Phạm Thị Thu Huyền
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:
Đoạn trích trong Truyện Kiều của Nguyễn Du đã tái hiện đầy ám ảnh bi kịch tình yêu tan vỡ và nỗi đau tột cùng của Kim Trọng khi trở lại chốn hẹn thề xưa. Sau nửa năm chịu tang, chàng tìm đến vườn Thúy nhưng chỉ gặp một khung cảnh hoang vắng, tiêu điều: “cỏ mọc”, “lau thưa”, “lầu không”, “rêu phong dấu giày”. Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình được vận dụng đặc sắc: cảnh vật đổi thay, đổ nát chính là sự phản chiếu tâm trạng bàng hoàng, trống vắng của con người. Đặc biệt, hình ảnh “Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông” gợi nỗi xót xa trước sự đối lập giữa thiên nhiên vẫn vô tình tươi thắm và con người đã biệt tăm, làm thấm thía quy luật nghiệt ngã của thời gian và số phận. Khi nghe tin Kiều bán mình chuộc cha, Kim Trọng đau đớn như “sét đánh lưng trời”, “rụng rời xiết bao”, nỗi đau được đẩy lên đến tột cùng qua những động từ mạnh và hình ảnh “tuôn mưa”, “giọt ngọc”. Qua đoạn trích, Nguyễn Du không chỉ khắc họa tấm lòng chung tình của Kim Trọng mà còn ngợi ca đức hi sinh cao cả của Kiều, đồng thời bày tỏ niềm xót thương sâu sắc trước số phận con người trong xã hội phong kiến.
câu 2:
Trong sự hối hả của cuộc sống hiện đại, khi con người dễ bị cuốn vào guồng quay của thành tích, danh vọng và những giá trị vật chất, thì sự hi sinh thầm lặng lại càng trở nên đáng quý. Đó là một vẻ đẹp bền bỉ, giản dị nhưng có sức nâng đỡ lớn lao đối với gia đình và cộng đồng. Chính những hi sinh không ồn ào ấy đã làm cho cuộc sống trở nên ấm áp và nhân văn hơn.
Sự hi sinh thầm lặng là sự tự nguyện chấp nhận thiệt thòi, từ bỏ một phần quyền lợi, thời gian, công sức hay ước mơ riêng vì hạnh phúc của người khác mà không mong được ghi nhận hay đền đáp. Thầm lặng nghĩa là không phô trương, không kể công, không đặt điều kiện. Đó có thể là những việc làm lớn lao, nhưng cũng có thể chỉ là những hành động nhỏ bé diễn ra mỗi ngày, xuất phát từ tình yêu thương và tinh thần trách nhiệm.
Sự hi sinh thầm lặng xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Trước hết là do tình yêu thương, khi yêu thương đủ lớn, con người sẵn sàng đặt lợi ích của người khác lên trên mình. Bên cạnh đó, ý thức trách nhiệm với gia đình và xã hội cũng khiến ta tự nguyện gánh vác phần khó khăn. Ngoài ra, truyền thống đạo lí tốt đẹp của dân tộc như “lá lành đùm lá rách”, “thương người như thể thương thân” của dân tộc đã nuôi dưỡng trong mỗi người tinh thần sống vì cộng đồng, coi sự cho đi là một giá trị đáng trân trọng.
Trong gia đình, sự hi sinh thầm lặng thể hiện rõ nhất qua hình ảnh cha mẹ. Có biết bao người mẹ lặng lẽ gác lại ước mơ riêng, dành cả thanh xuân cho căn bếp nhỏ, cho những bữa cơm đủ đầy. Có những người cha chấp nhận vất vả, nhọc nhằn để con được học hành đến nơi đến chốn. Họ không yêu cầu con cái trả ơn, chỉ mong con trưởng thành và hạnh phúc. Chính tình yêu thương vô điều kiện ấy là minh chứng rõ ràng cho sức mạnh của sự hi sinh thầm lặng.
Ngoài xã hội, ta bắt gặp nhiều con người âm thầm cống hiến. Đó là những y bác sĩ tận tụy cứu người, những thầy cô giáo dạy ở các trường nơi vùng sâu vùng xa, những chiến sĩ ngày đêm canh giữ biên cương. Họ chấp nhận xa gia đình, đối mặt với khó khăn để hoàn thành trách nhiệm của mình. Dù không hay được nhắc tên, sự hi sinh của họ vẫn góp phần giữ gìn bình yên và phát triển cho đất nước.
