Nguyễn Hoài Anh

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Hoài Anh
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

-Nơi diễn ra
+Pha sáng: Thylakoid
+Pha tối: Chất nền
-Điều kiện ánh sáng
+Pha sáng: Cần ánh sáng
+Pha tối: Không cần ánh sáng
-Nguyên liệu tham gia
+Pha sáng: H2O, ADP, NADP+
+Pha tối: CO2, ATP, NADPH
-Sản phẩm tạo thành
+Pha sáng: O2, ATP, NADPH
+Pha tối: Chất hữu cơ, ADP, NADP+

-Nước muối sinh lí là dung dịch đẳng trương đối với các tế bào ở người nên các tế bào niêm mạc miệng không bị ảnh hưởng. Nước muối sinh lí là dung dịch ưu trương đối với vi khuẩn nên các vi khuẩn có hại trong miệng sẽ bị mất nước khiến quá trình phân chia của vi khuẩn bị hạn chế, thậm chí ngừng lại.


a. Mỗi ATP có cấu tạo gồm ba thành phần cơ bản:

-Phân tử adenine

-Phân tử đường ribose

-3 gốc phosphate chứa 2 liên kết cao năng

b. Liên kết giữa các phosphate được gọi là liên kết cao năng vì khi phá vỡ liên kết giữa các các gốc phosphate sẽ giải phóng ra một lượng lớn năng lượng.


Câu 1:

Trong văn bản Chiếu cầu hiền tài, Nguyễn Trãi đã thể hiện nghệ thuật lập luận chặt chẽ và giàu sức thuyết phục. Trước tiên tác giả đã đưa ra luận điểm rõ ràng: sự thịnh trị của đất nước phụ thuộc vào việc trọng dụng và tiến cử người hiền tài. Ngay từ đầu, ông khẳng định: “Được thịnh trị tất ở việc cử hiền, được hiền tài tất do sự tiến cử”, qua đó nhấn mạnh vai trò quan trọng của nhân tài đối với quốc gia. Theo sau đó Nguyễn Trãi sử dụng luận cứ thuyết phục bằng những lí lẽ và dẫn chứng cụ thể từ lịch sử. Ông nhắc đến các triều đại trước như Hán, Đường và những nhân vật nổi tiếng như “Mạo Toại thoát mũi dùi mà theo Bình Nguyên quân”, “Nịnh Thích gõ sừng trâu mà cảm ngộ Tề Hoàn công” để chứng minh rằng khi biết trọng dụng hiền tài thì đất nước sẽ hưng thịnh. Bên cạnh đó, tác giả còn vận dụng phương pháp lập luận logic, đi từ chân lí chung đến thực tế đương thời, từ quá khứ đến hiện tại, từ đó kêu gọi các quan lại tiến cử người hiền cho triều đình hay người hiền tự tiến cử mình. Cuối cùng, ngôn từ trong bài chiếu vừa sắc bén vừa chân thành, thể hiện thái độ khiêm nhường và sự tha thiết của người đứng đầu đất nước trong việc tìm kiếm nhân tài. Nhờ vậy, bài chiếu có sức thuyết phục mạnh mẽ cho thấy được việc triều đình trọng dụng người tài.

Câu 2:

Trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, tri thức và nhân tài được xem là yếu tố quan trọng quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia. Có thể nói, trong thời đại tri thức, nhân tài chính là “nguồn tài nguyên đặc biệt” tạo nên sức mạnh và vị thế của một đất nước. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay đang xuất hiện một hiện tượng đáng lo ngại là “chảy máu chất xám”. Đây không chỉ là vấn đề về nguồn nhân lực mà còn là thách thức đối với sự phát triển lâu dài của quốc gia.

“Chảy máu chất xám” được hiểu là hiện tượng những người có trình độ cao, tài năng và tri thức rời bỏ môi trường làm việc trong nước để sang nước ngoài học tập, sinh sống và làm việc lâu dài. Những người này thường là các nhà khoa học, kỹ sư, bác sĩ, chuyên gia công nghệ hoặc những sinh viên xuất sắc. Họ là nguồn lực quý giá, có khả năng đóng góp to lớn cho sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên, khi họ lựa chọn làm việc và định cư ở nước ngoài, nguồn nhân lực chất lượng cao của quốc gia sẽ bị suy giảm.

