Đặng Kim Nam

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Đặng Kim Nam
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)



Câu 1. Xác định ngôi kể được sử dụng trong văn bản.

Ngôi kể thứ ba.

Người kể giấu mình, kể khách quan câu chuyện về lão Goriot và cuộc trò chuyện giữa lão với Rastignac.


Câu 2. Đề tài của văn bản trên là gì?

Đề tài: Tình phụ tử và bi kịch của người cha trong xã hội tư sản.

Văn bản tập trung vào những phút cuối đời của lão Goriot, khắc họa tình yêu thương vô bờ bến của người cha dành cho con và nỗi đau bị con cái ruồng bỏ.


Câu 3. Lời nói của lão Goriot với Rastignac... gợi cho em những cảm nhận, suy nghĩ gì?

Lời nói của lão Goriot khiến em vô cùng xúc động và xót xa:

Tình yêu thương vô bờ bến của người cha: Dù bị con gái bỏ rơi, lão vẫn dặn Rastignac “Con phải yêu quý cha mẹ con”. Lão không oán trách mà vẫn lo cho con mình biết hiếu thảo.

Nỗi cô đơn, khát khao đến tuyệt vọng: Câu “Ta sẽ chết mà không được gặp các con gái của ta không?” cho thấy nỗi đau bị ruồng bỏ. Hình ảnh “Ta luôn thấy khát nhưng không bao giờ ta được uống” là một ẩn dụ đắt giá, diễn tả khát khao tình con mà không bao giờ được thỏa mãn suốt 10 năm.

=> Đoạn văn khiến em thấm thía giá trị của tình cha mẹ và nhắc nhở bản thân phải hiếu thảo khi cha mẹ còn sống.


Câu 4. Vì sao lão Goriot lại khao khát được gặp các con ngay sau khi nguyền rủa, mắng chửi chúng?

Vì tình phụ tử trong lão quá lớn, vượt lên trên mọi nỗi đau và sự phản bội.

Lão có thể giận, có thể nguyền rủa trong phút giây tuyệt vọng, nhưng tình yêu thương con là bản năng, là lẽ sống của lão. Lão hiểu rằng mình sắp chết, nên dù bị con bỏ rơi, lão vẫn không thể ngừng nhớ, ngừng mong được gặp con lần cuối. Đó là mâu thuẫn đau đớn nhưng rất thật của một người cha yêu con đến quên mình.


Câu 5. Nhận xét về tình cảnh lúc cuối đời của lão Goriot.

Tình cảnh của lão Goriot lúc cuối đời vô cùng bi thảm và đáng thương:

Về vật chất: Lão chết trong căn phòng tồi tàn, nghèo khổ, không có ai bên cạnh ngoài Rastignac.

Về tinh thần: Lão chết trong cô đơn, tuyệt vọng vì bị hai cô con gái mà mình hy sinh cả đời ruồng bỏ.

=> Tình cảnh ấy tố cáo xã hội tư sản lạnh lùng, trọng đồng tiền hơn tình người. Nó cũng là bi kịch của tình phụ tử thiêng liêng bị chà đạp, khiến người đọc vừa thương xót vừa phẫn nộ.





Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên.

Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.

Dấu hiệu: Bài thơ có 4 câu, mỗi câu 7 chữ, niêm luật chặt chẽ, gieo vần ở chữ cuối các câu 1, 2, 4.


Câu 2. Xác định luật của bài thơ.

Bài thơ thuộc luật trắc vần bằng, niêm luật Đường luật:

Câu 1, 3, 4: Vần “ong” – phong, thi, xung phong.

Nhịp thơ thường là 4/3.

Đối ngẫu ở hai câu thực và hai câu luận: “Hiện đại thi trung ưng hữu thiết” đối với “Thi gia dã yếu hội xung phong”.


Câu 3. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ mà em ấn tượng trong bài thơ.

