Nguyễn Thị Thu Thủy

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Thị Thu Thủy
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:

Trong bài thơ “Anh chỉ sợ rồi trời sẽ mưa” của Lưu Quang Vũ, hình tượng “mưa” là điểm nhấn nghệ thuật đặc sắc, mang nhiều tầng ý nghĩa biểu tượng. Bề ngoài, đó là cơn mưa của thiên nhiên – một hiện tượng quen thuộc, nhưng ẩn sâu trong từng câu chữ, “mưa” lại là ẩn dụ cho những đổi thay, xa cách và phai nhạt trong tình yêu, trong cuộc sống. Nhân vật trữ tình sợ mưa không chỉ vì nó làm nhòe đi khung cảnh quen thuộc, mà còn vì nó tượng trưng cho sự mất mát của ký ức, của những điều đẹp đẽ đã qua: “Anh chỉ sợ rồi trời sẽ mưa / Xoá nhoà hết những điều em hứa.” Mưa đến, ánh sáng tắt, giấc ngủ dở dang – như báo hiệu cho những bất an, lo âu và nỗi cô đơn của con người trước sự đổi thay của thời gian và lòng người. Tuy nhiên, trong nỗi sợ ấy cũng ẩn chứa một tình yêu sâu sắc và niềm trân quý với hạnh phúc hiện tại. Mưa không chỉ là nỗi buồn, mà còn là phép thử của cảm xúc, là tấm gương phản chiếu lòng người. Qua hình tượng “mưa”, Lưu Quang Vũ đã thể hiện tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, đồng thời gửi gắm thông điệp nhân văn: con người cần biết nâng niu, giữ gìn những điều giản dị và chân thành trước sự biến đổi không ngừng của cuộc đời.

Câu 1:

Thể thơ: tự do.

Câu 2:

Bài thơ thể hiện nỗi lo âu, sợ hãi và buồn bã của nhân vật trữ tình trước sự đổi thay của thời gian, của lòng người và của tình yêu. Cảm xúc ấy mang nét buồn man mác, chân thành và sâu sắc, thể hiện tâm hồn nhạy cảm, đa cảm và tha thiết với tình yêu, cuộc sống của Lưu Quang Vũ. Qua đó, ta thấy nhà thơ luôn trân trọng những giá trị tinh khôi, mong manh trong đời – dù biết rằng chúng có thể bị xoá nhoà như cơn mưa bất chợt.

Câu 3:

- Biên pháp tu từ được sử dụng: nhân hóa, thể hiện ở câu thơ mưa cướp đi ánh sáng của ngày.

- Tác dụng:

+ Thể hiện nỗi lo lắng và bất an của nhân vật trữ tình trước những đổi thay, mất mát trong cuộc sống và tình yêu.

+ Tác giả thể hiện nỗi lo âu, xót xa và tiếc nuối của tác giả trước sự mong manh của hạnh phúc và tình yêu.

+ Làm cho đoạn thơ thêm sống động, tăng sức gợi hình gợi cảm.

Câu 4:

Khi đối diện với một tương lai đầy những điều chưa biết, con người cần giữ niềm tin, sự kiên định và tinh thần lạc quan. Thay vì lo sợ hay bi quan, ta nên chủ động chuẩn bị hành trang tri thức, bản lĩnh và lòng dũng cảm để vượt qua thử thách. Bởi chỉ khi dám đối diện với điều chưa biết, ta mới có thể trưởng thành và tìm thấy cơ hội trong khó khăn. Mỗi người hãy trân trọng hiện tại, nuôi dưỡng ước mơ và không ngừng cố gắng, vì tương lai thuộc về những ai biết tin tưởng và nỗ lực không ngừng.

Câu 1:

Trong đoạn trích, Nam Cao đã diễn tả tinh tế diễn biến tâm lý của nhân vật ông giáo Thứ – một người trí thức nghèo nhưng đầy tình thương và nhân cách. Ban đầu, Thứ chỉ cảm thấy buồn và chán nản khi nhận ra cuộc sống của mình và gia đình quá túng quẫn, đơn điệu, “sống như mơ ngủ”. Khi trở về quê, nhìn thấy mâm cơm nghèo nàn, cảnh người thân nhường nhịn từng miếng ăn, trong lòng Thứ dâng lên nỗi xót xa, thương cảm và ân hận. Anh thấy mình có lỗi vì được ăn ngon hơn trong khi mẹ, vợ và các em phải nhịn đói. Cảm xúc ấy dồn nén đến mức nước mắt ứa ra, miếng cơm nghẹn lại, cho thấy một tâm hồn nhạy cảm, nhân hậu, giàu tình yêu thương. Qua đó, Nam Cao không chỉ khắc họa một người đàn ông biết sống vì người khác, mà còn phản ánh bi kịch của người trí thức trong xã hội cũ – có lòng tốt nhưng bị nghèo đói và trách nhiệm đè nặng. Ông giáo Thứ hiện lên vừa đáng thương, vừa đáng trọng bởi trong khốn khó, anh vẫn giữ được tấm lòng nhân hậu và phẩm chất cao đẹp của con người lao động.

