Triệu Thị Thu Thùy
Giới thiệu về bản thân
câu 1 : Bài thơ "Những bóng người trên sân ga" của Nguyễn Bính là một bức tranh chân thực và cảm động về cuộc sống của những người lao động nghèo khổ trong xã hội cũ. Nội dung bài thơ xoay quanh hình ảnh những con người lam lũ, vất vả mưu sinh trên sân ga, nơi họ phải đối mặt với những khó khăn, vất vả và cả những nỗi cô đơn, lạc lõng. Nguyễn Bính đã khắc họa thành công những thân phận nhỏ bé, yếu ớt giữa dòng đời xô bồ, thể hiện sự cảm thông sâu sắc với những kiếp người nghèo khó.
Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng ngôn ngữ giản dị, mộc mạc, gần gũi với đời sống thường ngày. Hình ảnh thơ chân thực, sinh động, giàu sức gợi cảm. Tác giả đã sử dụng các biện pháp tu từ như so sánh, ẩn dụ, nhân hóa một cách khéo léo, tạo nên những vần thơ giàu cảm xúc, lay động lòng người. Đặc biệt, giọng điệu thơ trầm buồn, da diết, thể hiện sự xót xa, thương cảm của tác giả đối với những số phận bất hạnh. Nhịp điệu thơ chậm rãi, đều đặn, góp phần diễn tả sự nặng nề, mệt mỏi của cuộc sống lao động.
câu 2 : Bài làm
Cuộc đời mỗi người như một hành trình xuyên qua cánh rừng rậm rạp. Ở nơi đó, chúng ta có vô vàn ngã rẽ để lựa chọn. Trong bức tranh đa sắc màu ấy, việc lựa chọn con đường nào không đơn thuần là sự lựa chọn ngẫu nhiên mà nó còn phản ánh khát vọng sống, cá tính và bản lĩnh của mỗi người. Có lẽ vì thế mà nhà thơ người Mỹ, ông Robert Frost nhận định rằng “Trong rừng có nhiều lối đi và tôi chọn lối đi không có dấu chân người” khơi dậy sự tò mò về việc lựa chọn con đường trong cuộc sống của mỗi người.
Điều gì làm cho con đường chưa có dấu chân người trở nên cuốn hút? Tại sao chúng ta nên dũng cảm lựa chọn lối đi chưa ai khám phá? Câu nói đã trở thành biểu tượng tinh thần đáng khen ngợi cho hành động dám đương đầu với khó khăn, dám tạo ra sự khác biệt để tạo cho mình một con đường riêng.
Khu rừng với nhiều lối đi là hình ảnh tượng trưng cho những con đường, những lựa chọn mà cuộc sống mang lai cho chúng ta. Cuộc đời mỗi người là một chuỗi các quyết định mà ở đó, mỗi lựa chọn lại mở ra một cánh cửa mới và mỗi bước chân dẫn chúng ta đến những chân trời mới mẻ. Việc lựa chọn một con đường không có dấu chân người, một lối đi chưa từng được ai biết đến phản ánh khát vọng tự do, ước mơ được khám phá bản thân, mở mang thế giới kì thú. Thay vì đi theo những con đường quen thuộc, nhà thơ người Mỹ khuyến khích chúng ta bước ra khỏi vùng an toàn, thử thách bản thân, trải nghiệm những điều mới lạ.
Câu 1. Thể thơ của văn bản là thơ bảy chữ
Câu 2. Vần được gieo trong khổ cuối của văn bản là vần "ay" (bay, tay, mắt, này). Kiểu vần là vần chân.
Câu 3. Biện pháp tu từ được sử dụng xuyên suốt bài thơ là liệt kê (những chiếc khăn màu, những bàn tay, những đôi mắt). Tác dụng của biện pháp liệt kê là nhấn mạnh sự chia ly, nỗi buồn lan tỏa khắp không gian và bao trùm lên mọi sự vật, con người.
Câu 4.Đề tài: Chia ly.
Chủ đề: Nỗi buồn, sự cô đơn trong cuộc chia ly.
