Đỗ Thị Yến Nhi
Giới thiệu về bản thân
Câu 1.
Trong văn bản "Chiếu cầu hiền tài", Nguyễn Trãi đã thể hiện một nghệ thuật lập luận chặt chẽ, sắc sảo và giàu sức thuyết phục. Trước hết, tác giả mở đầu bằng việc nêu luận điểm mang tính khái quát: muốn đất nước thịnh trị thì phải trọng dụng hiền tài. Từ đó, ông triển khai lập luận theo lối suy lí logic, khẳng định việc tiến cử người hiền là điều tất yếu trong việc trị nước của các bậc quân vương. Để tăng tính thuyết phục, Nguyễn Trãi đã đưa ra hàng loạt dẫn chứng tiêu biểu từ lịch sử, như việc các quan lại thời Hán, Đường tiến cử những người tài giỏi đảm nhiệm trọng trách. Những dẫn chứng cụ thể, xác thực ấy vừa làm sáng tỏ luận điểm, vừa tạo nền tảng vững chắc cho lập luận. Bên cạnh đó, tác giả còn kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và cảm xúc, thể hiện sự trăn trở của nhà vua trước thực trạng hiền tài chưa được phát hiện hết. Đặc biệt, lời lẽ trong chiếu vừa khiêm nhường, chân thành vừa mang tính khích lệ, khuyến khích các quan tiến cử và người có tài tự ra giúp nước. Nhờ vậy, nghệ thuật lập luận của Nguyễn Trãi không chỉ giàu lí tính mà còn giàu sức lay động, góp phần làm nổi bật tư tưởng đề cao hiền tài trong công cuộc dựng nước và giữ nước.
Câu 2.
Trong dòng chảy mạnh mẽ của thời đại tri thức và toàn cầu hóa, con người – đặc biệt là những cá nhân có tri thức và tài năng – trở thành nguồn lực quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia. Một đất nước muốn vươn lên bền vững không thể thiếu đội ngũ nhân tài biết cống hiến và sáng tạo. Tuy nhiên, thực tế hiện nay ở Việt Nam đang xuất hiện một hiện tượng đáng suy ngẫm: không ít người có trình độ cao, sau khi được đào tạo lại lựa chọn học tập, làm việc và định cư ở nước ngoài. Hiện tượng ấy thường được gọi bằng một cái tên quen thuộc: “chảy máu chất xám”. Đây không chỉ là câu chuyện của cá nhân mà còn đặt ra nhiều vấn đề cần suy nghĩ đối với sự phát triển của đất nước trong hiện tại và tương lai.
“Chảy máu chất xám” là cách nói ẩn dụ dùng để chỉ hiện tượng nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, tri thức và tài năng rời bỏ đất nước để học tập, làm việc và cống hiến lâu dài ở nước ngoài. “Chất xám” tượng trưng cho trí tuệ, năng lực sáng tạo của con người, còn “chảy máu” gợi sự thất thoát, mất mát đáng tiếc của nguồn lực quý giá ấy. Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, hiện tượng này diễn ra khi nhiều người trẻ tài năng, sau quá trình được đào tạo trong nước hoặc du học bằng nguồn lực của quốc gia, lại lựa chọn ở lại các quốc gia phát triển để làm việc vì môi trường nghiên cứu tốt hơn, cơ hội phát triển rộng mở hơn. Như vậy, “chảy máu chất xám” không chỉ là sự dịch chuyển lao động đơn thuần mà còn là sự thất thoát nguồn nhân lực tinh hoa, ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phát triển khoa học, kinh tế và xã hội của đất nước.