Nếu trong xã hội thiếu đi sự hi sinh thầm lặng, con người sẽ trở nên ích kỉ, chỉ biết đến lợi ích cá nhân. Gia đình sẽ dễ rạn nứt khi mỗi người đều đòi hỏi quyền lợi mà không muốn cho đi. Xã hội nếu mỗi người đều né tránh trách nhiệm, chỉ chọn phần việc nhẹ nhàng và đòi hỏi quyền lợi cho mình, tập thể sẽ mất đi sự đoàn kết. Nghiêm trọng hơn, sự thiếu vắng tinh thần hi sinh còn làm mai một các giá trị đạo đức truyền thống, khiến con người trở nên vô cảm trước nỗi đau của người khác. Khi ấy, các mối quan hệ trở nên xa cách, niềm tin giữa người với người dần mai một.
Để nuôi dưỡng và phát huy sự hi sinh thầm lặng, mỗi người cần rèn luyện lòng nhân ái và tinh thần trách nhiệm. Gia đình và nhà trường nên giáo dục học sinh biết yêu thương, chia sẻ, sống vì tập thể. Bản thân mỗi cá nhân cũng cần bắt đầu từ những việc nhỏ như giúp đỡ bạn bè, tôn trọng lợi ích chung, biết nói lời cảm ơn và trân trọng những hi sinh của người khác. Đồng thời, xã hội cũng cần ghi nhận và tôn vinh những tấm gương sống đẹp để lan tỏa giá trị tích cực.
Tóm lại, sự hi sinh thầm lặng tuy không rực rỡ như ánh đèn sân khấu, nhưng lại bền bỉ như ngọn lửa sưởi ấm cuộc đời. Nhờ có những con người âm thầm cho đi, cuộc sống trở nên đầy yêu thương và đáng tin cậy hơn. Là học sinh hôm nay, chúng ta cần học cách sống biết sẻ chia, biết đặt lợi ích chung lên trên cái tôi ích kỉ. Khi biết hi sinh đúng lúc, đúng cách, không chỉ làm đẹp cho xã hội mà còn hoàn thiện nhân cách của chính mình.
Câu 1:
- Văn bản trên thuộc thể loại truyện thơ Nôm.
Câu 2:
- Văn bản được viết bằng ngôn ngữ của người kể chuyện.
Câu 3:
- Tóm tắt văn bản theo các sự kiện chính của văn bản:
+ Sau nửa năm chịu tang, Kim Trọng trở lại Liêu Dương, vội tìm đến vườn Thúy.
+ Cảnh cũ hoang tàn, vắng lặng, không còn bóng Kiều.
+ Hỏi thăm, chàng biết gia đình Kiều gặp biến cố, Kiều đã bán mình chuộc cha, gia đình sa sút, dời đi nơi khác.
+ Kim Trọng đau đớn, tìm đến chỗ ở mới của gia đình nàng.
+ Nghe kể lại sự hi sinh của Kiều: vì chữ hiếu mà phụ lời thề, nhờ Thúy Vân thay mình trả nghĩa.
+ Nghe xong, Kim Trọng đau khổ, tuyệt vọng.
Câu 4:
- Hình ảnh "Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông": cho thấy gợi sự đối lập giữa cảnh và người. Hoa đào tượng trưng cho mùa xuân, tuổi trẻ và quá khứ tươi đẹp. “Năm ngoái” nhấn mạnh thời gian đã qua chữ “còn” gợi tiếc nuối. Hoa dường như vẫn tươi cười như trước, nhưng con người Thúy Kiều đã trải qua bao biến cố, không thể trở lại những ngày êm đềm ấy.
-> Hình ảnh thể hiện nỗi xót xa trước sự đổi thay của đời người cảnh còn mà người đã khác, quá khứ đẹp chỉ còn trong hoài niệm.
Câu 5:
-Tác dụng của biện pháp tả cảnh ngụ tình trong đoạn trích:
+ Gợi không gian hoang vắng, tiêu điều: én liệng lầu không, cỏ lan, rêu phong, gai góc mọc đầy cho thấy cảnh cũ nay hoang tàn.
+ Phản ánh tâm trạng nhân vật: sự hoang tàn của cảnh vật thể hiện nỗi buồn, sự xót xa, tiếc nuối khi trở lại chốn xưa.
+ Làm nổi bật sự đổi thay của thời gian: “lối này năm xưa” đối lập với hiện tại hoang vắng . Nhấn mạnh quá khứ êm đềm đã xa.
-> Nhờ tả cảnh ngụ tình, Nguyễn Du không chỉ vẽ nên bức tranh tiêu điều mà còn bộc lộ sâu sắc tâm trạng đau đớn, bâng khuâng của con người trước cảnh cũ đổi thay.
