Bùi Thị Mai An

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Bùi Thị Mai An
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:

Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nghị luận.

Câu 2:
Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản: nghị luận, tự sự, biểu cảm.

Câu 3:

Mục đích của tác giả qua văn bản là làm sáng tỏ bản chất thực sự của đồng tiền, coi đó như một công cụ trao đổi giá trị mang tính tương xứng, không nên bị thần thánh hóa cũng không đáng bị xem thường. Đồng thời, tác giả phê phán những tham vọng lệch lạc và khẳng định rằng sai lầm không xuất phát từ bản thân đồng tiền mà từ cách con người sử dụng và đánh giá nó. Qua đó, văn bản hướng người đọc tới một lối sống có trách nhiệm, biết sử dụng đồng tiền hợp lí, đồng thời nhận thức đúng đắn giá trị của những gì mình đang có và mong muốn sở hữu.

Câu 4:

Cách lập luận, dẫn dắt của tác giả trong văn bản:

- Lập luận chặt chẽ: Tác giả đưa ra vấn đề, phân tích đa chiều, và kết luận thuyết phục.

- Dẫn chứng đa dạng: Tác giả sử dụng các câu chuyện cá nhân, trích dẫn từ văn học (Oscar Wilde, Francisco de Anconia), và những quan sát thực tế để làm sáng tỏ luận điểm.

Câu 5:

Đoạn văn đã thể hiện một quan điểm đúng đắn và giàu chiều sâu về bản chất của đồng tiền, qua đó giúp người đọc nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện hơn. Em hoàn toàn đồng tình với quan điểm ấy, bởi bản thân đồng tiền không mang giá trị tốt hay xấu; chính cách con người kiếm tiền, sử dụng tiền và đặt tiền vào vị trí nào trong cuộc sống mới quyết định ý nghĩa của nó. Khi biết dung hòa giữa nhu cầu cá nhân và các giá trị đạo đức, con người không chỉ tránh được lối sống thực dụng mà còn xây dựng được một cuộc sống cân bằng, nhân văn và thực sự ý nghĩa.

Câu 1:
Trong xã hội này nay, quan niệm “Có tiền là có tất cả” ngày càng xuất hiện phổ biến và chi phối cách con người đánh giá giá trị cuộc sống. Quan niệm được thể hiện rõ rệt qua việc nhiều người coi thu nhập, tài sản là thước đo duy nhất của thành công, sẵn sàng làm việc quá sức, bỏ qua đời sống tinh thần và các mối quan hệ gia đình. Thực trạng này bắt nguồn từ cái nhìn lệch lạc, tuyệt đối hóa vai trò của đồng tiền trong bối cảnh kinh tế – xã hội phát triển nhanh, cùng với lối sống thực dụng khiến vật chất được đặt cao hơn đạo đức và cảm xúc con người. Điều ấy khiến con người ta dễ rơi vào trạng thái căng thẳng, mất cân bằng và đánh mất hạnh phúc đích thực, góp phần làm xói mòn các giá trị đạo đức và nhân văn trong xã hội. Không thể phủ nhận rằng tiền bạc giúp con người đáp ứng nhu cầu vật chất, nâng cao chất lượng sống và mở rộng cơ hội học tập, chăm sóc sức khỏe. Tuy nhiên, thực tế cho thấy tiền không phải là yếu tố quyết định hạnh phúc, nó không thể thay thế sự bình yên trong tâm hồn hay các mối quan hệ gắn bó. . Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), các rối loạn tâm lí như stress và trầm cảm đang gia tăng, đặc biệt ở nhóm người chịu áp lực lớn về công việc và kinh tế; dẫn chứng này cho thấy tiền bạc không thể đảm bảo sức khỏe tinh thần hay chất lượng sống. Trước thực trạng đó, giải pháp cần được thực hiện và đẩy mạnh đồng bộ trên nhiều nơi: mỗi cá nhân cần làm việc hợp lí, chi tiêu tiết kiệm và chăm sóc đời sống tinh thần; gia đình cần quan tâm, sẻ chia và định hướng lối sống cân bằng; xã hội cần chú trọng giáo dục giá trị sống, xây dựng môi trường nhân văn. Như vậy, chỉ khi nhận thức đúng vai trò của đồng tiền và biết cân đối hài hoà giữa vật chất và tinh thần, con người mới có thể hướng tới một cuộc sống hạnh phúc và bền vững.
Câu 2:
Trong lịch sử văn học trung đại Việt Nam, Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên như một bậc hiền triết lớn của dân tộc, người không chỉ am tường thế sự mà còn giữ được cho mình một nhân cách trong sạch giữa thời cuộc đầy biến động. Thơ ông vì thế không thiên về cảm xúc cá nhân thuần túy mà mang đậm màu sắc triết lí, chiêm nghiệm và giáo huấn. Bài thơ Thế gian biến đổi là một tác phẩm tiêu biểu, qua đó Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thể hiện cái nhìn sâu sắc, tỉnh táo trước sự đảo lộn của xã hội, đồng thời khẳng định những giá trị đạo đức bền vững mà con người cần hướng tới trong bất cứ thời đại nào.