Hiện tượng “chảy máu chất xám” xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Trước hết, môi trường làm việc và nghiên cứu trong nước ở một số lĩnh vực còn nhiều hạn chế, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, cũng như cơ hội phát triển nghề nghiệp chưa thật sự tương xứng với năng lực của người tài. Trong khi đó, các quốc gia phát triển lại có chính sách đãi ngộ hấp dẫn, môi trường học thuật cởi mở và cơ hội thăng tiến rộng mở, khiến nhiều người lựa chọn ở lại để phát huy tối đa khả năng của mình. Bên cạnh đó, cơ chế sử dụng và trọng dụng nhân tài ở một số nơi chưa thật sự hiệu quả, đôi khi còn tồn tại sự ràng buộc bởi thủ tục, tư duy quản lý cứng nhắc, khiến người có năng lực khó phát huy hết tiềm năng. Ngoài ra, cũng có nguyên nhân từ tâm lí cá nhân, khi một số người mong muốn tìm kiếm môi trường sống, làm việc thuận lợi hơn hoặc chịu ảnh hưởng bởi xu hướng hội nhập toàn cầu. Tất cả những yếu tố ấy đã góp phần làm nảy sinh và gia tăng hiện tượng “chảy máu chất xám” trong xã hội hiện nay.
Hiện tượng này đã để lại nhiều hệ lụy đáng lo ngại đối với sự phát triển của đất nước. Trước hết, nó gây ra sự thất thoát nguồn nhân lực chất lượng cao – lực lượng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế. Khi những người tài lựa chọn cống hiến cho các quốc gia khác, đất nước sẽ thiếu hụt đội ngũ chuyên gia, nhà nghiên cứu và lao động trí thức, từ đó làm chậm quá trình đổi mới và sáng tạo. Bên cạnh đó, hiện tượng này còn dẫn đến sự lãng phí nguồn lực đào tạo, bởi nhiều người được nuôi dưỡng, giáo dục bằng nguồn lực của quốc gia nhưng lại không trực tiếp đóng góp cho sự phát triển của đất nước. Về lâu dài, “chảy máu chất xám” có thể làm suy giảm năng lực cạnh tranh và vị thế của quốc gia trong thời đại tri thức, khi nguồn lực trí tuệ – yếu tố then chốt của sự phát triển – bị phân tán ra bên ngoài. Vì vậy, đây là vấn đề cần được nhìn nhận nghiêm túc và có những giải pháp phù hợp để hạn chế.
Để hạn chế hiện tượng “chảy máu chất xám”, cần có những giải pháp đồng bộ từ phía Nhà nước, xã hội và mỗi cá nhân. Nhà nước cần xây dựng chính sách phát hiện, đào tạo và trọng dụng nhân tài một cách hiệu quả, tạo điều kiện để người có năng lực được làm việc đúng chuyên môn và phát huy tối đa khả năng của mình. Đồng thời, cần cải thiện môi trường làm việc, đầu tư mạnh mẽ cho khoa học – công nghệ, nâng cao chế độ đãi ngộ và cơ hội phát triển nghề nghiệp, từ đó tạo động lực để người tài yên tâm cống hiến lâu dài. Bên cạnh đó, xã hội cũng cần xây dựng một môi trường công bằng, minh bạch, tôn trọng giá trị trí tuệ, để những người có tài năng cảm thấy được ghi nhận và trân trọng. Về phía mỗi cá nhân, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần ý thức rõ trách nhiệm của mình đối với quê hương, đất nước, biết trân trọng tri thức đã được bồi dưỡng và sẵn sàng đem tài năng của mình góp phần xây dựng, phát triển quốc gia. Khi những điều kiện ấy được thực hiện đồng bộ, hiện tượng “chảy máu chất xám” sẽ dần được hạn chế, góp phần giữ gìn và phát huy nguồn lực trí tuệ quý giá của đất nước.
Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận vấn đề “chảy máu chất xám” một cách khách quan và đa chiều. Không phải mọi trường hợp người tài ra nước ngoài học tập, làm việc đều mang ý nghĩa tiêu cực. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc tiếp cận với môi trường giáo dục tiên tiến, khoa học – công nghệ hiện đại ở các quốc gia phát triển có thể giúp con người mở rộng tri thức, nâng cao trình độ và tích lũy kinh nghiệm quý báu. Nếu sau đó họ quay trở về hoặc có những đóng góp cho quê hương bằng nhiều hình thức khác nhau, thì đó lại trở thành nguồn lực tích cực cho sự phát triển của đất nước. Vì vậy, vấn đề không phải là ngăn cản sự dịch chuyển của nhân tài, mà là tạo điều kiện và cơ chế phù hợp để thu hút, kết nối và phát huy trí tuệ của họ cho sự phát triển chung của quốc gia.
