Lưu Thuỳ Linh
Giới thiệu về bản thân
Câu 1
" Chiếu cầu hiền tài " chính là áng văn hành chính mẫu mực của vua Lê Lợi. Văn bản không chỉ thể hiện rõ khát vọng chấn hưng đất nước mà còn là một bài toán lập luận sắc sảo, đầy sức thuyết phục lòng người. Đầu tiên, vua Lê Lợi đã thiết lập nên một hệ thống luận điểm chặt chẽ, đi từ nguyên lý chung đến thực tiễn khách quan: khẳng định rằng "Được thịnh trị tất ở việc cử hiền, được hiền tài tất do sự tiến cửi". Cách lập luận này đã tạo ra một luận điểm vững chắc về đạo lý, khiến người nghe không thể phủ nhận. Tiếp theo đó, việc sử dụng hệ thống điển tích, điển cổ phong phú như: Tiêu Hà, Mạo Toại, Ninh Thích,..Không chỉ làm tăng tính yên bác mà còn tạo nên tấm gương soi chiếu, thôi thúc các bậc trí thức phá bỏ mạc cảm cá nhân. Và cuối cùng là sự đối lập giũa hình ảnh "lo sợ, như gần vực sâu" của một bậc quân vương và một bên là sự "ẩn dật, lánh đời" của kẻ sĩ, từ đó khơi gọi trách nhiệm đạo đức của người tài đối với đất nước. Ngôn từ trong văn bản vừa mang tính chất mệnh lệnh hành chính của một vị vua, vừa có sự khiêm cung, cởi mở, xoá tan tâm lý "đem ngọc rao bán" để hướng tới mục tiêu chung là đổi mới đất nước. Tất cả tao nên một áng văn nghị luận mẫu mực, vùa có sức nặng tâm lý, vừa có sức truyền cảm của trái tim.
Câu 2
"Hiền tài là nguyên khí quốc gia", nhưng thực tế hiện nay, nguốn "nguyên khí" ấy đang có xu hướng dịch chuyển mạnh mẽ ra nước ngoài, tạo nên hiện tượng "chảy máu chất xám". Đây không chỉ là tổn thất về tri thứ mà còn là bài toán hóc búa về chính sách, đãi ngộ và môi trường phát triển, đặt ra thách thức lớn cho sự hứng thịnh của đất nước trong thời đại toàn cầu hoá.
Vậy liệu đã bao giờ ta tự hỏi "chảy máu chất xám" là gì chưa? "Chảy máu chất xám" hay còn gọi là brain drain là sự dịch chuyển nguồn nhân lực chất lượng cao sang nơi có điều kiện tốt hơn.
Hiện tượng này đã gây ra một thực trọng nhức nhối, đó chính là phần lớn các cá nhân ưu tú sau khi hoàn thành chương trình học tập tại các quốc gia tiên tiến như Anh, Mỹ, Úc, Canada,...thường chọn con đường ở lại thay vì hồi hương. Tại Việt Nam, theo thống kê không chính thức từ chương trình "Đường lên đỉnh Olympia" cho thấy số lượng quán quân chọn định cư và làm việc tạin nước ngoài chiếm tỉ lệ rất lớn.
Nếu ngày xưa, vua Lê Thái Tổ lo sợ hiền tài "lánh đời ẩn dật" vì chưa có chỗ dùng thì ngày nay, người tài ra đi lại xuất phát từ những lý do thực tế hơn về điều kiện sống và môi trường cống hiến. Đầu tiên, là do một số nguyên nhân trong nước như chế độ đãi ngộ chưa thoả đáng, môi trường làm việc thiếu sự chuyên nghiệp, ít cơ hội thăng tiến,...Chính những điều ấy đã là cho họ nản lòng mà chuyển hướng sang nước ngoài, và từ đó ta có được nguyên nhân thứ hai. Nguyên nhân tiếp theo là do sức thu hút từ những nước phát triển, tôn trọng quyền tự do sáng tạo, chính sách "trải chiếu hoa" mời gọi,...Và cuối cùng đến từ tâm lý sính ngoại, khát vọng được khẳng định bản thân.
