Trương Hà Linh

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Trương Hà Linh
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:

Di tích lịch sử là những nơi lưu giữ lại dấu tích của quá khứ, nó không chỉ mang lại giá trị về vật chất mà còn mang ý nghĩa tinh thần to lớn. Thế nhưng, hiện nay có rất nhiều di tích đang bị xuống cấp nghiêm trọng do tác động của con người và môi trường. Sự xuống cấp của di tích lịch sử là tình trạng các công trình, hiện vật hoặc địa danh có giá trị văn hóa, lịch sử bị suy giảm về chất lượng kiến trúc, thẩm mỹ và độ bền vững so với trạng thái nguyên bản. Để hạn chế tình trạng trên, trước hết ta cần nâng cao ý thức cộng đồng, đặc biệt là những khách tham quan thông qua tuyên truyền và giáo dục về giá trị của di sản. Mỗi người cần có trách nhiệm giữ gìn, không xả rác bừa bãi, không vẽ bậy hay làm hư hại công trình. Bên cạnh đó, Nhà nước cần đầu tư kinh phí hợp lí cho việc sửa chữa và bảo vệ, bảo tồn theo đúng nguyên tắc khoa học, tránh sửa chữa tùy tiện làm mất đi giá trị nguyên gốc. Tại Khánh Hòa (2020-2025), tỉnh đã dành gần 18 tỷ đồng ngân sách cho công tác tu bổ, tôn tạo các di tích lịch sử-văn hóa để không chỉ bảo tồn và phát huy giá trị di sản mà còn để tăng cường sức hấp dẫn cho các điểm đến văn hóa tại địa phương. Đồng thời, các cơ quan chức năng cần tăng cường công tác quản lý, xử phạt nghiêm các hành vi phá hoại di tích. Tóm lại, bảo tồn di tích lịch sử là bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc. Bản than em còn là học sinh ngồi trên ghế nhà trường, em sẽ học tập và rèn luyện chăm chỉ, đồng thời tích cực quảng bá việc gìn giữ và bảo vệ di tích lịch sử với bạn bè trong và ngoài nước.

Câu 2:

Lê Quý Đôn từng nói: "Thơ phát khởi từ trong lòng người ta". Thật vậy, thơ ca bao giờ cũng là tấm gương của tâm hồn, là tiếng nói tình cảm của con người trước cuộc đời. Và điều đó được thể hiện trọn vẹn qua tác phẩm "Đường vào Yên Tử" của Hoàng Quang Thuận. Bài thơ đã để lại trong lòng người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc bởi vẻ đẹp hùng vĩ, thanh tịnh của danh thắng Yên Tử.

Bài thơ "Đường vào Yên Tử" của Hoàng Quang Thuận được in trong tập thơ "Thi vân Yên Tử" của nhà xuất bản Giáo dục năm 2015, là một khúc ca thấm đẫm lòng thành kính đối với các vị tiền nhân và khát vọng tìm về sự an yên nơi tâm hồn giữa cuộc đời biến động của tác giả. Bằng những hình ảnh giản dị, mộc mạc, thi nhân đã khắc họa cuộc hành trình tìm về cội nguồn tâm linh và vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên chốn Yên Tử.

Mạch cảm xúc của bài thơ "Đường vào Yên Tử" đi từ những cảm nhận sâu sắc về vẻ đẹp hùng vĩ của cảnh vật thiên nhiên và sự tấp nập của người đi lễ hội đến những những suy tư, chiêm nghiệm về khung cảnh tâm linh huyền ảo của núi rừng Yên Tử, khép lại bài thơ là lòng thành kính với các bậc tiền nhân và sự thư thái trong tâm hồn.

Nếu mạch cảm xúc là nhạc điệu chính của bài thơ thì từng câu chữ lại là những nốt nhạc ngân vang đưa người đọc đến với thế giới hình ảnh giàu sức gợi. Mở đầu bài thơ, tác giả vừa thể hiện niềm suy tư trước sự đổi thay của thời gian, vừa khắc họa bức tranh sinh động về vùng đất thiêng liêng với dòng người trẩy hội:

"Đường vào Yên Tử có khác xưa
Vẹt đá mòn chân lễ hội mùa
Trập trùng núi biếc cây xanh lá
Đàn bướm tung bay trong nắng trưa."

Hình ảnh "vẹt đá mòn chân" gợi lên sự tiếp nối của hàng ngàn thế hệ du khách, thể hiện lòng thành kính và sự kiên trì của con người trên hành trình hướng về cội nguồn. Cảnh sắc nơi đây gắn liền với "núi biếc", "cây xanh lá" trập trùng tạo không gian hùng vĩ mà giàu sức sống. Đặc biệt, sự xuất hiện của "đàn bướm tung bay trong nắng trưa" được nhà thơ vận dụng tinh tế, xóa tan đi vẻ trầm mặc thường ngày mà thay vào đó là sự sống động, ấm áp. Có thể thấy, bằng bút pháp miêu tả tài tình, thi nhân không chỉ dựng nên khung cảnh thiên nhiên sống động, thanh bình mà còn bộc lộ tâm thế an yên, thanh thản khi đặt chân đến Yên Tử-nơi vẻ đẹp thiên nhiên và và dấu ấn tâm linh hòa quyện hài hòa. Khổ thơ đầu nhẹ nhàng như một tiếng dạo đầu, dẫn dắt người đọc vào không gian đầy xúc cảm của những câu thơ tiếp theo.