Là một học sinh trong thời đại hội nhập, em nhận thức sâu sắc rằng tri thức và tài năng của mỗi cá nhân không chỉ phục vụ cho sự phát triển của bản thân mà còn gắn liền với trách nhiệm đối với quê hương, đất nước. Vì vậy, ngay từ bây giờ, em cần nỗ lực học tập, rèn luyện tri thức, trau dồi kĩ năng và phẩm chất, để trở thành người có ích cho xã hội. Đồng thời, em cũng ý thức rằng dù học tập hay tiếp cận tri thức ở bất cứ môi trường nào, điều quan trọng nhất vẫn là giữ gìn tinh thần cống hiến, hướng về Tổ quốc, sẵn sàng đem những gì mình học hỏi được góp phần xây dựng và phát triển đất nước trong tương lai.
Nhìn chung, “chảy máu chất xám” là một hiện tượng đáng quan tâm trong bối cảnh hội nhập hiện nay, bởi nó liên quan trực tiếp đến nguồn lực trí tuệ – yếu tố then chốt của sự phát triển quốc gia. Việc nhận diện đúng nguyên nhân, hệ lụy và có những giải pháp phù hợp để thu hút, trọng dụng nhân tài là yêu cầu cấp thiết đối với mỗi đất nước. Đồng thời, mỗi người trẻ cũng cần ý thức rõ trách nhiệm của mình, không ngừng học tập và rèn luyện để khi trưởng thành có thể dùng tri thức và tài năng góp phần xây dựng, phát triển quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh, văn minh.
Câu 1.
- Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài: Nghị luận.
Câu 2.
- Chủ thể của bài viết: Vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi).
Câu 3.
- Mục đích chính của văn bản trên: Kêu gọi và khuyến khích việc tiến cử, tìm kiếm người hiền tài để ra giúp nước, góp phần xây dựng và củng cố triều đại.
- Những đường lối tiến cử người hiền tài được đề cập trong văn bản:
+ Các quan đại thần tiến cử người hiền tài cho triều đình.
+ Những người có tài tự đến tiến cử bản thân để được trọng dụng.
=> Qua đó thể hiện chủ trương coi trọng và tìm kiếm nhân tài để phục vụ đất nước.
Câu 4.
- Theo văn bản, khi có được nước rồi, việc đầu tiên vua cần làm là chọn người hiền tài về giúp cho đất nước. Để minh chứng cho luận điểm đó, người viết đã đưa ra dẫn chứng trong lịch sử Trung Quốc, như: Tiêu Hà tiến cử Tào Tham, Nguỵ Vô Tri tiến cử Trần Bình, Địch Nhân Kiệt tiến cử Trương Cửu Linh, Tiêu Tung tiến cử Hàn Hưu. Tuy tài năng và phẩm chất của những người này có cao thấp khác nhau, nhưng đều được tiến cử và được giao đảm đương trọng trách, góp phần giúp đất nước thịnh trị.
- Nhận xét cách nêu dẫn chứng: Cụ thể, tiêu biểu, có cơ sở lịch sử, đồng thời được liệt kê theo lối tăng tiến, vừa làm nổi bật truyền thống trọng dụng hiền tài của các triều đại trước, vừa tăng sức thuyết phục cho lập luận, qua đó nhấn mạnh vai trò quan trọng của việc tiến cử và trọng dụng nhân tài trong công cuộc trị quốc.
Câu 5.
Thông qua văn bản, có thể nhận thấy chủ thể bài viết là một bậc quân vương có tầm nhìn và tư tưởng trị quốc tiến bộ. Trước hết, đó là người ý thức sâu sắc vai trò của hiền tài đối với sự hưng thịnh của đất nước, luôn trăn trở, lo lắng vì chưa tìm được nhiều người tài giúp việc triều chính. Bên cạnh đó, chủ thể còn thể hiện tinh thần cầu hiền, trọng dụng nhân tài, sẵn sàng mở rộng con đường tiến cử để những người có tài năng và đức độ có cơ hội ra giúp nước. Đồng thời, qua cách lập luận chặt chẽ, dẫn chứng lịch sử xác đáng và lời lẽ chân thành, có thể thấy ở chủ thể tấm lòng vì dân vì nước, tinh thần trách nhiệm lớn lao đối với vận mệnh quốc gia. Qua đó, văn bản thể hiện tư tưởng đề cao hiền tài là nhân tố quan trọng để xây dựng và phát triển đất nước.