Hậu quả của hiện tượng trên đã mang lại những tổn thất nặng nề cho quốc gia sở tại. Đầu tiên là lãng phí nguồn lực đào tạo khi mà nhà nước đầu tư ngân sách cho giáo dục đào tạo, nhưng khi đến độ tuổi cống hiến cá nhân đó lại mang tài năng phục vụ cho nền kinh tế nước khác. Tiếp theo là kìm hãm sự phát triển kinh tế của đất nước do thiết hụt đội ngũ chuyên ngành khiến các dự án quan trọng bin đình trệ, công nghệ không được cải tiến, đất nươc chậm bước trong cuộc đua toàn cầu. Cuối cùng là gia tăng khoảng cách giàu nghèo, các nước giàu càng trở nên giàu hơn nhờ thu hút được tinh hoa nhân loại, trong khi các nước đang phát triển rơi vào vòng xoáy thiếu hụt nhân lực và chậm tiến.
Từ những hệ luỵ nghiêm trọng đã nêu trên, đòi hỏi chúng ta phải sớm có những biện pháp quyết liệt để giữ chân vầ thu hút nguồn trí lực cho đất nước. Nhà nước cần phải cải thiện chế độ lương bổng, đầu tư các trang thiết bị hiện đại, tạo môi trường làm việc công bằng và minh bạch. Doanh Nghiệp cần có chính sách đãi ngộ linh hoạt, tôn trọng sự sáng tạo cá nhân và xây dựng lộ trình thăng tiến rõ ràng. Mỗi cá nhân cần bồi dưỡng tự tôn dân tộc, ý thức được trách nhiệm của bản thân đối với sự phát triển của quê hương.
Mặt khác, ta không nên dùng cái nhìn phiến diện để định khiến hay phán xét sự ra đi của các cá nhân. Bởi lẽ quyền được lực chọn môi trường phát triển tốt nhất cho bản thân mình cũng là quyền lợi chính đáng của mỗi con người.
Đứng trước thực trạng "chảy máu chất xám" mỗi người trẻ chúng ta cân hiểu rằng: Tổ quốc không chỉ cần những bộ óc thông tuệ mà còn cần trái tim biết trăn trở vì vệnh mệnh dân tộc. Bản thân toou tự ngủ với lòng mình rằng phải không ngừng trau doiuf tri thức để dù ở bất cứ đâu, sợi dây liên kết quể hương vẫn luôn là động lực lớn nhất để tôi vượt lên chính mình.
Yêu nước không chỉ là một khái niệm trừu tượng, mà là sự lựa chọn cống hiến trí tuệ cho nơi mình đã sinh ra. Khi mỗi cá nhân dung hoà giữa khát vọng bản thân và trách nhiệm dân tộc, và khi đất nước biết "trải chiếu hoa" đợi đón người tài thì "dòng chảy chất xám" sẽ không còn sự mất mát, mà sẽ trở thành mạch nguồn vô tận đưa dân tộc tiến ra biển lớn toàn cầu.
Câu 1
" Chiếu cầu hiền tài " chính là áng văn hành chính mẫu mực của vua Lê Lợi. Văn bản không chỉ thể hiện rõ khát vọng chấn hưng đất nước mà còn là một bài toán lập luận sắc sảo, đầy sức thuyết phục lòng người. Đầu tiên, vua Lê Lợi đã thiết lập nên một hệ thống luận điểm chặt chẽ, đi từ nguyên lý chung đến thực tiễn khách quan: khẳng định rằng "Được thịnh trị tất ở việc cử hiền, được hiền tài tất do sự tiến cửi". Cách lập luận này đã tạo ra một luận điểm vững chắc về đạo lý, khiến người nghe không thể phủ nhận. Tiếp theo đó, việc sử dụng hệ thống điển tích, điển cổ phong phú như: Tiêu Hà, Mạo Toại, Ninh Thích,..Không chỉ làm tăng tính yên bác mà còn tạo nên tấm gương soi chiếu, thôi thúc các bậc trí thức phá bỏ mạc cảm cá nhân. Và cuối cùng là sự đối lập giũa hình ảnh "lo sợ, như gần vực sâu" của một bậc quân vương và một bên là sự "ẩn dật, lánh đời" của kẻ sĩ, từ đó khơi gọi trách nhiệm đạo đức của người tài đối với đất nước. Ngôn từ trong văn bản vừa mang tính chất mệnh lệnh hành chính của một vị vua, vừa có sự khiêm cung, cởi mở, xoá tan tâm lý "đem ngọc rao bán" để hướng tới mục tiêu chung là đổi mới đất nước. Tất cả tao nên một áng văn nghị luận mẫu mực, vùa có sức nặng tâm lý, vừa có sức truyền cảm của trái tim.