Câu 5. Yếu tố tự sự được thể hiện qua việc kể lại hình ảnh một người ra đi, gợi lên một cuộc chia ly. Tác dụng của yếu tố tự sự là tạo ra một bối cảnh cụ thể, giúp người đọc hình dung rõ hơn về tình huống chia ly, từ đó cảm nhận sâu sắc hơn nỗi buồn và sự cô đơn mà bài thơ muốn truyền tải.
a) Li độ \(x = 4 c m = \frac{A}{2}\):
\(\omega = 5 r a d / s\)
Động năng:
\(W_{đ} = \frac{1}{2} m v^{2} = \frac{1}{2} m \omega^{2} \left(\right. A^{2} - x^{2} \left.\right) = \frac{1}{2} \cdot 2 \cdot 5^{2} \left(\right. 0 , 0 8^{2} - 0 , 0 4^{2} \left.\right) \approx 0 , 03 J\)
Cơ năng: \(W = \frac{1}{2} m v_{m a x}^{2} = \frac{1}{2} \cdot 2 \cdot 5^{2} \cdot 0 , 0 8^{2} = 0 , 16 J\)
Thế năng: \(W_{t} = W - W_{đ} = 0 , 16 - 0 , 03 = 0 , 13 J\)
b)Để thế năng bằng động năng: \(W_{đ} = W_{t}\)
\(\Rightarrow \frac{1}{2} m \omega^{2} \left(\right. A^{2} - x^{2} \left.\right) = \frac{1}{2} m \omega^{2} x^{2}\)
\(\Rightarrow A^{2} - x^{2} = x^{2} \Rightarrow A^{2} = 2 x^{2} \Rightarrow x = \pm \frac{A}{\sqrt{2}}\)
a. Dựa vào đồ thị ta có:
Chu kì \(T = 2 s\), suy ra tần số góc \(\omega = \frac{2 \pi}{T} = \frac{2 \pi}{2} = \pi\) rad/s
Vận tốc cực đại của dao động: \(\text{v}_{m a x} = \omega A\)
\(\Rightarrow A = \frac{\text{v}_{m a x}}{\omega} = \frac{4}{\pi}\) cm
Thời điểm \(t = 0\), vật có \(\text{v} = \text{v}_{m a x}\), suy ra vật ở VTCB và \(\text{v} > 0\)
Khi đó: \(x = 0 \Rightarrow c o s \varphi = 0 \Rightarrow \varphi = - \frac{\pi}{2}\)
Phương trình của vận tốc có dạng: \(\text{v} = \omega A c o s \left(\right. \omega t + \varphi + \frac{\pi}{2} \left.\right)\)
\(\Rightarrow \text{v} = 4 c o s \left(\right. \pi t - \frac{\pi}{2} + \frac{\pi}{2} \left.\right) = 4 c o s \left(\right. \pi t \left.\right)\) (cm/s)
b. Phương trình dao động điều hòa có dạng: \(x = A c o s \left(\right. \omega t + \varphi \left.\right)\)
\(\Rightarrow x = \frac{4}{\pi} c o s \left(\right. \pi t - \frac{\pi}{2} \left.\right)\) (cm)
Phương trình của gia tốc có dạng: \(a = \omega^{2} A c o s \left(\right. \omega t + \varphi + \pi \left.\right)\)
\(\Rightarrow a = \pi^{2} . \frac{4}{\pi} c o s \left(\right. \pi t - \frac{\pi}{2} + \pi \left.\right) = 4 \pi c o s \left(\right. \pi t + \frac{\pi}{2} \left.\right)\) (cm/s2)
Từ phương trình \(x = 5 s i n \left(\right. 2 \pi t + \frac{\pi}{6} \left.\right)\) (cm)
\(\Rightarrow A = 5\) cm; \(\omega = 2 \pi\) rad/s
Ta có: \(\text{v} = x^{^{'}} = \omega A c o s \left(\right. \omega t + \varphi \left.\right) = 2 \pi . 5. c o s \left(\right. 2 \pi t + \frac{\pi}{6} \left.\right) = 10 \pi c o s \left(\right. 2 \pi t + \frac{\pi}{6} \left.\right)\) cm/s
a. Ở thời điểm \(t = 5\) s
Ta có: \(x = 5 s i n \left(\right. 2 \pi . 5 + \frac{\pi}{6} \left.\right) = 2 , 5\) cm
\(\text{v} = 10 \pi c o s \left(\right. 2 \pi . 5 + \frac{\pi}{6} \left.\right) = 5 \sqrt{30}\) cm/s
\(a = - \omega^{2} x = - \left(\left(\right. \left(\right. 2 \pi \left.\right) \left.\right)\right)^{2} . 2 , 5 = - 100\) cm/s2
b. Khi pha dao động là 120o
\(\sqrt{3}\) cm
\(v = 10 \pi c o s 12 0^{o} = - 5 \pi\) cm/s
\(a = - \omega^{2} x = - 4 \pi^{2} . 2 , 5 \sqrt{3} = - \sqrt{3}\)