Nguyễn Hữu Quốc Khánh
Giới thiệu về bản thân
PHẦN II: Viết
Câu 1:
Nhân vật người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn (bản dịch Nôm Đoàn Thị Điểm) là hình tượng tiêu biểu cho người phụ nữ Việt Nam có tâm hồn sâu sắc, chung thủy và giàu tình cảm. Ngay từ khi xuất hiện, nàng hiện lên với nỗi nhớ thương khôn nguôi khi chồng ra trận, phải sống cảnh “trải mấy xuân tin đi tin lại, tới xuân này tin hãy vắng không”. Những hành động như “đề chữ gấm phong thôi lại mở”, “gieo bói tiền tin dở còn ngờ”, “dạo hiên vắng thầm gieo từng bước”, “ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen” thể hiện sự mong ngóng, thủy chung và lòng son sắt của người vợ dành cho chồng. Dù cô đơn, tuyệt vọng, nàng vẫn giữ trọn đạo nghĩa, tình yêu và niềm tin nơi người chinh phu. Ngôn ngữ nhân vật nhẹ nhàng, trữ tình, cho thấy một tâm hồn nhạy cảm, dịu dàng nhưng mạnh mẽ trong tình cảm. Người chinh phụ vừa là biểu tượng của nỗi đau chiến tranh, vừa là hiện thân của phẩm hạnh cao quý: yêu thương, thủy chung, đức hạnh và hiếu nghĩa. Hình ảnh ấy để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc, khiến ta thêm trân trọng vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ Việt Nam xưa và thêm quý trọng cuộc sống hòa bình, hạnh phúc hôm nay.
Câu 2:
Từ thuở xa xưa, lịch sử nhân loại đã trải qua biết bao cuộc chiến tranh tàn khốc, để lại những vết thương sâu sắc không dễ gì xóa nhòa. Ở đâu có chiến tranh, ở đó có đau thương, mất mát; còn ở đâu có hòa bình, ở đó có hạnh phúc, yêu thương. Chính vì thế, chiến tranh và hòa bình luôn là hai mặt đối lập mà con người mọi thời đại đều phải suy ngẫm và lựa chọn.
Chiến tranh là hành động dùng bạo lực vũ trang để giải quyết mâu thuẫn giữa các quốc gia hay các phe phái, thường nhằm mục đích mở rộng lãnh thổ, chiếm đoạt tài nguyên hoặc khẳng định quyền lực chính trị. Đó là hành vi sai trái, phi nhân đạo, đi ngược lại khát vọng sống yên ổn và công bằng của con người. Trái lại, hòa bình là trạng thái yên ổn khi các quốc gia cùng tôn trọng, hợp tác và phát triển, khi con người được sống trong tình yêu thương, đoàn kết. Có thể nói, hòa bình là điều kiện để con người mưu cầu hạnh phúc, là giá trị quý giá nhất mà nhân loại luôn hướng tới.
Lịch sử thế giới đã từng chứng kiến hai cuộc Chiến tranh thế giới đẫm máu khiến hàng chục triệu người thiệt mạng, hàng trăm thành phố bị san phẳng, biết bao gia đình tan nát. Ở Việt Nam, chiến tranh chống thực dân, đế quốc kéo dài suốt mấy chục năm đã khiến hàng triệu người ngã xuống, đất nước chịu vô vàn đau thương. Chiến tranh không chỉ cướp đi sinh mạng mà còn tàn phá nền kinh tế, hủy hoại môi trường, làm mai một văn hóa, chia cắt tình người. Nỗi đau ấy còn in sâu trong tâm trí bao thế hệ, trở thành lời nhắc nhở không thể quên. Vì vậy, nhân loại cần có nhận thức đúng đắn để ngăn chặn mọi nguy cơ, mầm mống của chiến tranh ngay từ khi còn sớm.
Để bảo vệ hòa bình, trước hết mỗi quốc gia cần tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, cùng hợp tác phát triển thay vì gây hấn, tranh chấp. Các tổ chức quốc tế phải chung tay lên án những hành động xâm lược, gây bất ổn. Về phần mỗi cá nhân, chúng ta cần nuôi dưỡng lòng yêu nước, biết trân trọng hòa bình, lan tỏa tinh thần nhân ái và sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc khi cần. Với học sinh – thế hệ tương lai của đất nước – việc học tập chăm chỉ, rèn luyện đạo đức và xây dựng ước mơ tốt đẹp cũng chính là góp phần giữ gìn hòa bình cho mai sau.
Chiến tranh chỉ mang đến hủy diệt, còn hòa bình mở ra con đường phát triển và hạnh phúc. Mỗi chúng ta phải hiểu rằng hòa bình không tự nhiên mà có; đó là thành quả của bao máu xương và hy sinh. Vì vậy, hãy sống nhân hậu, yêu thương, cùng nhau xây dựng một thế giới không còn tiếng súng, nơi chỉ có tiếng cười và niềm tin vào ngày mai .Vì vậy, hãy sống nhân hậu, yêu thương, cùng nhau xây dựng một thế giới không còn tiếng súng, nơi chỉ có tiếng cười và niềm tin vào ngày mai.
PHẦN I: Đọc-hiểu
Câu 1:
- Văn bản sử dụng thể thơ song thất lục bát.
Câu 2:
- Dòng thơ cho thấy sự mong mỏi, ngóng trông tin chồng của người chinh phụ là :
“Trải mấy xuân tin đi tin lại, / Tới xuân này tin hãy vắng không.”
→ Hai câu thơ cho thấy nỗi khắc khoải, trông ngóng mòn mỏi của người vợ khi nhiều năm qua vẫn bặt tin chồng.
Câu 3:
-Nghĩ về người chồng nơi xa, người chinh phụ:
- “Đề chữ gấm phong thôi lại mở”
- “Gieo bói tiền tin dở còn ngờ”
- “Trăng khuya nương gối bơ phờ tóc mai”
- “Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước”
- “Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen”
→ Những hành động ấy cho thấy nàng luôn nhớ thương, mong ngóng chồng, sống trong tâm trạng cô đơn, khắc khoải và tuyệt vọng.
Câu 4:
- Tác dụng của 1 biện pháp tu từ em ấn tượng trong văn bản : nhân hóa (“Đèn có biết dường bằng chẳng biết, / Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.”)
- Tác dụng:
+ Làm cho câu thơ thêm sinh động, gợi cảm
+ Ngọn đèn được nhân hoá như người bạn chứng kiến nỗi cô đơn của nàng, làm tăng tính biểu cảm, gợi sâu sắc nỗi buồn lặng lẽ và khát khao được thấu hiểu của người chinh phụ.
Câu 5:
- Trong văn bản này, người chinh phụ đã thể hiện tâm trạng cô đơn, buồn tủi, nhớ nhung và tuyệt vọng khi xa chồng.
- Qua tâm trạng đó, em càng trân trọng giá trị của cuộc sống hòa bình hôm nay-nơi con người được sống bên người thân, không phải chịu cảnh chia li, chiến tranh, mất mát.