Mình chọn biện pháp đối ngẫu ở hai câu 3 và 4:

_“Hiện đại thi trung ưng hữu thiết,

Thi gia dã yếu hội xung phong.”_

Tác dụng:

Tạo sự cân xứng, nhịp nhàng, làm tăng tính nhạc và tính hàm súc cho bài thơ.

Nhấn mạnh tư tưởng của Bác: Thơ hiện đại cần có “thiết” – chất thép, tinh thần chiến đấu. Người làm thơ cũng phải là người xung phong trên mặt trận văn hóa, phục vụ cách mạng và nhân dân. Đối ngẫu giúp câu thơ vừa chặt chẽ, vừa mang sức lay động mạnh mẽ.


Câu 4. Theo em, vì sao tác giả lại cho rằng “Hiện đại thi trung ưng hữu thiết, / Thi gia dã yếu hội xung phong.”?

Vì trong hoàn cảnh kháng chiến, thơ ca không thể chỉ dừng lại ở việc ngâm vịnh, giải sầu. Thơ phải là vũ khí tinh thần, có “chất thép” để cổ vũ, động viên nhân dân chiến đấu. Người làm thơ cũng phải là “chiến sĩ”, phải xung phong, gắn bó với thực tế kháng chiến, với nhân dân. Câu thơ thể hiện quan niệm thơ ca cách mạng của Bác: thơ phải gắn với đời, phục vụ cách mạng.


Câu 5. Nhận xét về cấu tứ của bài thơ.

Cấu tứ bài thơ chặt chẽ, mạch lạc theo bố cục tứ tuyệt Đường luật:

Câu 1, 2: Khởi – Bác đọc Thiên gia thi, thấy thơ xưa thiên về tả cảnh, ít yếu tố chiến đấu.

Câu 3, 4: Chuyển – Hợp. Bác đề xuất yêu cầu mới cho thơ hiện đại: phải có “chất thép”, người làm thơ phải là chiến sĩ xung phong.

Cấu tứ này thể hiện rõ sự chuyển biến từ thưởng thức thơ xưa sang đặt ra yêu cầu cho thơ mới, thể hiện tư tưởng tiến bộ, gắn thơ với thời đại và cách mạng.



Câu 1. Xác định ngôi kể trong văn bản trên.

Ngôi kể thứ nhất – “tôi”.

Người kể là nhân vật “tôi” - cũng chính là tác giả, kể lại câu chuyện về cậu bé và những trải nghiệm của mình khi gặp cậu bé.


Câu 2. Kiệt tác của cậu bé trong văn bản là gì?

Kiệt tác của cậu bé là bức tranh vẽ con trăn nuốt một con voi.

Cậu bé vẽ con trăn từ bên ngoài, sau đó vẽ bên trong để cho thấy nó đang nuốt một con voi. Nhưng người lớn lại nhìn ra đó chỉ là một cái mũ.


Câu 3. Theo em, vì sao người lớn lại bảo cậu bé hãy chú trọng học những môn văn hóa thay vì khuyến khích cậu bé vẽ thật nhiều?

Vì người lớn không hiểu được thế giới tưởng tượng, sự sáng tạo và tâm hồn trẻ thơ của cậu bé.

Họ bị ràng buộc bởi tư duy thực dụng, chỉ quan tâm đến những gì thực tế, có ích theo quan niệm của họ như toán, địa lý, lịch sử. Họ không nhìn thấy được ý nghĩa ẩn sau bức tranh, nên cho rằng vẽ vời là vô ích và khuyên cậu bé bỏ vẽ để học những môn “thực tế” hơn.


Câu 4. Những người lớn trong văn bản trên được miêu tả như thế nào? Em có nhận xét gì về những nhân vật ấy?

Miêu tả: Người lớn được miêu tả là những người khô khan, thực dụng, thiếu trí tưởng tượng, không hiểu được tâm hồn trẻ thơ. Họ chỉ nhìn thấy bề ngoài, không hiểu được bản chất bên trong.