Mạch cảm xúc của bài thơ tiếp tục lan tỏa và lắng đọng trong khổ thơ cuối. Bài thơ khép lại là những suy tư, chiêm nghiệm và cái nhìn mang đậm màu sắc tâm linh của tác giả khi tiến sau vào không gian huyền ảo của Yên Tử:

"Cây rừng phủ núi thành từng lớp
Muôn vạn đài sen mây đong đưa
Trông như đám khói người Dao vậy
Thấp thoáng trời cao những mái chùa."

Hình ảnh thiên nhiên "cây rừng phủ núi thành từng lớp" gợi lên sự hùng vĩ, che chở cho chốn linh thiêng. Đặc biệt, câu thơ "muôn vạn đài sen mây đong đưa" bộc lộ tài quan sát tinh tế của tác giả, nơi những đám mây trôi lưng chừng núi được thi sĩ liên tưởng đến những đài sen-biểu tượng cao quý của Phật giáo-đang nâng đỡ, bao bọc lấy đất trời. Nghệ thuật so sánh "trông như đám khói người Dao vậy" không chỉ làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt của câu thơ mà còn làm nổi bật làn khói mờ ảo. Hình ảnh "thấp thoáng trời cao những mái chùa" , tượng trưng cho đích đến của niềm tin và hy vọng, nơi con người cảm nhận được sự bình yên và kết nối với cõi Phật cao xa. Qua đó, tác giả thể hiện lòng thành kính sâu sắc trước vẻ đẹp và sự linh thiêng của danh thắng Yên Tử. Khổ thơ cuối như một nốt lặng trầm gói trọn tình cảm sâu sắc của nhà thơ.

Như một cái chạm tay khẽ nhẹ vào tâm hồn người yêu thơ, bài thơ "Đường vào Yên Tử" nhẹ nhàng và tinh tế như chính tác gải của nó. Tác phẩm đã để lại trong lòng người đọc nhiều ấn tượng bởi sự phóng túng và cái tôi trữ trình dạt dào cảm xúc.

"Thơ ca bắt rễ từ lòng người, nở hoa nơi từ ngữ". Quả thật, bài thơ "Đường vào Yên Tử" của Hoàng Quang Thuận không chỉ thành công bởi nội dung đặc sắc mà còn bởi nghệ thuật vô cùng độc đáo. Thể thơ 7 chữ mềm mại, hài hòa với mạch cảm xúc. Ngôn ngữ thơ giản dị mà giàu sức gợi. Hình ảnh thơ tự nhiên, trong sáng. Gieo vần chân, cách "trưa"-"đưa", ngắt nhịp 4/3,2/2/3,... linh hoạt. Nghệ thuật so sánh "trông như đám khói người Dao vậy", đảo ngữ "trập trùng núi biếc cây xanh lá",... được tác giả vận dụng khéo léo, tạo chiều sâu cho tác phẩm. Chính sự kết hợp hài hòa giữa nội dung và nghệ thuật đã khiến bài thơ trở thành dấu ấn khó phai trong lòng độc giả.

"Văn học nằm ngoài những quy luật của sự băng hoại". Thật vậy, bài thơ "Đường vào Yên Tử" nói riêng và tác giả Hoàng Quang Thuận nói chung cũng nằm ngoài quy luật ấy, bởi nó không chỉ "đưa ru" mà còn "thức tỉnh" người đọc những giá trị sâu sắc. Đồng thời, nó còn nhắc nhở chúng ta hãy tự hào và sự trân trọng đối với danh thắng Yên Tử - một vùng đất linh thiêng gắn liền với lịch sử Phật giáo Việt Nam. Chính vì vậy, tác phẩm sống mãi trong lòng người đọc hôm qua, hôm nay và mãi mãi mai sau.


Câu 1:

-Văn bản trên thuộc kiểu văn bản: văn bản thông tin

Câu 2:

-Đối tượng thông tin được đề cập đến trong văn bản là: Phố cổ Hội An

Câu 3:

-Cách trình bày thông tin: theo trình tự thời gian

-Tác dụng:

+Tăng tính logic, chặt chẽ, hấp dẫn trong việc trình bày thông tin của văn bản

+Cung cấp thông tin đầy đủ, chi tiết, cụ thể về quá trình hình thành và phát triển của Phố cổ Hội An

+Thể hiện thái độ trân trọng, yêu quý của tác giả

Câu 4:

-Phương tiện phi ngôn ngữ:

+Hình ảnh Phố cổ Hội An

+Số liệu: 20km, 38 tham luận,...

-Tác dụng:

+Tổ chức thông tin theo một trình tự logic, hợp lý, liên kết các phần, tăng tính hấp dẫn, sinh động, trực quan

+Nhấn mạnh và làm nổi bật những thông tin cơ bản, giúp người đọc hình dung được vẻ đẹp và nét đặc trưng của Phố cổ Hội An

+Thể hiện thái độ yêu quý, trân trọng và tự hào của tác giả

Câu 5:

-Mục đích: đưa đến cho người đọc những thông tin khái quát về Phố cổ Hội An

-Nội dung:

+Vị trí: Đô thị cổ Hội An nối với biển Đông qua Cửa Đại, phía nam giáp huyện Duy Xuyên, phía tây giáp Điện Bàn, cách Đà Nẵng 20km về phía bắc

+Quá trình hình thành: Thương cảng Hội An hình thành từ thế kỷ XVI, thịnh đạt nhất trong thế kỷ XVII-XVIII, suy giảm dần từ thế kỷ XIX, để rồi chỉ còn là một đô thị vang bóng một thời

+Kiến trúc: Vẫn còn khá nguyên vẹn những di tích bến cảng, các phố cổ, các nhà liền kế, nhà thờ tộc họ, đình chùa, đền miếu, hội quán của người Hoa, lăng mộ của người Nhật, người Hoa, và độc đáo nhất cây cầu mang tên Cầu Nhật Bản