Nguyễn Ngọc Hân
Giới thiệu về bản thân
Pha sáng
Nơi diễn ra: Màng tilacoit (lục lạp)
Điều kiện ánh sáng: Cần ánh sáng
Nguyên liệu: Diệp lục, ánh sáng, H₂O, ADP, NADP⁺
Sản phẩm: ATP, NADPH, O₂
Pha tối (chu trình Calvin)
Nơi diễn ra: Chất nền (stroma) của lục lạp
Điều kiện ánh sáng: Không cần ánh sáng trực tiếp (nhưng phụ thuộc sản phẩm pha sáng)
Nguyên liệu: CO₂, ATP, NADPH
Sản phẩm: C₆H₁₂O₆ (glucozơ), ADP, NADP⁺
Vì nước muối khác các nước thông thường bởi các phân tử muối có tính hấp thụ nước nên môi trường nước muối khiến vi khuẩn không thể sống và phát triển trong đó vì thiếu nước, nước muối sẽ nâng nồng độ pH trong miệng lên để ngăn chặn sự phát triển của vi khuẩn gây hại
a) ATP cấu tạo gồm: một phân tử a-đê-nin, một phân tử đường ri-bô-zơ và ba nhóm phốt phát
b) vì liên kết giữa hai nhóm photsphate cuối cùng trong ATP rất dễ bị phá vỡ để giải phóng năng lượng
Sự thay đổi qua các kì
Kì đầu: Các NST bắt đầu đóng xoắn và co ngắn. Màng nhân và nhân con tiêu biến. Các NST kép đính với thoi phân bào ở tâm động.
Kì giữa: Các nhiễm sắc thể kép đóng xoắn cực đại và xếp một hàng trên mặt phẳng xích đạo của thoi phân bào.
Kì sau: Mỗi NST kép tách nhau thành 2 NST đơn và di chuyển về hai cực của tế bào.
Kì cuối: NST dãn xoắn. Màng nhân và nhân con xuất hiện trở lại.
Vì nhờ quá trình lên men của vi khuẩn lactic tạo axit lactic và nồng độ muối cao kìm hãm sự hoạt động của các vi khuẩn gây hại
Bộ nhiễm sắc thể \(2 n\) của loài
Gọi k là số lần nguyên phân của mỗi tế bào.
Trong nguyên phân, môi trường cung cấp NST đơn theo công thức:
\(10 \cdot 2 n \left(\right. 2^{k} - 1 \left.\right) = 20400\) (1)
Khi tất cả tế bào con vào giảm phân, mỗi tế bào nhân đôi NST một lần trước giảm phân nên môi trường cung cấp:
\(10 \cdot 2^{k} \cdot 2 n = 20480\) (2)
Lấy (2) trừ (1):
\(10 \cdot 2 n = 20480 - 20400 = 80\)
⇒ \(2 n = 8\)
Thay vào (2):
\(10 \cdot 2^{k} \cdot 8 = 20480\)
\(80 \cdot 2^{k} = 20480\)
\(2^{k} = 256 = 2^{8}\)
⇒ \(k = 8\)
Vậy bộ nhiễm sắc thể của loài: \(2 n = 8\).
b. Tế bào sinh dục sơ khai là đực hay cái?
Sau nguyên phân:
Số tế bào vào giảm phân
\(= 10 \cdot 2^{8} = 2560\)
Nếu là tế bào sinh dục đực:
1 tế bào giảm phân → 4 giao tử
⇒ Tổng giao tử:
\(2560 \times 4 = 10240\)
Hiệu suất thụ tinh 10%:
\(10240 \times 10 \% = 1024\) hợp tử
Vậy tế bào sinh dục sơ khai là tế bào sinh dục đực , vì mỗi tế bào giảm phân tạo 4 giao tử nên mới tạo đủ 1024 hợp tử với hiệu suất thụ tinh 10%.