Câu 2
"Hiền tài là nguyên khí quốc gia", nhưng thực tế hiện nay, nguốn "nguyên khí" ấy đang có xu hướng dịch chuyển mạnh mẽ ra nước ngoài, tạo nên hiện tượng "chảy máu chất xám". Đây không chỉ là tổn thất về tri thứ mà còn là bài toán hóc búa về chính sách, đãi ngộ và môi trường phát triển, đặt ra thách thức lớn cho sự hứng thịnh của đất nước trong thời đại toàn cầu hoá.
Vậy liệu đã bao giờ ta tự hỏi "chảy máu chất xám" là gì chưa? "Chảy máu chất xám" hay còn gọi là brain drain là sự dịch chuyển nguồn nhân lực chất lượng cao sang nơi có điều kiện tốt hơn.
Hiện tượng này đã gây ra một thực trọng nhức nhối, đó chính là phần lớn các cá nhân ưu tú sau khi hoàn thành chương trình học tập tại các quốc gia tiên tiến như Anh, Mỹ, Úc, Canada,...thường chọn con đường ở lại thay vì hồi hương. Tại Việt Nam, theo thống kê không chính thức từ chương trình "Đường lên đỉnh Olympia" cho thấy số lượng quán quân chọn định cư và làm việc tạin nước ngoài chiếm tỉ lệ rất lớn.
Nếu ngày xưa, vua Lê Thái Tổ lo sợ hiền tài "lánh đời ẩn dật" vì chưa có chỗ dùng thì ngày nay, người tài ra đi lại xuất phát từ những lý do thực tế hơn về điều kiện sống và môi trường cống hiến. Đầu tiên, là do một số nguyên nhân trong nước như chế độ đãi ngộ chưa thoả đáng, môi trường làm việc thiếu sự chuyên nghiệp, ít cơ hội thăng tiến,...Chính những điều ấy đã là cho họ nản lòng mà chuyển hướng sang nước ngoài, và từ đó ta có được nguyên nhân thứ hai. Nguyên nhân tiếp theo là do sức thu hút từ những nước phát triển, tôn trọng quyền tự do sáng tạo, chính sách "trải chiếu hoa" mời gọi,...Và cuối cùng đến từ tâm lý sính ngoại, khát vọng được khẳng định bản thân.
Hậu quả của hiện tượng trên đã mang lại những tổn thất nặng nề cho quốc gia sở tại. Đầu tiên là lãng phí nguồn lực đào tạo khi mà nhà nước đầu tư ngân sách cho giáo dục đào tạo, nhưng khi đến độ tuổi cống hiến cá nhân đó lại mang tài năng phục vụ cho nền kinh tế nước khác. Tiếp theo là kìm hãm sự phát triển kinh tế của đất nước do thiết hụt đội ngũ chuyên ngành khiến các dự án quan trọng bin đình trệ, công nghệ không được cải tiến, đất nươc chậm bước trong cuộc đua toàn cầu. Cuối cùng là gia tăng khoảng cách giàu nghèo, các nước giàu càng trở nên giàu hơn nhờ thu hút được tinh hoa nhân loại, trong khi các nước đang phát triển rơi vào vòng xoáy thiếu hụt nhân lực và chậm tiến.
Từ những hệ luỵ nghiêm trọng đã nêu trên, đòi hỏi chúng ta phải sớm có những biện pháp quyết liệt để giữ chân vầ thu hút nguồn trí lực cho đất nước. Nhà nước cần phải cải thiện chế độ lương bổng, đầu tư các trang thiết bị hiện đại, tạo môi trường làm việc công bằng và minh bạch. Doanh Nghiệp cần có chính sách đãi ngộ linh hoạt, tôn trọng sự sáng tạo cá nhân và xây dựng lộ trình thăng tiến rõ ràng. Mỗi cá nhân cần bồi dưỡng tự tôn dân tộc, ý thức được trách nhiệm của bản thân đối với sự phát triển của quê hương.