Câu 1.
Trong nhịp sống hiện đại đầy biến động, lối sống chủ động trở thành một phẩm chất đặc biệt quan trọng. Chủ động là tự ý thức về mục tiêu của bản thân, tự quyết định hướng đi thay vì bị cuốn theo hoàn cảnh hay ý kiến số đông. Khi sống chủ động, con người biết lập kế hoạch, quản lí thời gian, nắm bắt cơ hội và dám chịu trách nhiệm cho lựa chọn của mình. Điều đó giúp ta không rơi vào trạng thái bị động, hoang mang trước thay đổi nhanh chóng của xã hội. Hơn nữa, lối sống chủ động còn nuôi dưỡng bản lĩnh và sự tự tin, bởi mỗi thành quả đạt được đều là kết quả của sự nỗ lực có ý thức. Trong học tập, người chủ động sẽ tìm tòi, sáng tạo và không ngừng hoàn thiện bản thân; trong công việc, họ linh hoạt thích ứng và tạo ra giá trị riêng. Ngược lại, lối sống thụ động dễ khiến con người đánh mất cơ hội và phụ thuộc vào người khác. Vì vậy, rèn luyện tinh thần chủ động chính là cách để mỗi chúng ta làm chủ cuộc đời mình và vững vàng trước mọi thử thách.
Câu 2.
Nguyễn Trãi không chỉ biết đến với tác phẩm nổi tiếng, một áng thiên cổ hùng văn bình ngô đại cáo mà còn được biết đến vơi những bài thơ thiên nhiên và con người như Côn Sơn Ca, Cây Chuối… một trong những tác phẩm thiên nhiên và con người ấy còn phải kể đến bài thơ "Bảo kính cảnh giới" của ông. Đó là bài thơ cảnh ngày hè với những thiên nhiên con người và tâm trạng của Nguyễn Trãi.
Trong những bài thơ về tình yêu thiên nhiên Côn Sơn chính là nơi dừng chân của Nguyễn Trải trong những ngày tháng buồn bã mệt mỏi nơi quan trường.
Sự ung dung nhàn hạ ấy được thể hiện trong câu thơ đầu tiên:
Rồi hóng mát thuở ngày trường
Câu không đơn thuần tả nhàn tản. Chữ “rồi” gợi một trạng thái sau biến cố – sau những tháng năm tận trung mà bị nghi kị. “Ngày trường” kéo dài không chỉ là thời gian mùa hạ, mà còn là quãng đời ẩn dật. Tư thế “hóng mát” vì thế không phải lánh đời, mà là một cách lùi lại để chiêm nghiệm.
Thiên nhiên nơi chốn quê hương chính là nguồn cảm hứng vô tân cho tác giả làm cho ông cảm thây vui vẻ phần nào trong cuộc sống ở quê.
“Hòe lục đùn đùn tán rợp trương.
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ,
Hồng liên trì đã tịn mùi hương”
Bốn câu tiếp đã vẽ nên bức tranh mùa hè sống động, giàu sức gợi. Hình ảnh:“Hoè lục đùn đùn tán rợp trương” đặc biệt ấn tượng với từ láy “đùn đùn” – diễn tả sức sống căng tràn, lớp lớp tán lá vươn ra mạnh mẽ. Cây hòe không tĩnh tại mà như đang vận động, lan tỏa bóng mát. Tiếp đó, sắc đỏ của “thạch lựu” được miêu tả bằng động từ “phun” – gợi cảm giác bừng nở, rực cháy. Màu xanh của hòe, đỏ của lựu, hồng của sen (“hồng liên”) tạo nên bảng màu tươi tắn, hài hòa. Đặc biệt, “hồng liên trì đã tịn mùi hương” không chỉ có sắc mà còn có hương, đánh thức nhiều giác quan. Bức tranh vì thế trở nên đa chiều, giàu sức sống.