- Số lần nhân đôi của các tế bào sau 3 ngày là: (3x24x60)/30=144( lần )
- Số tế bào thu được sau 3 ngày là: 30x2^144 ( tế bào)
Câu 1:
Trong văn bản "Chiếu cầu hiền tài" , Nguyễn Trãi đã thể hiện nghệ thuật lập luận rõ ràng, chặt chẽ và có sức thuyết phục mạnh mẽ. Trước hết, tác giả khẳng định một quan điểm mang tính nền tảng mở đầu, để đất nước phát triển và hưng thịnh thì cần phải biết coi trọng và sử dụng hiền tài. Từ luận điểm đó, ông dẫn ra những minh chứng tiêu biểu từ lịch sử, như các triều đại Hán Đường, cho ta thấy rằng những vị vua anh minh trong quá khứ đều là người trọng dụng người có tài đức. Những dẫn chứng cụ thể ấy giúp cho lập luận trở nên xác đáng và đáng tin cậy hơn. Đồng thời, Nguyễn Trãi còn liên hệ với hoàn cảnh thực tế của đất nước lúc bấy giờ, nhấn mạnh sự cần thiết của việc tìm kiếm nhân tài để xây dựng triều đại. Ông không chỉ khuyến khích các quan lại tiến cử người hiền mà còn mong muốn những người có tài năng chủ động ra giúp nước. Cách lập luận vừa khéo léo, vừa chân thành đã thể hiện tầm nhìn rộng lớn và tinh thần đề cao hiền tài của người Nguyễn Trãi. Qua đó, ta thấy được văn bản không chỉ mang ý nghĩa chính trị sâu sắc mà còn thể hiện tư tưởng tiến bộ về vai trò quan trọng của nhân tài đối với sự phát triển của quốc gia.
Câu 2:
Trong bối cảnh thế giới ngày càng phát triển và hội nhập sâu rộng, đặc biệt là sự bùng nổ của khoa học – công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành yếu tố then chốt quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam đang xuất hiện một hiện tượng đáng lo ngại là “chảy máu chất xám”. Thuật ngữ này dùng để chỉ tình trạng nhiều người có trình độ cao, tài năng lựa chọn học tập, làm việc và định cư ở nước ngoài thay vì quay về đóng góp lâu dài cho đất nước.
Thực tế cho thấy số lượng sinh viên, nhà khoa học và người lao động có trình độ chuyên môn cao ra nước ngoài làm việc ngày càng gia tăng. Hiện tượng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Trước hết, ở các quốc gia phát triển, họ thường có điều kiện làm việc hiện đại, môi trường nghiên cứu tiên tiến, cơ hội phát triển nghề nghiệp rộng mở cùng với mức thu nhập cao và ổn định hơn. Bên cạnh đó, ở trong nước vẫn còn tồn tại một số hạn chế như môi trường làm việc chưa thật sự thuận lợi, chế độ đãi ngộ chưa tương xứng với năng lực, cơ hội thăng tiến và phát triển nghề nghiệp còn hạn chế. Ngoài ra, nhiều người trẻ cũng mong muốn được trải nghiệm môi trường quốc tế, tiếp cận tri thức mới và phát triển bản thân nên lựa chọn ra nước ngoài học tập và làm việc. Hiện tượng “chảy máu chất xám” gây ra nhiều tác động không nhỏ đối với sự phát triển của đất nước. Khi nhiều người tài rời đi, nguồn nhân lực chất lượng cao trong nước có thể bị thiếu hụt, từ đó ảnh hưởng đến sự phát triển của khoa học, công nghệ và kinh tế. Quốc gia có thể mất đi những cá nhân có khả năng sáng tạo, nghiên cứu và đóng góp quan trọng cho xã hội. Về lâu dài, điều này có thể làm giảm sức cạnh tranh của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng mạnh mẽ. Tuy nhiên, ở một góc nhìn khác, nếu có những chính sách hợp lý thì những người ra nước ngoài học tập và làm việc cũng có thể trở thành cầu nối tri thức, mang những kinh nghiệm, kiến thức và công nghệ tiên tiến quay trở về phục vụ cho sự phát triển của quê hương. Để hạn chế tình trạng “chảy máu chất xám”, cần có sự phối hợp và nỗ lực từ cả nhà nước và toàn xã hội. Trước hết, cần xây dựng môi trường làm việc chuyên nghiệp, minh bạch và tạo điều kiện thuận lợi để người tài phát huy năng lực của mình. Đồng thời, cần có các chính sách đãi ngộ hợp lý, khuyến khích và tôn vinh những cá nhân có đóng góp cho đất nước. Việc đầu tư mạnh mẽ vào giáo dục, khoa học – công nghệ và mở rộng cơ hội nghiên cứu cũng là yếu tố quan trọng giúp thu hút và giữ chân nhân tài. Bên cạnh đó, mỗi người trẻ cũng cần ý thức rõ trách nhiệm của bản thân đối với quê hương, không chỉ nỗ lực phát triển cá nhân mà còn hướng tới việc đóng góp cho sự phát triển chung của xã hội.