Trên thực tế, hiện tượng này đang diễn ra khá phổ biến. Mỗi năm có rất nhiều sinh viên Việt Nam đi du học ở các nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc hay Úc. Trong số đó, không ít người sau khi tốt nghiệp đã lựa chọn ở lại làm việc thay vì trở về quê hương. Bên cạnh đó, nhiều chuyên gia giỏi trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, y tế cũng tìm kiếm cơ hội làm việc ở nước ngoài với điều kiện tốt hơn. Khi người tài không có môi trường để cống hiến, họ buộc phải tìm đến nơi khác có thể phát huy giá trị của mình. Điều này cho thấy hiện tượng “chảy máu chất xám” đang trở thành một vấn đề đáng quan tâm đối với xã hội.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này. Trước hết, môi trường làm việc ở một số nơi trong nước chưa thực sự thuận lợi để người tài phát huy hết năng lực của mình. Cơ sở vật chất và điều kiện nghiên cứu khoa học còn hạn chế so với nhiều nước phát triển. Bên cạnh đó, chế độ đãi ngộ, mức lương và cơ hội thăng tiến đôi khi chưa thật sự tương xứng với trình độ và công sức của người lao động. Ngoài ra, môi trường làm việc ở các nước phát triển thường chuyên nghiệp hơn, tạo điều kiện để người trẻ học hỏi và phát triển bản thân, vì vậy nhiều người lựa chọn ở lại để tìm kiếm cơ hội tốt hơn.

Hiện tượng “chảy máu chất xám” gây ra nhiều hậu quả đáng lo ngại. Khi nguồn nhân lực chất lượng cao rời đi, đất nước sẽ mất đi lực lượng quan trọng để thúc đẩy sự phát triển trong các lĩnh vực như khoa học, công nghệ, giáo dục hay y tế. Điều này có thể làm chậm quá trình phát triển của quốc gia và giảm khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế. Không những vậy, việc đào tạo một nhân tài thường tốn rất nhiều thời gian, công sức và chi phí, nên khi họ rời đi, đó cũng là một sự lãng phí lớn đối với xã hội.

Để hạn chế tình trạng này, cần có những giải pháp thiết thực. Nhà nước cần quan tâm hơn đến việc xây dựng môi trường làm việc chuyên nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi để người tài phát huy năng lực. Đồng thời, cần có chính sách đãi ngộ hợp lí, tôn trọng và trọng dụng nhân tài. Bên cạnh đó, mỗi người trẻ cũng cần ý thức được trách nhiệm của mình đối với quê hương và đất nước. Mỗi người trẻ hôm nay cần hiểu rằng tri thức không chỉ để phát triển bản thân mà còn để góp phần xây dựng xã hội ngày càng tốt đẹp hơn.

Tựu trung lại, “chảy máu chất xám” là một vấn đề đáng quan tâm trong xã hội hiện nay. Giữ chân và thu hút nhân tài không chỉ là nhiệm vụ của nhà nước mà còn là khát vọng chung của toàn xã hội, nhằm xây dựng một đất nước ngày càng phát triển và vững mạnh trong tương lai.

Câu 1:
-Phương thức biểu đạt chính của bài là: Nghị luận.

Câu 2:
-Chủ thể bài viết là: Lê Lợi.

Câu 3:
- Mục đính chính của văn bản trên là: Chiêu dụ người tài về giúp việc triều chính.
- Các đường lối tiến cử người tài:
+ Các đại thần từ tam phẩm trở lên, mỗi người đều cử một người tài.
+ Nếu cử được người trung tài thì thăng chức hai bực, nếu cử được người tài đức đều hơn người tột bực, tất được trọng thưởng.
+ Người có tài đức có thể tự tiến cử.