Câu 1:
Đoạn trích trong Truyện Kiều của Nguyễn Du đã tái hiện đầy ám ảnh bi kịch tình yêu tan vỡ và nỗi đau tột cùng của Kim Trọng khi trở lại chốn hẹn thề xưa. Sau nửa năm chịu tang, chàng tìm đến vườn Thúy nhưng chỉ gặp một khung cảnh hoang vắng, tiêu điều: “cỏ mọc”, “lau thưa”, “lầu không”, “rêu phong dấu giày”. Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình được vận dụng đặc sắc: cảnh vật đổi thay, đổ nát chính là sự phản chiếu tâm trạng bàng hoàng, trống vắng của con người. Đặc biệt, hình ảnh “Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông” gợi nỗi xót xa trước sự đối lập giữa thiên nhiên vẫn vô tình tươi thắm và con người đã biệt tăm, làm thấm thía quy luật nghiệt ngã của thời gian và số phận. Khi nghe tin Kiều bán mình chuộc cha, Kim Trọng đau đớn như “sét đánh lưng trời”, “rụng rời xiết bao”, nỗi đau được đẩy lên đến tột cùng qua những động từ mạnh và hình ảnh “tuôn mưa”, “giọt ngọc”. Qua đoạn trích, Nguyễn Du không chỉ khắc họa tấm lòng chung tình của Kim Trọng mà còn ngợi ca đức hi sinh cao cả của Kiều, đồng thời bày tỏ niềm xót thương sâu sắc trước số phận con người trong xã hội phong kiến.
câu 2:
Trong sự hối hả của cuộc sống hiện đại, khi con người dễ bị cuốn vào guồng quay của thành tích, danh vọng và những giá trị vật chất, thì sự hi sinh thầm lặng lại càng trở nên đáng quý. Đó là một vẻ đẹp bền bỉ, giản dị nhưng có sức nâng đỡ lớn lao đối với gia đình và cộng đồng. Chính những hi sinh không ồn ào ấy đã làm cho cuộc sống trở nên ấm áp và nhân văn hơn.
Sự hi sinh thầm lặng là sự tự nguyện chấp nhận thiệt thòi, từ bỏ một phần quyền lợi, thời gian, công sức hay ước mơ riêng vì hạnh phúc của người khác mà không mong được ghi nhận hay đền đáp. Thầm lặng nghĩa là không phô trương, không kể công, không đặt điều kiện. Đó có thể là những việc làm lớn lao, nhưng cũng có thể chỉ là những hành động nhỏ bé diễn ra mỗi ngày, xuất phát từ tình yêu thương và tinh thần trách nhiệm.
Sự hi sinh thầm lặng xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Trước hết là do tình yêu thương, khi yêu thương đủ lớn, con người sẵn sàng đặt lợi ích của người khác lên trên mình. Bên cạnh đó, ý thức trách nhiệm với gia đình và xã hội cũng khiến ta tự nguyện gánh vác phần khó khăn. Ngoài ra, truyền thống đạo lí tốt đẹp của dân tộc như “lá lành đùm lá rách”, “thương người như thể thương thân” của dân tộc đã nuôi dưỡng trong mỗi người tinh thần sống vì cộng đồng, coi sự cho đi là một giá trị đáng trân trọng.
Trong gia đình, sự hi sinh thầm lặng thể hiện rõ nhất qua hình ảnh cha mẹ. Có biết bao người mẹ lặng lẽ gác lại ước mơ riêng, dành cả thanh xuân cho căn bếp nhỏ, cho những bữa cơm đủ đầy. Có những người cha chấp nhận vất vả, nhọc nhằn để con được học hành đến nơi đến chốn. Họ không yêu cầu con cái trả ơn, chỉ mong con trưởng thành và hạnh phúc. Chính tình yêu thương vô điều kiện ấy là minh chứng rõ ràng cho sức mạnh của sự hi sinh thầm lặng.
Ngoài xã hội, ta bắt gặp nhiều con người âm thầm cống hiến. Đó là những y bác sĩ tận tụy cứu người, những thầy cô giáo dạy ở các trường nơi vùng sâu vùng xa, những chiến sĩ ngày đêm canh giữ biên cương. Họ chấp nhận xa gia đình, đối mặt với khó khăn để hoàn thành trách nhiệm của mình. Dù không hay được nhắc tên, sự hi sinh của họ vẫn góp phần giữ gìn bình yên và phát triển cho đất nước.
