phú quý chỉ như giấc chiêm bao. Đó là một con người thanh cao, bản lĩnh, giữ được khí tiết và sự tự do trong tâm hồn.