Trà Văn Đồng
Giới thiệu về bản thân
a. Các đối tác chiến lược toàn diện của Việt Nam hiện nay Tính đến thời điểm hiện tại, Việt Nam đã thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện (cấp độ quan hệ ngoại giao cao nhất) với 8 quốc gia: Trung Quốc (năm 2008) Nga (năm 2012) Ấn Độ (năm 2016) Hàn Quốc (năm 2022) Hoa Kỳ (tháng 9/2023) Nhật Bản (tháng 11/2023) Australia (Úc) (tháng 3/2024) Pháp (tháng 10/2024) b. Những nét chính về hoạt động đối ngoại thể hiện sự tích cực, chủ động hội nhập Việt Nam đã chuyển từ trạng thái "muốn là bạn" sang "là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế". Những nét chính bao gồm: Đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ: Việt Nam hiện có quan hệ ngoại giao với hầu hết các quốc gia trên thế giới và là thành viên của nhiều tổ chức lớn như Liên Hợp Quốc (UN), ASEAN, WTO, APEC... Chủ động tham gia vào các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (như CPTPP, EVFTA, RCEP) để thúc đẩy kinh tế. Đóng góp tích cực vào hòa bình thế giới: Cử lực lượng tham gia Gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc tại các khu vực như Nam Sudan và Cộng hòa Trung Phi. Đảm nhận tốt các vai trò quan trọng như Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, Chủ tịch ASEAN. Thực hiện "Ngoại giao cây tre": Giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ nhưng linh hoạt, mềm mỏng trong ứng xử để bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Xây dựng lòng tin chiến lược với các nước lớn và các láng giềng trong khu vực. Hội nhập toàn diện: Không chỉ hội nhập về kinh tế mà còn mở rộng sang các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, quốc phòng, an ninh và y tế (điển hình là sự hợp tác quốc tế trong phòng chống đại dịch COVID-19 vừa qua).
a. Khái quát hành trình từ năm 1911 đến năm 1917: Trong giai đoạn này, Nguyễn Tất Thành đã đi qua nhiều châu lục với mục tiêu tìm hiểu bản chất của chủ nghĩa đế quốc và thực dân: Ngày 5/6/1911: Từ bến cảng Nhà Rồng (Sài Gòn), Người lấy tên là Văn Ba, làm phụ bếp trên tàu Đô đốc Latouche-Tréville để lên đường sang Pháp. Từ 1911 - 1917: Người đã đi qua nhiều nước ở châu Á, châu Âu, châu Phi và châu Mỹ (như Pháp, Anh, Mỹ, các nước thuộc địa ở châu Phi...). Mục đích: Qua việc quan sát cuộc sống của nhân dân lao động và các cuộc cách mạng tại những nơi này, Người nhận ra rằng: Ở đâu bọn đế quốc, thực dân cũng tàn bạo, độc ác; ở đâu người lao động cũng bị áp bức, bóc lột dã man. Cuối năm 1917: Người từ Anh trở lại Pháp, tham gia vào các hoạt động chính trị tại Paris (gia nhập Đảng Xã hội Pháp) để tiếp tục tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc. b. Lựa chọn con đường cách mạng vô sản: Tại sao Nguyễn Ái Quốc lựa chọn con đường cách mạng vô sản? Sự thất bại của các con đường trước đó: Người đã chứng kiến sự thất bại của các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến (Cần Vương) và dân chủ tư sản (Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh). Ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga (1917): Đây là cuộc cách mạng đầu tiên trên thế giới giải phóng được nhân dân lao động, mở ra một thời đại mới. Bước ngoặt quan trọng (7/1920): Người đọc bản "Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa" của V.I. Lênin. Bản luận cương đã giúp Người tìm thấy con đường giải phóng dân tộc đúng đắn: Con đường cách mạng vô sản. Nội dung cơ bản của con đường cứu nước do Nguyễn Ái Quốc xác định: Tính chất: Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa là một bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản thế giới. Lực lượng: Công nhân và nông dân là gốc của cách mạng; đồng thời phải đoàn kết các tầng lớp yêu nước khác. Sự lãnh đạo: Cách mạng muốn thành công phải có một Đảng Cộng sản lãnh đạo theo học thuyết Mác - Lênin. Mối quan hệ: Cách mạng ở thuộc địa có quan hệ mật thiết với cách mạng vô sản ở "chính quốc", nhưng có thể giành thắng lợi trước. Mục tiêu: Giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp và giải phóng con người; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.