Nếu trong xã hội thiếu đi sự hi sinh thầm lặng, con người sẽ trở nên ích kỉ, chỉ biết đến lợi ích cá nhân. Gia đình sẽ dễ rạn nứt khi mỗi người đều đòi hỏi quyền lợi mà không muốn cho đi. Xã hội nếu mỗi người đều né tránh trách nhiệm, chỉ chọn phần việc nhẹ nhàng và đòi hỏi quyền lợi cho mình, tập thể sẽ mất đi sự đoàn kết. Nghiêm trọng hơn, sự thiếu vắng tinh thần hi sinh còn làm mai một các giá trị đạo đức truyền thống, khiến con người trở nên vô cảm trước nỗi đau của người khác. Khi ấy, các mối quan hệ trở nên xa cách, niềm tin giữa người với người dần mai một.
Để nuôi dưỡng và phát huy sự hi sinh thầm lặng, mỗi người cần rèn luyện lòng nhân ái và tinh thần trách nhiệm. Gia đình và nhà trường nên giáo dục học sinh biết yêu thương, chia sẻ, sống vì tập thể. Bản thân mỗi cá nhân cũng cần bắt đầu từ những việc nhỏ như giúp đỡ bạn bè, tôn trọng lợi ích chung, biết nói lời cảm ơn và trân trọng những hi sinh của người khác. Đồng thời, xã hội cũng cần ghi nhận và tôn vinh những tấm gương sống đẹp để lan tỏa giá trị tích cực.
Tóm lại, sự hi sinh thầm lặng tuy không rực rỡ như ánh đèn sân khấu, nhưng lại bền bỉ như ngọn lửa sưởi ấm cuộc đời. Nhờ có những con người âm thầm cho đi, cuộc sống trở nên đầy yêu thương và đáng tin cậy hơn. Là học sinh hôm nay, chúng ta cần học cách sống biết sẻ chia, biết đặt lợi ích chung lên trên cái tôi ích kỉ. Khi biết hi sinh đúng lúc, đúng cách, không chỉ làm đẹp cho xã hội mà còn hoàn thiện nhân cách của chính mình.
Câu 1:
- Văn bản trên thuộc thể loại truyện thơ Nôm.
Câu 2:
- Văn bản được viết bằng ngôn ngữ của người kể chuyện.
Câu 3:
- Tóm tắt văn bản theo các sự kiện chính của văn bản:
+ Sau nửa năm chịu tang, Kim Trọng trở lại Liêu Dương, vội tìm đến vườn Thúy.
+ Cảnh cũ hoang tàn, vắng lặng, không còn bóng Kiều.
+ Hỏi thăm, chàng biết gia đình Kiều gặp biến cố, Kiều đã bán mình chuộc cha, gia đình sa sút, dời đi nơi khác.
+ Kim Trọng đau đớn, tìm đến chỗ ở mới của gia đình nàng.
+ Nghe kể lại sự hi sinh của Kiều: vì chữ hiếu mà phụ lời thề, nhờ Thúy Vân thay mình trả nghĩa.
+ Nghe xong, Kim Trọng đau khổ, tuyệt vọng.
Câu 4:
- Hình ảnh "Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông": cho thấy gợi sự đối lập giữa cảnh và người. Hoa đào tượng trưng cho mùa xuân, tuổi trẻ và quá khứ tươi đẹp. “Năm ngoái” nhấn mạnh thời gian đã qua chữ “còn” gợi tiếc nuối. Hoa dường như vẫn tươi cười như trước, nhưng con người Thúy Kiều đã trải qua bao biến cố, không thể trở lại những ngày êm đềm ấy.
-> Hình ảnh thể hiện nỗi xót xa trước sự đổi thay của đời người cảnh còn mà người đã khác, quá khứ đẹp chỉ còn trong hoài niệm.
Câu 5:
-Tác dụng của biện pháp tả cảnh ngụ tình trong đoạn trích:
+ Gợi không gian hoang vắng, tiêu điều: én liệng lầu không, cỏ lan, rêu phong, gai góc mọc đầy cho thấy cảnh cũ nay hoang tàn.
+ Phản ánh tâm trạng nhân vật: sự hoang tàn của cảnh vật thể hiện nỗi buồn, sự xót xa, tiếc nuối khi trở lại chốn xưa.
+ Làm nổi bật sự đổi thay của thời gian: “lối này năm xưa” đối lập với hiện tại hoang vắng . Nhấn mạnh quá khứ êm đềm đã xa.
-> Nhờ tả cảnh ngụ tình, Nguyễn Du không chỉ vẽ nên bức tranh tiêu điều mà còn bộc lộ sâu sắc tâm trạng đau đớn, bâng khuâng của con người trước cảnh cũ đổi thay.