Nguyễn Minh Tâm

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Minh Tâm
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1.

Phương thức biểu đạt chính là nghị luận (kết hợp với yếu tố biểu cảm). Tác giả đưa ra những quan điểm, suy ngẫm về lối sống của con người, đặc biệt là tuổi trẻ, thông qua những hình ảnh ẩn dụ.

Câu 2.

Hai lối sống đối lập mà con người từng trải qua là;

- Lối sống thụ động, trì trệ: Khước từ sự vận động, tìm sự an toàn trong vẻ ngoan ngoãn bất động, bỏ quên khát khao, sống quanh quẩn trong "tháng ngày chật hẹp".

- Lối sống tích cực, dấn thân: Hướng ra biển rộng, khao khát trải nghiệm, đón nhận nắng gió và không ngừng đi tới.

Câu 3.

Trong đoạn: “Sông như đời người. Và sông phải chảy. Như tuổi trẻ phải hướng ra biển rộng.”, tác giả đã sử dụng biện pháp so sánh.

- Tác dụng nội dung: Khẳng định một quy luật tất yếu. Giống như dòng sông sinh ra là để chảy về phía đại dương, tuổi trẻ sinh ra là để dấn thân, cống hiến và thực hiện khát vọng lớn lao. Việc đứng yên đồng nghĩa với việc tự đánh mất ý nghĩa sự sống.

- Tác dụng nghệ thuật: Tạo nhịp điệu dồn dập, mạnh mẽ, làm cho lời văn giàu hình ảnh và tăng sức thuyết phục cho lập luận, khơi gợi cảm hứng hành động cho người đọc.

Câu 4.

Ý nghĩa của "tiếng gọi chảy đi sông ơi"

- Là tiếng gọi của bản ngã, của lương tâm nhắc nhở chúng ta không được đầu hàng sự lười nhác, trì trệ.

- Là khát vọng sống mãnh liệt, thôi thúc con người bước ra khỏi vùng an toàn để khám phá thế giới và khẳng định giá trị bản thân.

- Là lời nhắc nhở về trách nhiệm với cuộc đời: Mỗi người cần phải vận động, cống hiến và trôi về phía trước thay vì để mình "lịm trong đầm lầy".

Câu 5.

Bài học: Chúng ta cần phải sống chủ động, không ngừng vận động và dấn thân trải nghiệm thay vì chọn cách sống khép mình, thụ động.

Giải thích:

- Bởi vì cuộc đời mỗi người, đặc biệt là tuổi trẻ, là hữu hạn. Nếu chọn cách "bất động" như mặt hồ lặng lẽ, chúng ta sẽ sớm trở nên tẻ nhạt, u sầu và đánh mất những cơ hội tuyệt vời để trưởng thành.

- Chỉ khi vận động và tiến về phía trước, con người mới có thể tìm thấy ý nghĩa đích thực của cuộc sống và đóng góp giá trị cho xã hội, giống như dòng sông chỉ thực sự sống khi nó hòa mình vào biển lớn.

Câu 1.

Đề tài của truyện là: người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

Câu 2.

- HS chỉ ra được một trong hai biện pháp tu từ sau:

(1) Biện pháp tu từ đối: bóng tà rọi cửa, rêu biếc đầy sân.

(2) Biện pháp tu từ liệt kê: bóng tà rọi cửa, rêu biếc đầy sân, năm ba tiếng quạ kêu ở trên cành cây xao xác.

Câu 3.

- HS chỉ ra được một yếu tố hoang đường kì ảo trong truyện. Chẳng hạn:

+ Nhị Khanh tự vẫn, được Thượng đế thương mà cho coi giữ sổ sách ở đền.

+ Nhị Khanh hiện về gặp gỡ Trọng Quỳ.

+ Trọng Quỳ nằm ngủ dọc đường thì nghe có tiếng gọi ở trên cao, mở mắt ra chỉ thấy một đám mây đen.

- HS nêu được tác dụng của yếu tố kì ảo:

+ Góp phần thể hiện chủ đề của tác phẩm và thái độ, tư tưởng của tác giả: khẳng định nỗi oan uổng, vẻ đẹp khí tiết của người phụ nữ được chứng giám; nhấn mạnh thái độ bất bình trước thực tại qua số phận bất hạnh của người phụ nữ khi họ không thể tìm thấy hạnh phúc trong cuộc sống đời thường ở xã hội đương thời; giảm bớt tính bi kịch của số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến,…

+ Tạo tính li kì, hấp dẫn cho tác phẩm.

Câu 4.

- Chủ đề: Truyện phản ánh số phận đau khổ, thiệt thòi và vẻ đẹp đáng trân trọng của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. 

- Tác phẩm cùng chủ đề: Chuyện người con gái Nam Xương (Nguyễn Dữ), Bánh trôi nước (Hồ Xuân Hương), Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu),...

Câu 5.