Không những thế mùa hè còn mang đến cho tác giả những những phiên chợ những làng ngư phủ. Cuộc sống thôn dã hiện ra với vẻ tấp nập hiếm có của con người nơi đây. Chính chợ phản ánh cuộc sống của con người có no đủ, giàu có hay không:
“Lao xao chợ cá làng ngư phủ,
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”
Âm thanh “lao xao”, “dắng dỏi” khiến bức tranh thêm sinh động. Tiếng chợ cá gợi cuộc sống lao động bình dị, ấm no; tiếng ve như khúc nhạc mùa hè ngân vang dưới ánh chiều. Thiên nhiên và con người hòa quyện trong nhịp sống thanh bình.
Hai câu kết bất ngờ nâng tầm cảm xúc:
"Lẽ có Ngu Cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khắp đòi phương"
“Ngu cầm” gợi điển tích vua Nghiêu Thuấn – biểu tượng của thái bình thịnh trị. Ước muốn gảy một tiếng đàn để “dân giàu đủ” cho thấy tấm lòng ưu dân sâu sắc. Dù ở ẩn, Nguyễn Trãi vẫn canh cánh nỗi lo cho dân, cho nước. Cái “nhàn” vì thế không tách rời trách nhiệm công dân; nó là khoảng lặng của một tâm hồn lớn luôn hướng về nhân dân.
Như vậy, thông qua bài thơ, chúng ta có thể thấy được tình yêu cùng sự giao hòa đối với thiên nhiên của tác giả, giống như ông đã từng bộc bạch: "Non nước cùng ta đã có duyên" ("Tự thán"- bài 4). Là một thi sĩ, ông đến với thiên nhiên trong mọi hoàn cảnh nhưng cuối cùng, tâm hồn của ông vẫn hướng đến nhân dân, đến đất nước. Qua lời tâm sự và mong ước về cuộc sống của nhân dân, độc giả có thể thấy được tâm hồn và lí tưởng cao đẹp của tác giả Nguyễn Trãi. Tình yêu thiên nhiên, tạo vật đã quyện hòa và làm ngời sáng hơn nữa tình yêu đối với đất nước, nhân dân.
Câu 1.
Trong nhịp sống hiện đại đầy biến động, lối sống chủ động trở thành một phẩm chất đặc biệt quan trọng. Chủ động là tự ý thức về mục tiêu của bản thân, tự quyết định hướng đi thay vì bị cuốn theo hoàn cảnh hay ý kiến số đông. Khi sống chủ động, con người biết lập kế hoạch, quản lí thời gian, nắm bắt cơ hội và dám chịu trách nhiệm cho lựa chọn của mình. Điều đó giúp ta không rơi vào trạng thái bị động, hoang mang trước thay đổi nhanh chóng của xã hội. Hơn nữa, lối sống chủ động còn nuôi dưỡng bản lĩnh và sự tự tin, bởi mỗi thành quả đạt được đều là kết quả của sự nỗ lực có ý thức. Trong học tập, người chủ động sẽ tìm tòi, sáng tạo và không ngừng hoàn thiện bản thân; trong công việc, họ linh hoạt thích ứng và tạo ra giá trị riêng. Ngược lại, lối sống thụ động dễ khiến con người đánh mất cơ hội và phụ thuộc vào người khác. Vì vậy, rèn luyện tinh thần chủ động chính là cách để mỗi chúng ta làm chủ cuộc đời mình và vững vàng trước mọi thử thách.
Câu 2.
Nguyễn Trãi không chỉ biết đến với tác phẩm nổi tiếng, một áng thiên cổ hùng văn bình ngô đại cáo mà còn được biết đến vơi những bài thơ thiên nhiên và con người như Côn Sơn Ca, Cây Chuối… một trong những tác phẩm thiên nhiên và con người ấy còn phải kể đến bài thơ "Bảo kính cảnh giới" của ông. Đó là bài thơ cảnh ngày hè với những thiên nhiên con người và tâm trạng của Nguyễn Trãi.