Nhận xét: Tác giả phê phán sự xơ cứng, thực dụng và thiếu đồng cảm của người lớn. Qua đó, Saint-Exupéry cho thấy người lớn đã đánh mất tâm hồn trẻ thơ, đánh mất khả năng cảm nhận vẻ đẹp và sự kỳ diệu của cuộc sống.


Câu 5. Qua văn bản, em rút ra được những bài học gì cho bản thân?

Qua văn bản, em rút ra được 2 bài học:

Hãy giữ gìn tâm hồn trẻ thơ: Đừng để bản thân trở nên khô khan, thực dụng. Cần biết tưởng tượng, sáng tạo và cảm nhận vẻ đẹp của thế giới xung quanh.

Hãy học cách nhìn bằng trái tim: Đừng chỉ nhìn sự vật bằng mắt thường mà hãy hiểu bản chất, ý nghĩa ẩn sâu bên trong. Khi giao tiếp với người khác cũng vậy, cần lắng nghe và thấu hiểu thay vì áp đặt suy nghĩ của mình.




Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ trên.

Thể thơ tự do.

Dấu hiệu: Các dòng thơ có độ dài ngắn khác nhau, không bị ràng buộc về số chữ, vần, nhịp như thơ truyền thống.


Câu 2. Chỉ ra những phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ.

Đoạn thơ sử dụng 3 phương thức biểu đạt chính:

Tự sự: Kể về hành động “Con trai lại vác cần câu... ra khỏi nhà lặng lẽ”.

Miêu tả: Tả hình ảnh giàu sức gợi “cá thiêng quay mặt khóc”, “lưỡi câu ngơ ngác lộ mồi”.

Biểu cảm: Bộc lộ nỗi xót xa, chiêm nghiệm của tác giả trước nghịch lý cuộc đời qua từ “lại” và hình ảnh nhân hóa “cá thiêng quay mặt khóc”.


Câu 3. Việc lặp lại hai lần dòng thơ “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy” trong bài có tác dụng gì?

Tuy câu thơ này không có trong đoạn trích bạn chụp, nhưng nếu đề bài hỏi thì tác dụng của biện pháp điệp ngữ này là:

Nhấn mạnh sự trôi chảy tuần hoàn của thời gian: Từ 5 năm đến nửa đời người, quy luật ấy cứ lặp lại không dứt.

Tạo giọng điệu trầm buồn, ám ảnh: Như một tiếng thở dài, một nỗi chiêm nghiệm kéo dài suốt đời tác giả.

Khắc sâu nỗi đau thế sự: Tác giả đã chứng kiến quá nhiều lần cái nghịch lý “cá thiêng khóc trước lưỡi câu” nên sự xót xa càng thấm thía, bất lực.


Câu 4. Phát biểu đề tài và chủ đề của bài thơ.

Đề tài: Số phận con người và quy luật nghiệt ngã của cuộc đời.

Chủ đề: Qua hình ảnh “cá thiêng lại quay mặt khóc / Trước những lưỡi câu ngơ ngác lộ mồi”, Nguyễn Quang Thiều bày tỏ nỗi đau xót trước sự trong sạch, thánh thiện bị lừa lọc, bị tổn thương bởi những cạm bẫy ở đời. Bài thơ là lời cảm thương cho kiếp người nhỏ bé và lời cảnh tỉnh về sự ngây thơ trước mưu toan của cuộc sống.


Câu 5. Bài thơ này gợi cho em những suy nghĩ gì ?