HS nêu được đánh giá của bản thân và lí giải phù hợp. Ví dụ: Trong xã hội hiện nay, thông điệp trong lời bình vẫn mang giá trị, ý nghĩa sâu sắc, bởi lẽ, mỗi con người đều có những mặt tốt đẹp đáng trân trọng và những điều chưa hoàn hảo. Do đó, ta cần biết “tự sửa mình”, khắc phục những thiếu sót, hạn chế để giúp cho bản thân ngày một tốt đẹp hơn. Mỗi cá nhân nếu biết “tự sửa mình”, sẽ mang đến cho người thân, gia đình và xã hội những điều tươi đẹp và tích cực hơn.

Câu 1.

Vấn đề nghị luận của văn bản là: tấm lòng yêu nước sâu sắc của Nguyễn Đình Chiểu thể hiện qua thơ, văn. 

Câu 2.

Hai câu văn trong bài nêu nhận xét khái quát, chính xác và sinh động về đặc điểm, giá trị văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu: "Trên trời có những vì sao có ánh sáng khác thường nhưng con mắt của chung ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy và càng nhìn thì càng thấy sáng. Văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu cũng vậy."

Câu 3.

- Học sinh có thể nêu lên nhận xét khác nhau nhưng cần phù hợp với việc lựa chọn và sử dụng bằng chứng trong văn bản: 

+ Tác giả đã lựa chọn những bằng chứng rất tiêu biểu trong sự nghiệp văn chương của Nguyễn Đình Chiểu làm dẫn chứng. 

+ Bằng chứng toàn diện, bao gồm cả thơ và văn. 

+ Bằng chứng phù hợp, góp phần làm sáng tỏ cho lí lẽ, luận điểm của văn bản (tập trung làm sáng tỏ tấm lòng yêu nước sâu sắc và quan điểm sống, sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu). 

Câu 4.

- HS xác định đúng mục đích so sánh hai văn bản:

+ Nêu lên những điểm giống và khác nhau giữa hai văn bản, qua đó tác giả nhấn mạnh dù chiến thắng (Bình Ngô đại cáo) hay bại trận hi sinh (như trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc), dân tộc ta, nhân dân ta vẫn rất anh hùng, luôn khát khao hòa bình, sẵn sàng chiến đấu, quyết tâm giành lại độc lập tự do cho dân tộc. 

+ Khẳng định những đóng góp to lớn, mang sắc thái rất riêng của Nguyễn Đình Chiểu đối với dòng mạch văn thơ yêu nước. 

Câu 5. 

- HS cần kết nối, liên hệ với thực tiễn:

+ Nhân dân ta đã anh hùng đánh thắng giặc ngoại xâm; đất nước đã hòa bình, thống nhất; muôn dân được sống tự do, độc lập và hạnh phúc. 

+ Khát vọng của nhân dân ta và nghĩa quân Cần Giuộc năm ấy, bây giờ đã trở thành hiện thực. Vì vậy, linh hồn của họ sẽ được "hả dạ" (vui vẻ trong lòng). 

+ Niềm tin, niềm hi vọng của tác giả Phạm Văn Đồng trong bài viết cách đây hơn nửa thế kỉ cũng đã trở thành hiện thực. 

Câu 1. 

Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nghị luận (nghị luận xã hội). 

Câu 2. 

Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản: Nghị luận, tự sự, biểu cảm. 

Câu 3. 

Mục đích của tác giả qua văn bản trên là: Đưa ra những quan điểm khác nhau về đồng tiền, từ đó bàn luận về ý nghĩa đích thực của đồng tiền nhằm giúp cho bạn đọc có được một cái nhìn mới, toàn diện hơn về đồng tiền và phá bỏ những quan niệm lối mòn trước đây. 

Câu 4. 

Nhận xét về cách lập luận, dẫn dắt của tác giả trong văn bản:

- Cách lập luận của tác giả rất xác đáng và giàu sức thuyết phục vì tác giả đã sử dụng những quan điểm, dẫn chứng rất gần gũi trong cuộc sống thường nhật để làm sáng tỏ cho quan điểm của mình: trả lại cho tiền khuôn mặt giản dị của nó.

- Cách dấn dắt của tác giả rất độc đáo khi sử dụng những câu chuyện nhỏ, rất quen thuộc, đời thường để dẫn dắt bạn đọc đi theo mạch lập luận. Chính điều này giúp văn bản không bị khô khan và hấp dẫn bạn đọc hơn. 

Câu 5. 

- Đoạn văn bàn luận về ý nghĩa đích thực của đồng tiền là giúp con người thuận tiện hơn trong việc trao đổi những vật có gí trị tương xứng. 

- Thế nhưng trước giờ chính chúng ta đã đặt ra những quan niệm sai lầm về đồng tiền, rằng đồng tiền làm tha hóa con người, đồng tiền mua được tất cả. Điều này đòi hỏi con người cần có cái nhìn đúng đắn hơn, toàn diện hơn về ý nghĩa đích thực của đồng tiền. (HS bàn luận thêm theo quan điểm cá nhân, có đưa ra những lí giải logic, hợp lí để câu trả lời thêm sâu sắc.)