Mặt khác, ta không nên dùng cái nhìn phiến diện để định khiến hay phán xét sự ra đi của các cá nhân. Bởi lẽ quyền được lực chọn môi trường phát triển tốt nhất cho bản thân mình cũng là quyền lợi chính đáng của mỗi con người.
Đứng trước thực trạng "chảy máu chất xám" mỗi người trẻ chúng ta cân hiểu rằng: Tổ quốc không chỉ cần những bộ óc thông tuệ mà còn cần trái tim biết trăn trở vì vệnh mệnh dân tộc. Bản thân toou tự ngủ với lòng mình rằng phải không ngừng trau doiuf tri thức để dù ở bất cứ đâu, sợi dây liên kết quể hương vẫn luôn là động lực lớn nhất để tôi vượt lên chính mình.
Yêu nước không chỉ là một khái niệm trừu tượng, mà là sự lựa chọn cống hiến trí tuệ cho nơi mình đã sinh ra. Khi mỗi cá nhân dung hoà giữa khát vọng bản thân và trách nhiệm dân tộc, và khi đất nước biết "trải chiếu hoa" đợi đón người tài thì "dòng chảy chất xám" sẽ không còn sự mất mát, mà sẽ trở thành mạch nguồn vô tận đưa dân tộc tiến ra biển lớn toàn cầu.
Câu 1
Ai đó đã từng nói rằng:"Chủ động là làm điều đúng mà không cần phải bảo." Vậy liệu đã bao giờ mà ta tự hỏi rằng lối sống chủ động và chủ động là gì chưa?"Lối sống chủ động chính là chìa khoá giúp cho ta thay dổi vận mệnh, không phụ thuộc vào hoàn cảnh và luôn nắm vắt cơ hội. Người sồng chủ dộng là người dám nghĩ, dám làm, tự chịu trách nhiệm, từ đó rèn luyện bản lĩnh, vượt qua khó khăn và dễ dàng gặt hái được thành công. Trong cuộc sống, sự chủ động không chỉ dừng lại ở việc lập kế hoạch, mà còn là thói quen ứng biến trong mọi tình huống. Thay vì than van, thì họ thường sẽ chuẩn bị kỹ lưỡng để có thể ứng biến với mọi tình huống. Sống chủ động giúp ta tự tin, bản lĩnh và có khả năng biến thử thách thành cơ hội. Ấy vậy mà ngày nay, vẫn còn một bộ phận giới trẻ vẫn còn ỷ lại, thiếu chính kiến và còn qua phụ thuộc vào người khác. Vậy ta cần phải là gì để trở nên chủ động hơn? Ta cần phải rèn luyện sự tự tin của bản thân, học cách chủ động tìm kiếm chứ không chờ đợi cơ hội gõ cửa và thúc đẩy tư duy sáng tạo, kỹ năng giải quyết vấn đề. Lối sống chủ động chính là lối sống quan trọng nhất của tuổi trẻ và con người hiện đại. Hãy biến sự chủ động thành thói quen hàng ngày để không bỏ phí thời gian và vững vàng trước sóng lớn.
Câu 2
Nguyễn Trãi chính là đại thi hào của dân tộc ta. Bài thơ "Bảo khính cảnh giới" chính là một trong những tác phẩm nổi tiếng của ông. Bài thơ đã phản ánh vẻ đẹp độc đáo của bức tranh ngày hè và tâm hồn yêu thiên nhiên, đất nước, con người của nhà thơ.
Bài thơ được sáng tác trong những năm Nguyễn Trãi nhà quan, không được vua tin dùng như trước. "Bảo kính cảnh giới" chính là sự khắc hoạ bức tranh thiên nhiên mùa hè sống động, tươi mát nơi làng quê. Qua đó, bộc lộ tâm hồn yêu thiên nhiên của nhà thơ
Trong bài thơ, những loài hoa quen thuộc như hoè, thạch lựu, hồng liên đã tạo nên một khung cảnh bình dị, gần gũi, quen thuộc. Sắc xanh của cây hoè hoà cùng màu đỏ của cây thạch lựu và màu hồng của hồng liên. Những màu sắc tươi tắn, rực rỡ, căng tràn nhựa sống ấy đã làm cho khung cảnh ngày hè trở nên sống động hơn bao giờ hết. Các động từ mạnh như "đùn đùn", "giương", "phun", "tiễn" đã thể hiện trạng thái của cảnh vật: dù là cuối ngày nhưng sức sống vẫn căng tràn. Nguyễn Trãi đã sử dụng nhữn hình ảnh quen thuộc, gần gũi, độc đáo và có sự phá cách, khác hẳn với những hình ảnh mang tính ước lệ, tượng trung vốn có thường được sử dụng trong thơ đường. Câu thơ :
"Lao xao chợ cá làng ngư phủ; Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương."