Trong những bài thơ về tình yêu thiên nhiên Côn Sơn chính là nơi dừng chân của Nguyễn Trải trong những ngày tháng buồn bã mệt mỏi nơi quan trường.
Sự ung dung nhàn hạ ấy được thể hiện trong câu thơ đầu tiên:
Rồi hóng mát thuở ngày trường
Câu không đơn thuần tả nhàn tản. Chữ “rồi” gợi một trạng thái sau biến cố – sau những tháng năm tận trung mà bị nghi kị. “Ngày trường” kéo dài không chỉ là thời gian mùa hạ, mà còn là quãng đời ẩn dật. Tư thế “hóng mát” vì thế không phải lánh đời, mà là một cách lùi lại để chiêm nghiệm.
Thiên nhiên nơi chốn quê hương chính là nguồn cảm hứng vô tân cho tác giả làm cho ông cảm thây vui vẻ phần nào trong cuộc sống ở quê.
“Hòe lục đùn đùn tán rợp trương.
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ,
Hồng liên trì đã tịn mùi hương”
Bốn câu tiếp đã vẽ nên bức tranh mùa hè sống động, giàu sức gợi. Hình ảnh:“Hoè lục đùn đùn tán rợp trương” đặc biệt ấn tượng với từ láy “đùn đùn” – diễn tả sức sống căng tràn, lớp lớp tán lá vươn ra mạnh mẽ. Cây hòe không tĩnh tại mà như đang vận động, lan tỏa bóng mát. Tiếp đó, sắc đỏ của “thạch lựu” được miêu tả bằng động từ “phun” – gợi cảm giác bừng nở, rực cháy. Màu xanh của hòe, đỏ của lựu, hồng của sen (“hồng liên”) tạo nên bảng màu tươi tắn, hài hòa. Đặc biệt, “hồng liên trì đã tịn mùi hương” không chỉ có sắc mà còn có hương, đánh thức nhiều giác quan. Bức tranh vì thế trở nên đa chiều, giàu sức sống.
Không những thế mùa hè còn mang đến cho tác giả những những phiên chợ những làng ngư phủ. Cuộc sống thôn dã hiện ra với vẻ tấp nập hiếm có của con người nơi đây. Chính chợ phản ánh cuộc sống của con người có no đủ, giàu có hay không:
“Lao xao chợ cá làng ngư phủ,
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”
Âm thanh “lao xao”, “dắng dỏi” khiến bức tranh thêm sinh động. Tiếng chợ cá gợi cuộc sống lao động bình dị, ấm no; tiếng ve như khúc nhạc mùa hè ngân vang dưới ánh chiều. Thiên nhiên và con người hòa quyện trong nhịp sống thanh bình.
Hai câu kết bất ngờ nâng tầm cảm xúc:
"Lẽ có Ngu Cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khắp đòi phương"
“Ngu cầm” gợi điển tích vua Nghiêu Thuấn – biểu tượng của thái bình thịnh trị. Ước muốn gảy một tiếng đàn để “dân giàu đủ” cho thấy tấm lòng ưu dân sâu sắc. Dù ở ẩn, Nguyễn Trãi vẫn canh cánh nỗi lo cho dân, cho nước. Cái “nhàn” vì thế không tách rời trách nhiệm công dân; nó là khoảng lặng của một tâm hồn lớn luôn hướng về nhân dân.
Như vậy, thông qua bài thơ, chúng ta có thể thấy được tình yêu cùng sự giao hòa đối với thiên nhiên của tác giả, giống như ông đã từng bộc bạch: "Non nước cùng ta đã có duyên" ("Tự thán"- bài 4). Là một thi sĩ, ông đến với thiên nhiên trong mọi hoàn cảnh nhưng cuối cùng, tâm hồn của ông vẫn hướng đến nhân dân, đến đất nước. Qua lời tâm sự và mong ước về cuộc sống của nhân dân, độc giả có thể thấy được tâm hồn và lí tưởng cao đẹp của tác giả Nguyễn Trãi. Tình yêu thiên nhiên, tạo vật đã quyện hòa và làm ngời sáng hơn nữa tình yêu đối với đất nước, nhân dân.