Câu 1:

- Ngôi kể thứ 3 – người kể giấu mình, không xuất hiện trực tiếp trong truyện.

Câu 2:

-Điểm nhìn trần thuật đặt vào nhân vật Thứ. Người kể chuyện nhìn mọi sự việc, cảm xúc qua con mắt, tâm trạng, suy nghĩ của Thứ.

-Tác dụng:

+ Giúp người đọc thâm nhập sâu vào đời sống nội tâm của Thứ – một trí thức nghèo, đầy mâu thuẫn, vừa thương người thân, vừa bất lực trước cái nghèo.

+ Thể hiện nỗi xót thương của Nam Cao đối với những kiếp người nghèo khổ, lương thiện nhưng bị cuộc sống bần cùng hóa.

+ Giusp đoạn trích trở nên chân thật, cảm động.

Câu 3:

- Nước mắt của Thứ ứa ra khi ăn cơm không chỉ vì miếng cơm nghẹn lại trong cổ, mà còn vì nỗi xót xa, tủi hổ và thương cảm sâu sắc dâng lên trong lòng.

- Anh nhận ra rằng bữa cơm của mình – dù đạm bạc – vẫn là một sự ưu tiên, là phần ăn “đặc biệt” mà vợ con và người thân phải nhịn đi để dành cho mình. Càng ăn, Thứ càng thấm thía nỗi cơ cực, đói nghèo triền miên của cả gia đình; càng thương mẹ già, vợ trẻ, các em và con thơ đang chịu đói khổ mà vẫn cố nhường nhịn, chịu đựng. Miếng cơm như chứa đầy nỗi bất công và tình thương bị dồn nén, khiến Thứ cảm thấy nghẹn ngào, xót xa và tội lỗi.

Câu 4:

- Nhân vật ông giáo Thứ là một người con, người chồng, người anh đầy tình thương, có tấm lòng nhân hậu, vị tha. Dù nghèo khó, Thứ vẫn giữ sự tự trọng, luôn trăn trở về giá trị sống và nhân phẩm con người.

- Qua đó, nhà văn Nam Cao đã phản ánh hiện thực xã hội nghèo đói và ngột ngạt khiến con người bị đè nặng bởi cơm áo, mất dần ước mơ, khát vọng sống. Xã hội ấy là bi kịch của người trí thức nghèo- có lòng tốt, có ý thức nhưng bất lực trước hoàn cảnh. Đồng thời phản ánh tư tưởng nhân đạo sâu sắc, Nam Cao cảm thương cho thân phận con người và trân trọng vẻ đẹp tâm hồn dù trong khổ cực.



Câu 1:

-Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên là nghị luận.

Câu 2:

- Đoạn (5) sử dụng thao tác lập luận chứng minh.

- Tác dụng:

+ Làm sáng tỏ giấc mơ của mọi người cũng như người Mỹ trong việc loại bỏ sự phân biệt chủng tộc, giấc mơ ấy mang tính nhân văn, mong muốn một đất nước phát triển đẹp đẽ mà không có sự bất công.

+ Thể hiện sự khuyến khích, truyền động lực, khơi gợi niềm tin và cảm hứng sống tích cực của tác giả đến những con người đang nuôi nấng một giấc mơ của riêng minh, đầy mãnh liệt.

+ Làm cho đoạn văn và vấn đề được nhắc đến tăng sức thuyết phục, gợi trong người đọc nhiều suy nghĩ về những giấc mơ.

Câu 3:

- Tác giả cho rằng: "chúng ta thực sự là những kẻ nghèo đói" ở đây không phải thiếu thốn cơm manh áo mặc mà kẻ nghèo đói chính là những kẻ không có trong mình những giấc mơ- một hạt giống của cuộc đời hay quên đi những giấc mơ, ấy là nghèo đói trong tâm hồn.

- Bởi lẽ, ước mơ chính là hạt giống nảy lên biết bao sự sáng tạo, thúc đẩy chúng ta phát triển, là động lực, là ánh sáng soi đường cho con người ta phấn đấu, sống có ý nghĩa. Khi không có ước mơ, con người ta mất đi niềm tin, khát vọng và mục tiêu- đó là sự nghèo nàn trong tâm hồn, tâm thức.

Câu 4:

- Những cơn đau ốm tinh thần trong đoạn 11 chỉ sự mệt mỏi, bế tắc, trống rỗng trong tâm hồn- khi con người ta sống mà không có ước mơ, niềm tin, không biết mình sống vì điều gì.