Đoạn thơ gợi cho em nỗi ám ảnh về sự ngang trái ở đời. Từ “lại” xuất hiện 2 lần: “lại vác cần câu”, “lại quay mặt khóc” cho thấy một vòng luẩn quẩn, một bi kịch lặp đi lặp lại. Hình ảnh “cá thiêng quay mặt khóc” khiến em xót xa. “Cá thiêng” tượng trưng cho những gì đẹp đẽ, trong sạch. Nhưng đến cả “cá thiêng” cũng phải khóc trước “lưỡi câu ngơ ngác lộ mồi” thì cuộc đời có biết bao cạm bẫy. “Ngơ ngác lộ mồi” vừa tả sự vô tình của kẻ đi câu, vừa gợi sự ngây thơ của người mắc bẫy. Qua đó, bài thơ nhắc em phải sống tỉnh táo, nhân hậu, để không vô tình làm tổn thương người khác và cũng không ngây thơ để bản thân bị lừa lọc.



Đây là bài Yêu của Xuân Diệu. Mình giải 5 câu nhé:


Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ trên.

Thể thơ thất ngôn.

Lý do: Mỗi dòng thơ có 7 chữ, gieo vần chân, không bị gò bó về số câu hay luật bằng trắc chặt như thơ Đường. Đây là thể thơ 7 chữ hiện đại, rất phổ biến trong Thơ Mới 1932-1945.


Câu 2. Nhận xét về nhịp thơ của bài thơ.

Nhịp thơ linh hoạt, dồn dập, mang đậm cảm xúc: Chủ yếu là nhịp 4/3: Yêu, là chết ở / trong lòng một ít.

Ngoài ra còn có nhịp 2/2/3: Người ta phụ, / hoặc thờ ơ, / chẳng biết, tạo cảm giác đứt gãy, nghẹn ngào như nhịp đập của con tim khi yêu. Việc thay đổi nhịp kết hợp với dấu phẩy, dấu chấm phẩy diễn tả tâm trạng phức tạp, vừa tha thiết vừa xót xa.


Câu 3. Phát biểu đề tài, chủ đề của bài thơ.

Đề tài: Tình yêu.

Chủ đề: Bài thơ thể hiện quan niệm về tình yêu của Xuân Diệu. Đó là một tình yêu nồng nàn, mãnh liệt nhưng luôn đi kèm với mất mát, khổ đau. Yêu là dâng hiến hết mình nhưng cũng là chấp nhận “chết ở trong lòng một ít” vì không phải lúc nào cũng được đáp lại.


Câu 4. Phân tích ý nghĩa của một hình ảnh tượng trưng mà em thấy ấn tượng trong văn bản.

Mình chọn hình ảnh: “Và cảnh đời là sa mạc cô liêu”

Nghĩa đen: Sa mạc là nơi khô cằn, rộng lớn, vắng vẻ, không có sự sống.

Nghĩa tượng trưng: Xuân Diệu ví cuộc đời của kẻ đang yêu mà không được đáp lại giống như sa mạc. Tình yêu không được hồi đáp khiến con người rơi vào trạng thái cô đơn tuyệt đối, tâm hồn khô héo, trống rỗng, không tìm thấy ý nghĩa. Hình ảnh này cực tả nỗi đau khổ, lạc lõng của kẻ si tình, đồng thời cho thấy quan niệm của Xuân Diệu: tình yêu chính là lẽ sống, thiếu nó thì cuộc đời vô nghĩa như sa mạc.


Câu 5. Văn bản gợi cho em những cảm nhận và suy nghĩ gì?

Bài thơ Yêu cho em thấy một quan niệm tình yêu rất “Xuân Diệu”: yêu là hết mình, là dâng hiến, nhưng cũng đầy bi lụy và khổ đau. Câu thơ “Yêu, là chết ở trong lòng một ít” được lặp lại 3 lần như một chân lý ám ảnh, khiến em hiểu rằng tình yêu không chỉ có màu hồng. Nó đòi hỏi sự hy sinh, chấp nhận mất mát vì “mấy khi yêu mà chắc được yêu”. Qua đó, em trân trọng hơn những tình cảm chân thành mình đang có và cũng hiểu rằng, dù đau khổ, con người vẫn không thể sống thiếu tình yêu.