Nguyễn Thị Tuyết Nhung
Giới thiệu về bản thân
Tác giả “rất ghét”:
“Tôi rất ghét cái định kiến quái gở […]: các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng tàn lụi sớm.”
⟶ Lê Đạt rất ghét định kiến cho rằng nhà thơ Việt Nam chín sớm thì cũng tàn sớm, tức là những người làm thơ chỉ dựa vào “vốn trời cho” mà không rèn luyện, tu dưỡng, lao động nghệ thuật.Tác giả “không mê”:
“Tôi không mê những nhà thơ thần đồng.”
⟶ Ông không mê những nhà thơ thần đồng, chỉ dựa vào năng khiếu bẩm sinh, không có quá trình lao động nghệ thuật nghiêm túc.Ngược lại, ông “ưa”:
“Tôi ưa những nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ.”
⟶ Lê Đạt ưa những nhà thơ cần cù, kiên trì, lao động nghệ thuật nghiêm túc, coi việc làm thơ là kết quả của mồ hôi, công sức và sự rèn luyện lâu dài chứ không phải chỉ là “thiên phú” hay “cơn bốc đồng”.
1.
-Những đoạn, câu nói về trẻ em và tuổi thơ:
+“Không đâu, chẳng qua thấy chúng như thế, cháu cứ bứt rứt không yên!”
+“Đồng hồ quả quýt úp mặt xuống bàn, nó bực bội lắm đấy!”
+“Giày chiếc xuôi chiếc ngược, làm sao chúng nói chuyện được với nhau?”
+“Về mặt này chúng ta không thể không ca tụng các em bé. Bởi trẻ em phần lớn rất giàu lòng đồng cảm... Chúng hồn nhiên trò chuyện với chó mèo, hồn nhiên hôn lên hoa cỏ, hồn nhiên chơi với búp bê, tấm lòng chúng chân thành mà tự nhiên hơn nghệ sĩ nhiều!... Bởi vậy bản chất của trẻ thơ là nghệ thuật.”
+“Tuổi thơ quả là thời hoàng kim trong đời người! Tuy thời hoàng kim của chúng ta đã trôi qua, nhưng nhờ bồi dưỡng về nghệ thuật, chúng ta vẫn có thể thấy lại thế giới hạnh phúc, nhân ái và hoà bình ấy.”
-Vì sao tác giả lại nhắc nhiều đến trẻ em và tuổi thơ:
+Vì trẻ em là hình ảnh tiêu biểu nhất cho sự hồn nhiên, trong sáng, đồng cảm và yêu thương vạn vật, điều mà người nghệ sĩ cần có để sáng tạo cái đẹp.
+Tác giả xem trẻ em như “nghệ sĩ bẩm sinh”, bởi chúng cảm nhận thế giới bằng trái tim chân thật, không bị chi phối bởi lợi ích hay lý trí.
2.
-Những điểm tương đồng giữa trẻ em và người nghệ sĩ:
+Cả hai đều sống bằng cảm xúc, bằng trái tim, nhìn thế giới bằng con mắt của tình yêu và đồng cảm, chứ không phải bằng lý trí hay toan tính.
-Sự khâm phục, trân trọng trẻ em của tác giả được hình thành trên cơ sở nào:
+Tác giả nhắc nhiều đến trẻ em và tuổi thơ để khẳng định rằng bản chất của nghệ thuật và cái đẹp bắt nguồn từ tấm lòng hồn nhiên, đồng cảm và yêu thương như trẻ nhỏ. Trẻ em chính là hình ảnh thuần khiết nhất của người nghệ sĩ — sống bằng cảm xúc, bằng trái tim, và nhìn thế giới bằng ánh mắt nhân ái.
1.
- Theo tác giả,mỗi nghề nghiệp có một cách nhìn riêng về cùng một sự vật,vì mỗi người chú ý đến khía cạnh phù hợp với mục đích và công việc của mình:
+Nhà khoa học thấy được tính chất và trạng thái của nó
+Bác làm vườn thấy sức sống của nó
+Chú thợ mộc thấy chất liệu của nó
+Anh hoạ sĩ thấy dáng vẻ của nó.