- Những cách khả thi để chạy chữa cho những cơn đau ốm tinh thần :

+ Tìm lại mục tiêu, lý tưởng sống, bắt đầu từ những điều nhỏ nhất nhưng có ý nghĩa với bản thân.

+ Giữ niềm tin và tinh thần lạc quan, hướng tới những giá trị tốt đẹp.

+ Nuôi dưỡng ước mơ, khát khao cống hiến, học tập và phát triển.

+ Kết nối, chia sẻ với thầy cô, bạn bè, người thân để vượt qua sự trống rỗng trong tinh thần.

+ Tham gia các hoạt động cộng đồng: tình nguyện, hoạt động ngoại khóa...


Bài 1:

Câu 1:

-Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên là nghị luận.

Câu 2:

- Đoạn (5) sử dụng thao tác lập luận chứng minh.

- Tác dụng:

+ Làm sáng tỏ giấc mơ của mọi người cũng như người Mỹ trong việc loại bỏ sự phân biệt chủng tộc, giấc mơ ấy mang tính nhân văn, mong muốn một đất nước phát triển đẹp đẽ mà không có sự bất công.

+ Thể hiện sự khuyến khích, truyền động lực, khơi gợi niềm tin và cảm hứng sống tích cực của tác giả đến những con người đang nuôi nấng một giấc mơ của riêng minh, đầy mãnh liệt.

+ Làm cho đoạn văn và vấn đề được nhắc đến tăng sức thuyết phục, gợi trong người đọc nhiều suy nghĩ về những giấc mơ.

Câu 3:

- Tác giả cho rằng: "chúng ta thực sự là những kẻ nghèo đói" ở đây không phải thiếu thốn cơm manh áo mặc mà kẻ nghèo đói chính là những kẻ không có trong mình những giấc mơ- một hạt giống của cuộc đời hay quên đi những giấc mơ, ấy là nghèo đói trong tâm hồn.

- Bởi lẽ, ước mơ chính là hạt giống nảy lên biết bao sự sáng tạo, thúc đẩy chúng ta phát triển, là động lực, là ánh sáng soi đường cho con người ta phấn đấu, sống có ý nghĩa. Khi không có ước mơ, con người ta mất đi niềm tin, khát vọng và mục tiêu- đó là sự nghèo nàn trong tâm hồn, tâm thức.

Câu 4:

- Những cơn đau ốm tinh thần trong đoạn 11 chỉ sự mệt mỏi, bế tắc, trống rỗng trong tâm hồn- khi con người ta sống mà không có ước mơ, niềm tin, không biết mình sống vì điều gì.

- Những cách khả thi để chạy chữa cho những cơn đau ốm tinh thần :

+ Tìm lại mục tiêu, lý tưởng sống, bắt đầu từ những điều nhỏ nhất nhưng có ý nghĩa với bản thân.

+ Giữ niềm tin và tinh thần lạc quan, hướng tới những giá trị tốt đẹp.

+ Nuôi dưỡng ước mơ, khát khao cống hiến, học tập và phát triển.

+ Kết nối, chia sẻ với thầy cô, bạn bè, người thân để vượt qua sự trống rỗng trong tinh thần.

+ Tham gia các hoạt động cộng đồng: tình nguyện, hoạt động ngoại khóa...


Bài 2:

Câu 1:

Ước mơ là những khát vọng, mong muốn tốt đẹp mà con người hướng tới trong tương lai. Ước mơ là ngọn đèn soi sáng con đường đi tới tương lai của mỗi người. Nó giúp ta xác định mục tiêu sống và hướng phấn đấu cụ thể. Khi có ước mơ, con người trở nên kiên định hơn, biết vượt qua khó khăn để đạt được điều mình mong muốn. Ước mơ còn nuôi dưỡng trong ta niềm tin và nghị lực, giúp ta không gục ngã trước thử thách. Ước mơ không chỉ mang lại thành công cho cá nhân mà còn tạo ra giá trị cho xã hội. Những phát minh vĩ đại, những công trình lớn lao đều bắt đầu từ những giấc mơ nhỏ bé. Ví dụ, thầy Nguyễn Ngọc Ký đã biến ước mơ được đi học thành hiện thực dù mang khiếm khuyết cơ thể, để rồi trở thành biểu tượng của nghị lực và khát vọng sống. Ước mơ cũng giúp con người sống có ý nghĩa hơn, biết trân trọng từng bước đi của mình. Nó là nguồn năng lượng tinh thần giúp ta sống tích cực, vươn tới những điều tốt đẹp. Cuộc sống sẽ trở nên buồn tẻ biết bao nếu con người sống mà không có ước mơ, không có điều để hi vọng. Bởi thế, có ước mơ, dù nhỏ bé, vẫn là cách để ta khiến cuộc đời mình trở nên đáng sống hơn.