Lục Thị Bích Diệp

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Lục Thị Bích Diệp
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Các chi tiết biểu hiện không gian trong văn bản " Héc - to từ biệt Ăng - đrô - mác " là

+ Cổng thành Xcê ( nơi Héc - to gặp vợ con của mình )

+ Thành Troy ( bối cảnh chính trong cuộc chiến)

+ Chiến trường ( nơi diễn ra mặt trận)

Qua các chi tiết trên , chúng ta có thể thấy được đặc trưng của không gian sử thi trong đoạn trích là không gian rộng lớn, mang tính công đồng và gắn liền với không gian sinh hoạt gia đình, cá nhân . Nó chính là nơi diễn ra những sự lố trọng đại, quyết định sự tồn vong của thành Troy .

- Câu chủ đề: Thuyết phục mọi người từ bỏ thói quen sử dụng điện thoại quá nhiều. - Luận điểm mở đầu – Thực trạng, biểu hiện của thói quen: Ngày nay, nhiều người, đặc biệt là học sinh, thường xuyên sử dụng điện thoại quá mức để chơi game, xem mạng xã hội, quên học tập và giao tiếp trực tiếp.

- Luận điểm bổ sung – Các giải pháp từ bỏ: Cần lập thời gian biểu hợp lý, giới hạn thời gian dùng điện thoại, chỉ sử dụng khi thật cần thiết và tham gia các hoạt động ngoài trời để thay thế. - Luận điểm bổ sung – Tác hại của thói quen: Dùng điện thoại quá nhiều gây mỏi mắt, giảm tập trung, ảnh hưởng sức khỏe, kết quả học tập và các mối quan hệ xung quanh. - Đánh giá, tổng kết – Ý nghĩa của việc từ bỏ: Từ bỏ thói quen dùng điện thoại quá nhiều giúp ta sống lành mạnh, học tập hiệu quả, có thêm thời gian cho bản thân và gắn kết với mọi người hơn.

Sức thuyết phục của bài viết “Điện thoại thông minh và người dùng, ai là ông chủ?” nằm ở lập luận chặt chẽ, dẫn chứng thực tế và ngôn ngữ giản dị, gần gũi. Tác giả nêu vấn đề đúng với đời sống hiện nay, giúp người đọc dễ liên hệ và suy ngẫm. Giọng văn tỉnh táo, mang tính cảnh báo nhưng cũng định hướng, khuyên con người biết làm chủ công nghệ, khiến bài viết vừa sâu sắc vừa thuyết phục.

Bài 2: Trình tự lập luận trong bài được sắp xếp hợp lí: mở đầu nêu hiện tượng con người ngày càng phụ thuộc vào điện thoại thông minh; tiếp đến, tác giả phân tích những biểu hiện và hậu quả của sự lệ thuộc; cuối cùng khẳng định con người phải làm chủ công nghệ, dùng điện thoại như công cụ phục vụ cuộc sống. Cách sắp xếp này giúp lập luận rõ ràng, thuyết phục và hướng người đọc tới nhận thức đúng đắn về việc sử dụng điện thoại.

Bài 1: Vấn đề chính của văn bản “Điện thoại thông minh và người dùng, ai là ông chủ?” là mối quan hệ giữa con người và điện thoại thông minh trong thời đại công nghệ. Tác giả đặt ra câu hỏi: con người đang làm chủ công nghệ hay đang bị công nghệ chi phối, lệ thuộc? Qua đó, văn bản khơi gợi ý thức sử dụng điện thoại thông minh một cách chủ động và có trách nhiệm.

Quan điểm “chữ bầu lên nhà thơ” được Lê Đạt triển khai bằng cách khẳng định chữ là linh hồn của thơ, là yếu tố quyết định tài năng của người sáng tác. Ông cho rằng nhà thơ phải biết sáng tạo ngôn từ, làm cho chữ trở nên có hồn, vượt ra khỏi nghĩa thông thường. Cách lập luận của tác giả chặt chẽ, độc đáo và thể hiện rõ phong cách tư duy nghệ thuật sâu sắc

Trong phần 2 của văn bản “Chữ bầu lên nhà thơ”, Lê Đạt đưa ra lí lẽ rằng chính ngôn ngữ “chữ” làm nên nhà thơ, chứ không chỉ cảm xúc hay ý tưởng. Ông dẫn chứng bằng cách so sánh nhà thơ với người làm thơ, khẳng định nhà thơ thật sự là người biết sáng tạo, làm cho chữ có sức gợi và linh hồn riêng. Lí lẽ của tác giả chặt chẽ, dẫn chứng thuyết phục, thể hiện quan điểm độc đáo và sâu sắc về vai trò của ngôn từ trong thơ ca.

" Nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ " . Từ ý kiến này, chúng ta hiểu được rằng đầu tiên là " một nắng hai sương , lầm lũi , lực điền trên cánh đồng giấy " được hiểu rằng là những nỗ lực, vất vả , sự cố gắng , miệt mài, nghị lực và kiên trì qua những tháng ngày dù nắng gắt , mưa gió của những người nghệ sĩ bên trang giấy để sáng tác nên tác phẩm hay và độc đáo cho riêng mình. Còn " đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ" là đổi lấy những giọt mồ hôi , sự nỗ lực và cố gắng để đánh đổi lấy từng con chữ. Qua đó ta hiểu được ý kiến trên rằng để sáng tác thành công nên tác phẩm hay và độc đáo nhà thơ phải nỗ lực, cố gắng và miệt mài chăm chỉ bên trang giấy qua những tháng ngày dù mưa gió , nắng gắt và đánh đổi từ những giọt mồ hôi , vất vả gian khổ để đổi lấy từng con chữ.

Tác giả rất ghét cái định kiến quái quở , không xuất hiện từ bao giờ : các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng tàn lụi sớm. Tác giả không mê những nhà thơ thần đồng. Ngược lại, tác giả ưa những nhà thơ một nắng hai sương , lẫn lũi , lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ.

Câu 1:

Trong văn bản “Yêu và đồng cảm”, tác giả nhắc đến trẻ em và tuổi thơ qua nhiều hình ảnh, câu nói thể hiện tình cảm yêu thương và trân trọng như: “Trẻ em là những tâm hồn trong sáng, hồn nhiên”, “Tuổi thơ là khoảng thời gian đẹp nhất của đời người”. Tác giả nhắc nhiều đến trẻ em và tuổi thơ vì ông coi đó là quãng đời vô tư, thuần khiết, chứa đựng những tình cảm chân thật và trong sáng nhất. Qua đó, ông muốn khơi dậy ở con người lòng yêu thương, đồng cảm và sự trân trọng đối với những tâm hồn trẻ thơ.

Câu 2 :

Tác giả nhận thấy giữa trẻ em và người nghệ sĩ có điểm chung là đều có tâm hồn nhạy cảm, biết rung động trước cái đẹp, cái thiện và luôn sống chân thật với cảm xúc của mình. Cả hai đều có khả năng quan sát tinh tế, tưởng tượng phong phú và cảm nhận cuộc sống bằng trái tim. Sự khâm phục và trân trọng của tác giả dành cho trẻ em được hình thành từ việc ông nhận ra trong tâm hồn trẻ nhỏ luôn tồn tại lòng nhân hậu, sự chân thành và khả năng cảm thông , những phẩm chất mà con người trưởng thành đôi khi đã đánh mất