Câu 4:
- Người viết đã đưa ra các dẫn chứng sau:
+ Thời xưa, dưới không sót nhân tài, trên không bỏ công việc, nên triều đại thịnh trị.
+ Các quan đời Hán Đường tiến cử người tài giúp nước, như Tiêu Hà tiến Tào Tham, Nguy Vô Tri tiến Trần Bình, Địch Nhân Kiệt tiến Trương Cửu Linh, Tiêu Tung tiến Hàn Hưu, tuy tài phẩm có cao thấp khác nhau, nhưng tất thảy đều được người để đảm đang nhiệm vụ.
- Nhận xét dẫn chứng:
+ Dẫn chứng được đưa ra phong phú, toàn diện, từ cổ chí kim, từ gần tới xa.
+ Dẫn chứng hợp lí, là những chuyện có thực, đủ để minh chứng cho luận điểm một triều đại thịnh trị cần có người tài làm căn cơ.

Câu 5:
- Chủ thể bài viết có những phẩm chất sau:
+ Trọng người tài.
+ Khiêm nhường, lắng nghe ý kiến của dân, lấy dân làm trọng.
+ Anh minh, đưa ra được những chính sách sáng suốt vì tương lai của dân của nước.




Câu 1:

Trong cuộc sống hiện đại đầy biến động, lối sống chủ động giữ vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi người. Chủ động là tự mình xác định mục tiêu, lập kế hoạch và nỗ lực hành động thay vì chờ đợi hay phụ thuộc vào người khác. Khi sống chủ động, con người sẽ biết nắm bắt cơ hội, vượt qua khó khăn và làm chủ tương lai của chính mình. Ngược lại, lối sống thụ động dễ khiến ta bỏ lỡ cơ hội, mất phương hướng và dần tụt lại phía sau. Đặc biệt trong xã hội ngày nay, khi tri thức và công nghệ thay đổi từng ngày, sự chủ động giúp mỗi người không ngừng học hỏi, thích nghi và phát triển bản thân. Hơn nữa, sống chủ động còn thể hiện tinh thần trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội. Mỗi người trẻ cần rèn luyện thói quen tự giác trong học tập, công việc và các mối quan hệ để hình thành bản lĩnh vững vàng. Có thể khẳng định rằng, lối sống chủ động chính là chìa khóa giúp con người tự tin bước tới thành công và xây dựng một cuộc sống ý nghĩa hơn.

Câu 2:

Đoạn thơ trích từ bài “Bảo kính cảnh giới” của Nguyễn Trãi đã khắc họa một bức tranh thiên nhiên và cuộc sống đầy sức sống, qua đó thể hiện tấm lòng yêu nước, thương dân sâu sắc của tác giả. Chỉ bằng vài câu thơ ngắn gọn nhưng giàu hình ảnh, Nguyễn Trãi đã vẽ nên cảnh sắc mùa hè tươi đẹp và gửi gắm ước nguyện cao cả về một xã hội thái bình, nhân dân ấm no, hạnh phúc.

Mở đầu đoạn thơ là bức tranh thiên nhiên rực rỡ, tràn đầy sức sống: “Rồi hóng mát thuở ngày trường/ Hòe lục đùn đùn tán rợp trương”. Trong không gian ngày hè dài rộng, hình ảnh cây hòe với sắc xanh “đùn đùn” gợi cảm giác tươi tốt, căng tràn nhựa sống. Động từ “đùn đùn” diễn tả sức vươn mạnh mẽ của thiên nhiên, làm cho cảnh vật như đang chuyển động. Tiếp đó, “Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ/ Hồng liên trì đã tiễn mùi hương” lại đem đến những gam màu rực rỡ của hoa lựu đỏ, hoa sen hồng cùng hương thơm ngan ngát. Các hình ảnh thiên nhiên được cảm nhận bằng nhiều giác quan: thị giác (màu xanh, đỏ, hồng), khứu giác (mùi hương), tạo nên một bức tranh mùa hè sống động, hài hòa và đầy sức gợi. Qua đó, ta thấy được tâm hồn nhạy cảm, tinh tế và tình yêu thiên nhiên tha thiết của Nguyễn Trãi.