2.
- Người nghệ sĩ nhìn sự vật bằng con mắt của cái đẹp(Mĩ),không bị ràng buộc bởi mục đích sử dụng hay giá trị thực tiễn.
1.
-Tóm tắt câu chuyện:Tác phẩm mở đầu bằng lời kể của tác giả về một chú bé xếp đồ giúp mình, về lòng đồng cảm của chú bé với tất cả đồ vật có trong phòng. Đoạn trích nói về tấm lòng đồng cảm không chỉ của đứa bé hay người họa sĩ mà còn cả sự đồng cảm của mọi nghề nghiệp nhưng lòng đồng cảm và cách nhìn mọi vật của họ không giống nhau. Người nghệ sĩ cũng giống như một đứa trẻ , luôn đồng cảm với mọi sự vật, kể cả những đồ vật từ cái bàn, cái ghế đến bông hoa, cây cỏ,... Từ đó cho thấy quan niệm của tác giả về lòng đồng cảm của người nghệ sĩ và tôn trọng, ngợi ca tấm lòng đồng cảm của trẻ em.
- Từ câu chuyện đó tác giả nhận ra rằng cảm xúc đồng cảm với sự vật chính là tâm thế hướng tới cái đẹp,là nền tảng của nghệ thuật.
2.
- Theo tác giả,người nghệ sĩ có sự đồng cảm khác với người thường ở chỗ:
+Người thường: chỉ có thể đồng cảm với con người khác hoặc cùng lắm là với loài vật.
+Người nghệ sĩ:có lòng đồng cảm rộng lớn,có thể cảm nhận,thấu hiểu mọi sự vật,kể cả những vật vô tri vô giác.
3.
- Việc đặt vấn đề của văn bản nghị luận bằng cách kể lại một câu chuyện có tác dụng:
+ Làm cho vấn đề nghị luận trở nên sinh động,tự nhiên và dễ hiểu hơn.
+Giúp người đọc dễ bị cuốn hút,dễ bị đồng cảm với điều mà tác giả muốn nói.
+ Câu chuyện cụ thể là minh chứng sống động cho luận điểm về lòng đồng cảm và cảm nhận cái đẹp,khiến bài viết thuyết phục và giàu cảm xúc hơn.
Câu 1:
- Thể loại của văn bản Đồng vọng ngược chiều là truyện ngắn
Câu 2:
- Ngôi kể được tác giả sử dụng trong văn bản là ngôi kể thứ ba
- Câu văn thể hiện ngôi kể đó là:“Theo cái gậy tre dò đường,bà lão rò rẫm từng bước về phía ga.”
Câu 3:
- Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn trên là: so sánh-như đóng đinh bà lão xuống nền đường.
- Tác dụng:
+ Gợi hình ảnh tia nắng gay gắt, chói chang ,tạo cảm giác khắc nghiệt,oi nồng của buổi trưa hè.
+ Thể hiện thân phận khổ cực ,bế tắc như bị đóng chặt vào cảnh ngộ nghèo đói,bất hạnh của bà lão mù.
+ Gợi cảm xúc thương xót sâu sắc nơi người đọc.
Câu 4:
- Nhan đề của văn bản có ý nghĩa là:gợi sự đồng cảm sâu sắc giữa hai con người cùng khổ đó là giữa bà lão mù và bé Chi nhưng đáng tiếc thay là người này muốn cho nhưng người kia không nhận được.Điều đó đã làm nên bị kịch nhân sinh và lòng nhân ái giữa những con người khốn khổ.
Câu 5:
- Qua văn bản tác giả đã thể hiện tư tưởng,thông điệp là:”lòng nhân ái và sự cảm thông giữa những con người bất hạnh.Dù trong cảnh nghèo đói bất hạnh nhất nhưng con người vẫn có lòng trắc ẩn nhân hậu và khát vọng sẻ chia