Suy cho cùng, “chảy máu chất xám” là một vấn đề đáng quan tâm trong xã hội hiện nay. Để đất nước có thể phát triển bền vững, cần có những chính sách phù hợp nhằm thu hút và giữ chân người tài. Khi đất nước biết trân trọng, tạo điều kiện cho nhân tài phát triển và mỗi cá nhân đều có ý thức cống hiến, nguồn lực trí tuệ sẽ trở thành động lực quan trọng giúp Việt Nam phát triển mạnh mẽ hơn trong tương lai
câu 1:
Phương thức biểu đạt chính trong bài: Nghị luận
Câu 2:
Chủ thể bài viết là vua Lê Lợi
Câu 3:
Mục đích chính văn bản: Tìm và kiêu gọi những người hiền tài, có tài văn võ, có thể trị dân coi quân, cùng nhà vua xây dựng và phát triển đất nước
Câu 4:
Người viết đã đưa ra dẫn chứng: Từ thời Hán Đường, Tiêu Hà tiến cử Hàn Tín, Ngụy Vô Tri tiến cử Trần Bình, Địch Nhân Kiệt tiến cử Trương Cửu Linh, Tiêu Tung tiến cử Hàn Hưu.
=> Dẫn chứng cụ thể, tiêu biểu, có thật trong lịch sử, làm cho việc lập luận thuyết phục, chặt chẽ hơn
Câu 5:
Thông qua văn bản, có thể nhận thấy chủ thể bài viết là vua Lê Lợi – một người đặc biệt coi trọng và đề cao vai trò của hiền tài đối với đất nước. Nhà vua hiểu rằng nhân tài chính là yếu tố then chốt góp phần xây dựng và phát triển quốc gia vững mạnh. Vì vậy, ông luôn chú trọng việc tìm kiếm, trọng dụng và tạo điều kiện để người có tài năng có thể cống hiến cho triều đình và cho dân tộc. Bên cạnh đó, Lê Lợi còn bộc lộ thái độ khiêm nhường và sự chân thành trong việc cầu hiền, sẵn sàng mở rộng con đường để những người tài đức ra giúp nước. Qua đó, ta thấy được tầm nhìn sâu rộng cũng như tinh thần trách nhiệm, lòng yêu nước và tư tưởng tiến bộ của vị vua đứng đầu triều đại.
câu 1: thể thơ thất ngôn bát cú đường luật
câu 2: Các hình ảnh: một mai, một cuốc, một cần câu; thơ thẩn; thu ăn măng trúc, đông ăn giá; xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao; rượu đến cội cây ta sẽ uống… (cuộc sống giản dị, hòa hợp thiên nhiên, không bon chen).
câu 3: "Một mai, một cuốc, một cần câu / Thơ thẩn dầu ai vui thú nào".
→ Biện pháp liệt kê (điệp từ "một") → Nhấn mạnh cuộc sống đơn sơ, thanh đạm nhưng tự do, ung dung; tạo nhịp điệu khoan thai, thể hiện tâm thế "thơ thẩn" bất chấp người đời.
câu 4: Quan niệm dại – khôn của Nguyễn Bỉnh Khiêm mang tính nghịch lí mà sâu sắc. “Dại” là rời bỏ chốn quan trường ồn ào để tìm nơi vắng vẻ, giữ gìn nhân cách.
“Khôn” là chạy theo danh lợi, bon chen nơi “lao xao”. → Qua đó, tác giả đảo ngược cách nhìn thông thường để khẳng định một triết lí sống tỉnh táo, cao thượng.
câu 5: Qua bài thơ Nhàn, có thể cảm nhận Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có nhân cách cao đẹp, sống thanh cao, giản dị và hòa hợp với thiên nhiên. Ông chủ động rời xa vòng danh lợi để giữ sự an nhiên trong tâm hồn. Dù sống giữa cuộc đời biến động, tác giả vẫn giữ được bản lĩnh, trí tuệ và thái độ coi nhẹ phú quý. Đó là vẻ đẹp của một nhà nho uyên thâm, tỉnh táo và giàu chiều sâu triết lí.