Những âm thanh của cuộc sống được cảm nhận từ xa đến gần, từ "lao xao" đến "dắng dỏi" cùng nghệ thuật đảo ngữ như nhấn mạnh thiên nhiên không tĩnh lặng, trầm buồn trong thời khắc "tịch dương" mà lại vô cùng sôi động, rộn rã. Hình ảnh chợ cá, làng ngư phủ là dấu hiệu của sự sốn con người hiện ra trong âm thanh lao xao. "Lao xao" gợi nên cuộc sống thanh bình của người dân làng chài, cảnh mua bán tấp nập, nhộn nhịp. Tiếng ve "dắng dỏi" đặc trưng của mùa hè đến với thơ Nguyễn Trãi lại như góp thêm bản đàn rộn rã hối hả của nhịp sống căng tràn. "Bảo kính cảnh giới" chính là một bức tranh ngày hè có sự kết hợp hài hoà giữa màu sắc và âm thanh, giữa cảnh vật và con người. Cảnh vật ngày hè hiện lên trong bài thơ ngập tràn màu sắc, sự kết hợp độc đáo giữa màu đỏ của hoa lựu trước hiên cùng với cây hoè xanh rợp bóng cùng với âm thanh của tiếng ve, của chợ cá khiến không gian tràn đầy sức sống. Trong không gian ấy, hình ảnh con người hiện lên với sự sung túc và hạnh phúc trong lao động. Những ngày hè ấy đã rung cảm được tâm tư của nhà thơ. Đó cũng chính là tâm hồn của con người đang náo nức muốn hoà cùng niềm vui, sự sống của thiên nhiên và cuộc sống thanh bình của nhân dân.
Bài thơ "Bảo kính cảnh giới " không chỉ là vẻ đẹp của thiên nhiên mùa hè rực rỡ, sống động mà còn là những rung cảm từ vẻ đẹp phong phú, thanh cao của tâm hồn Nguyễn Trãi. Đó là một hồn thơ đã hoà nhịp với mạch sống của dân tộc, mạch sống yên bình, nên thơ tươi đẹp. Bài thơ đã tạo nên bức chân dung cao đẹp, sáng ngời của một nhân cách lớn.
Câu 1
Ai đó đã từng nói rằng:"Chủ động là làm điều đúng mà không cần phải bảo." Vậy liệu đã bao giờ mà ta tự hỏi rằng lối sống chủ động và chủ động là gì chưa?"Lối sống chủ động chính là chìa khoá giúp cho ta thay dổi vận mệnh, không phụ thuộc vào hoàn cảnh và luôn nắm vắt cơ hội. Người sồng chủ dộng là người dám nghĩ, dám làm, tự chịu trách nhiệm, từ đó rèn luyện bản lĩnh, vượt qua khó khăn và dễ dàng gặt hái được thành công. Trong cuộc sống, sự chủ động không chỉ dừng lại ở việc lập kế hoạch, mà còn là thói quen ứng biến trong mọi tình huống. Thay vì than van, thì họ thường sẽ chuẩn bị kỹ lưỡng để có thể ứng biến với mọi tình huống. Sống chủ động giúp ta tự tin, bản lĩnh và có khả năng biến thử thách thành cơ hội. Ấy vậy mà ngày nay, vẫn còn một bộ phận giới trẻ vẫn còn ỷ lại, thiếu chính kiến và còn qua phụ thuộc vào người khác. Vậy ta cần phải là gì để trở nên chủ động hơn? Ta cần phải rèn luyện sự tự tin của bản thân, học cách chủ động tìm kiếm chứ không chờ đợi cơ hội gõ cửa và thúc đẩy tư duy sáng tạo, kỹ năng giải quyết vấn đề. Lối sống chủ động chính là lối sống quan trọng nhất của tuổi trẻ và con người hiện đại. Hãy biến sự chủ động thành thói quen hàng ngày để không bỏ phí thời gian và vững vàng trước sóng lớn.
