Nguyễn Thị Thùy Dương

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Thị Thùy Dương
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Bài 1 :

Câu 1 :
Văn bản thuộc kiểu văn bản nghị luận (nghị luận xã hội).

Câu 2 :
Các phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản là:

- Nghị luận

- Tự sự

- Biểu cảm

- Giải thích


Câu 3 :
Qua văn bản trên tác giả muốn người đọc nhận thức đúng đắn về bản chất và vai trò của đồng tiền. Phê phán những tham vọng không chính đáng, lối sống chạy theo vật chất . Tác giả muốn khẳng định đồng tiền chỉ là công cụ , không phải nguyên nhân trực tiếp làm con người sa ngã , điều quyết định là nhân cách và sự lựa chọn của mỗi người.


Câu 4 :
Cách lập luận và dẫn dắt của tác giả có những đặc điểm nổi bật :

- Lập luận chặt chẽ, logic, triển khai từ một câu ca dao quen thuộc đến những suy ngẫm hiện đại về tiền bạc.

- Dẫn dắt tự nhiên, linh hoạt, kết hợp giữa lí lẽ và dẫn chứng cụ thể từ đời sống, văn học, âm nhạc, trải nghiệm cá nhân.

- Sử dụng nhiều câu hỏi tu từ nhằm gợi suy nghĩ, buộc người đọc tự đối thoại với chính mình.

- Giọng văn điềm đạm, sâu sắc.

Câu 5 :
Đoạn văn nêu lên một quan điểm rất đúng đắn và giàu ý nghĩa. Đồng tiền về bản chất chỉ là phương tiện trao đổi, không phải thước đo tuyệt đối của giá trị con người. Khi con người thần thánh hóa đồng tiền hoặc quy kết mọi tội lỗi cho nó, ta đã né tránh trách nhiệm đạo đức của chính mình. Chính những tham vọng vượt quá khả năng, ham muốn chiếm hữu không chính đáng mới là nguyên nhân khiến con người đánh mất nhân cách và hạnh phúc. Đoạn văn nhắc nhở mỗi người cần sống tỉnh táo, biết giới hạn, biết phân biệt đâu là giá trị vật chất có thể mua được và đâu là những giá trị tinh thần không thể đem ra đổi chác. Chỉ khi đó, con người mới làm chủ được đồng tiền thay vì bị nó chi phối.


Bài 2 :

Câu 1 :


Quan niệm “Có tiền là có tất cả” là cách nhìn lệch lạc khi con người tuyệt đối hóa vai trò của tiền bạc và xem nó như thước đo duy nhất của giá trị, hạnh phúc và thành công. Biểu hiện của quan niệm này là việc coi trọng vật chất hơn đạo đức, đánh giá con người qua mức thu nhập, địa vị, sẵn sàng chạy theo đồng tiền bằng mọi giá, thậm chí đánh đổi tình cảm, danh dự và nhân cách. Cách nghĩ ấy gây ra nhiều tác hại nghiêm trọng: làm con người trở nên thực dụng, ích kỉ, khiến các mối quan hệ xã hội bị chi phối bởi lợi ích, đồng thời đẩy con người vào trạng thái cô đơn, bất an dù có thể giàu có về vật chất. Khi từ bỏ quan niệm sai lầm này, con người sẽ biết sống cân bằng hơn, trân trọng những giá trị tinh thần bền vững như tình yêu thương, sự tôn trọng, lòng tự trọng và ý nghĩa của lao động chân chính; từ đó tìm thấy hạnh phúc lâu dài và sự thanh thản trong tâm hồn. Để từ bỏ, mỗi người cần nhận thức đúng vai trò của tiền bạc, xem tiền là phương tiện chứ không phải mục đích sống; rèn luyện lối sống giản dị, biết đủ; đặt đạo đức, nhân cách và các mối quan hệ chân thành lên trên lợi ích vật chất. Hãy mạnh dạn từ bỏ quan niệm “Có tiền là có tất cả” để sống giàu giá trị, giàu nhân cách và hạnh phúc đích thực.

Câu 2 :

Trong dòng chảy của văn học trung đại Việt Nam, Nguyễn Bỉnh Khiêm nổi lên như một bậc hiền triết với cái nhìn thấu thị về nhân tình thế thái. Bài thơ '' Thế gian biến đổi '' là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất thể hiện triết lý sống và sự phê phán sâu sắc của ông đối với xã hội trọng vật chất. Bài thơ là bức tranh hiện thực nghiệt ngã về sự đổi thay của lòng người dựa trên trục quay của đồng tiền và danh lợi. Hai câu đề mở ra một quy luật tất yếu của tự nhiên và xã hội: "Thế gian biến cải vũng nên đồi / Mặn nhạt chua cay lẫn ngọt bùi". Tác giả khẳng định sự biến dịch là bản chất của cuộc đời; từ cảnh vật đến hương vị cuộc sống đều đan xen, chuyển hóa. Tuy nhiên, sự biến đổi đáng sợ nhất không nằm ở thiên nhiên mà nằm ở lòng người, được cụ thể hóa qua hai câu thực:

Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử,
Hết cơm, hết bạn, hết ông tôi.

Phép đối tài tình kết hợp với điệp từ "còn" – "hết" đã lột trần sự bạc bẽo của nhân gian. Mối quan hệ giữa người với người không còn dựa trên tình nghĩa mà dựa trên cái túi tiền. Khi có điều kiện vật chất, kẻ hầu người hạ vây quanh , khi sa cơ lỡ vận, ngay cả cách xưng hô tối thiểu cũng biến mất. Đây là cái nhìn tỉnh táo, thậm chí có phần cay đắng của một người đã chọn rời xa chốn quan trường để về ẩn dật. Bên cạnh việc phê phán, Nguyễn Bỉnh Khiêm còn khẳng định những giá trị đạo đức bền vững qua hai câu luận: "Xưa nay đều trọng người chân thật / Ai nấy nào ưa kẻ đãi buôi". Giữa một thế gian đầy rẫy sự giả dối, ông nhắc nhở về phẩm giá của sự chân thành. Cuối cùng, bài thơ kết thúc bằng một sự đúc kết đầy trải nghiệm: "Ở thế mới hay người bạc ác / Giàu thì tìm đến, khó thì lui".

Bài thơ thành công nhờ vào thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật được Việt hóa một cách tự nhiên, giản dị. Ngôn ngữ thơ không dùng nhiều điển cố cầu kỳ mà gần gũi như lời ăn tiếng nói hằng ngày, mang đậm tính chất răn đời. Cách sử dụng các cặp từ trái nghĩa (giàu – khó, còn – hết, mặn – nhạt) và phép đối chuẩn mực đã tạo nên nhịp điệu dồn dập, nhấn mạnh vào sự tương phản giữa cái danh và cái thực, giữa vật chất và tình người. Giọng điệu thơ vừa có sự mỉa mai, châm biếm, vừa có sự suy tư trầm mặc của một bậc đại trí .

Qua bài thơ "Thế gian biến đổi", Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ phê phán thói đời bạc bẽo mà còn đưa ra bài học về cách ứng xử và giữ gìn nhân cách. Tác phẩm vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay, nhắc nhở chúng ta về việc trân trọng những giá trị tinh thần chân thực thay vì chạy theo những phù hoa nhất thời của vật chất.