Không chỉ dừng lại ở cảnh vật, bức tranh còn mở rộng đến cuộc sống con người: “Lao xao chợ cá làng ngư phủ/ Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”. Âm thanh “lao xao” của chợ cá gợi nên nhịp sống nhộn nhịp, đông vui nơi làng chài. Tiếng ve “dắng dỏi” vang lên như bản nhạc đặc trưng của mùa hè. Thiên nhiên và con người hòa quyện vào nhau, tạo nên một bức tranh sinh hoạt bình dị mà ấm áp. Qua đó, ta cảm nhận được niềm vui của tác giả trước cuộc sống thanh bình của nhân dân.

Đỉnh cao tư tưởng của đoạn thơ được thể hiện ở hai câu cuối: “Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng/ Dân giàu đủ khắp đòi phương”. Hình ảnh “Ngu cầm” gợi điển tích vua Nghiêu, vua Thuấn những vị minh quân thời cổ đại. Nguyễn Trãi ước mong được gảy khúc đàn của bậc thánh quân để cầu cho dân giàu đủ, đất nước thái bình. Đây chính là tấm lòng ưu dân, ái quốc của một bậc đại thần suốt đời lo cho dân, cho nước. Dù lui về ở ẩn, Nguyễn Trãi vẫn đau đáu trong lòng về một niềm mong mỏi nhân dân được ấm no, hạnh phúc.

Đoạn thơ không chỉ là bức tranh thiên nhiên mùa hè rực rỡ mà còn là bức chân dung tâm hồn cao đẹp của Nguyễn Trãi. Qua nghệ thuật sử dụng ngôn từ giàu sức gợi, hình ảnh sinh động, kết hợp hài hòa giữa tả cảnh và ngụ tình, tác giả đã thể hiện tình yêu thiên nhiên gắn liền với tình yêu con người, yêu đất nước. Đoạn thơ góp phần làm nổi bật tư tưởng nhân nghĩa và khát vọng thái bình, những giá trị lớn lao trong thơ văn Nguyễn Trãi.

Câu 1:

-Thể thơ của văn bản trên là thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.

Câu 2:

-Những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả: ăn măng, ăn giá, tắm hồ sen, tắm ao, rượu đến cội cây sẽ uống.

Câu 3:

-Biện pháp tu từ liệt kê là: một mai, một cuốc, một cần câu.

-Tác dụng:

+Tạo cho câu thơ sự nhịp nhàng, hài hòa và cân xứng.

+Nhấn mạnh phương châm sống của tác giả sống tĩnh tại, an nhàn thể hiện sự mỉa mai đối với lối sống ham mê danh vọng, giàu sang, phú quý.

Câu 4:

-Quan niệm khôn-dại của tác giả trong hai câu thơ:

+Dại-"tìm nơi vắng vẻ": nơi chỉ có tĩnh chứ không xô bồ náo nhiệt, tìm đến nơi thảnh thơi cho tâm hồn.

+Khôn-"người đến chốn lao xao": nơi chốn tiền tài, danh vọng sự xô bồ của kẻ tranh chấp chức quyền.

=>Thể hiện cái triết lý khôn mà dại, dại mà khôn của tác giả.

=>Sự tự tin vào quan niệm sống "Nhàn" của bản thân, mỉa mai cái lối sống chỉ cầo danh vọng và phú quý.

Câu 5:

Vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện qua từng con chữ của ông. Ông kiên định chọn lối sống thôn dã, an nhiên không cầu danh lợi giữ vững cốt cách thanh cao, lánh đục tìm trong, hòa hợp với thiên nhiên và không mành danh lợi. Đối lập với thói đời hám danh, cầu quyền thể hiện trí tuệ và bản lĩnh của một bậc đại nho. Ông mang trong mình một tâm hồn bình thản, một nhân cách cao thường vượt lên trên sự cám dỗ của vật chất để tìm tới giá trị chân thực của cuộc sống là "Nhàn".