Câu 2
Nguyễn Trãi chính là đại thi hào của dân tộc ta. Bài thơ "Bảo khính cảnh giới" chính là một trong những tác phẩm nổi tiếng của ông. Bài thơ đã phản ánh vẻ đẹp độc đáo của bức tranh ngày hè và tâm hồn yêu thiên nhiên, đất nước, con người của nhà thơ.
Bài thơ được sáng tác trong những năm Nguyễn Trãi nhà quan, không được vua tin dùng như trước. "Bảo kính cảnh giới" chính là sự khắc hoạ bức tranh thiên nhiên mùa hè sống động, tươi mát nơi làng quê. Qua đó, bộc lộ tâm hồn yêu thiên nhiên của nhà thơ
Trong bài thơ, những loài hoa quen thuộc như hoè, thạch lựu, hồng liên đã tạo nên một khung cảnh bình dị, gần gũi, quen thuộc. Sắc xanh của cây hoè hoà cùng màu đỏ của cây thạch lựu và màu hồng của hồng liên. Những màu sắc tươi tắn, rực rỡ, căng tràn nhựa sống ấy đã làm cho khung cảnh ngày hè trở nên sống động hơn bao giờ hết. Các động từ mạnh như "đùn đùn", "giương", "phun", "tiễn" đã thể hiện trạng thái của cảnh vật: dù là cuối ngày nhưng sức sống vẫn căng tràn. Nguyễn Trãi đã sử dụng nhữn hình ảnh quen thuộc, gần gũi, độc đáo và có sự phá cách, khác hẳn với những hình ảnh mang tính ước lệ, tượng trung vốn có thường được sử dụng trong thơ đường. Câu thơ :
"Lao xao chợ cá làng ngư phủ; Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương."
Những âm thanh của cuộc sống được cảm nhận từ xa đến gần, từ "lao xao" đến "dắng dỏi" cùng nghệ thuật đảo ngữ như nhấn mạnh thiên nhiên không tĩnh lặng, trầm buồn trong thời khắc "tịch dương" mà lại vô cùng sôi động, rộn rã. Hình ảnh chợ cá, làng ngư phủ là dấu hiệu của sự sốn con người hiện ra trong âm thanh lao xao. "Lao xao" gợi nên cuộc sống thanh bình của người dân làng chài, cảnh mua bán tấp nập, nhộn nhịp. Tiếng ve "dắng dỏi" đặc trưng của mùa hè đến với thơ Nguyễn Trãi lại như góp thêm bản đàn rộn rã hối hả của nhịp sống căng tràn. "Bảo kính cảnh giới" chính là một bức tranh ngày hè có sự kết hợp hài hoà giữa màu sắc và âm thanh, giữa cảnh vật và con người. Cảnh vật ngày hè hiện lên trong bài thơ ngập tràn màu sắc, sự kết hợp độc đáo giữa màu đỏ của hoa lựu trước hiên cùng với cây hoè xanh rợp bóng cùng với âm thanh của tiếng ve, của chợ cá khiến không gian tràn đầy sức sống. Trong không gian ấy, hình ảnh con người hiện lên với sự sung túc và hạnh phúc trong lao động. Những ngày hè ấy đã rung cảm được tâm tư của nhà thơ. Đó cũng chính là tâm hồn của con người đang náo nức muốn hoà cùng niềm vui, sự sống của thiên nhiên và cuộc sống thanh bình của nhân dân.
Bài thơ "Bảo kính cảnh giới " không chỉ là vẻ đẹp của thiên nhiên mùa hè rực rỡ, sống động mà còn là những rung cảm từ vẻ đẹp phong phú, thanh cao của tâm hồn Nguyễn Trãi. Đó là một hồn thơ đã hoà nhịp với mạch sống của dân tộc, mạch sống yên bình, nên thơ tươi đẹp. Bài thơ đã tạo nên bức chân dung cao đẹp, sáng ngời của một nhân cách lớn.