Mở đầu bài thơ, tác giả đã mượn sự biến đổi hoàn toàn của tự nhiên để nói về quy luật đổi thay nghiệt ngã của cuộc đời và xã hội. Hình ảnh “vũng nên đồi” không chỉ gợi sự thay đổi về hình dạng của cảnh vật mà còn mang ý nghĩa biểu tượng cho sự đảo lộn của trật tự, của những giá trị vốn được xem là ổn định. Đặc biệt, trong câu thơ tiếp theo, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã sử dụng hàng loạt tính từ chỉ vị giác, được sắp xếp thành những cặp đối lập và đặt gần nhau trong cùng một câu. Cách tổ chức ngôn từ ấy khiến người đọc có cảm giác mọi thứ như đang trộn lẫn, rối ren, khó phân biệt thật – giả, đúng – sai. Từ “lẫn” xuất hiện ở giữa câu thơ giữ vai trò then chốt, vừa gợi trạng thái nhập nhòa của cảm giác, vừa phản ánh sâu sắc thực trạng xã hội: khi những chuẩn mực đạo đức bị xóa nhòa, con người trở nên hoang mang, mất phương hướng giữa dòng đời biến động.

Nếu hai câu đề mới chỉ dừng lại ở việc khái quát quy luật đổi thay, thì đến hai câu thực, bức tranh thế sự được Nguyễn Bỉnh Khiêm phơi bày một cách trực diện và không né tránh.
“Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử,
Hết cơm, hết rượu, hết ông tôi.”
Hai câu thơ được xây dựng theo phép đối chỉnh cả về thanh điệu lẫn ý nghĩa, tạo nên một nhịp điệu dứt khoát, lạnh lùng. Qua đó, tác giả đã vạch trần một hiện thực cay đắng: trong xã hội đảo điên ấy, đồng tiền trở thành thước đo cho mọi mối quan hệ, có tiền thì được tôn trọng, hết tiền thì tình nghĩa cũng không còn. Những giá trị tinh thần cao đẹp như đạo lí, nhân nghĩa bị đẩy lùi, nhường chỗ cho lợi ích vật chất tầm thường. Giọng thơ không ồn ào, không gay gắt, nhưng chính sự điềm tĩnh ấy lại khiến lời phê phán trở nên sâu cay và thấm thía hơn.

Tiếp nối mạch cảm xúc và tư tưởng ấy, ở hai câu luận, Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ dừng lại ở việc phản ánh thực trạng mà còn khẳng định một đạo lí đã được nhân dân ta gìn giữ từ bao đời.
“Xưa nay đều trọng người chân thật,
Ai nấy nào ưa kẻ đãi buôi.”
Cụm từ “xưa nay” mở ra chiều dài của thời gian, còn “ai nấy” bao quát không gian xã hội, cho thấy quan niệm trọng người chân thật không phải là ý kiến cá nhân của riêng tác giả mà là đạo lí phổ quát, đã được cộng đồng thừa nhận. Qua đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm dùng tiếng nói của lẽ phải để đối lập với thói đời giả trá, đồng thời thể hiện mong muốn thức tỉnh con người, giúp họ nhận ra đâu là giá trị đáng trân trọng trong cuộc sống.

Đến hai câu kết, bản chất của kẻ “đãi buôi” được khắc họa rõ nét hơn qua một chi tiết tưởng như giản dị nhưng vô cùng đắt giá:
“Giàu thì tìm đến, khó tìm lui.”
Chỉ bằng một hành động đối lập – tìm đến khi giàu, quay lưng lúc khó – tác giả đã lột tả trọn vẹn chân dung những kẻ thực dụng, ích kỉ, sống hoàn toàn vì lợi ích cá nhân. Câu thơ khép lại bài thơ trong giọng điệu trầm lắng nhưng nghiêm khắc, như một lời cảnh tỉnh dành cho những ai đang chạy theo vật chất mà quên mất giá trị của tình người.

Không chỉ đặc sắc về nội dung, bài thơ Thế gian biến đổi còn ghi dấu ấn rõ nét ở phương diện nghệ thuật. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã vận dụng linh hoạt phép đối, sử dụng ngôn ngữ cô đọng mà giàu sức gợi, kết hợp với giọng điệu triết lí sâu sắc, giúp cho tư tưởng của bài thơ được thể hiện một cách thuyết phục và bền bỉ.

Có thể khẳng định rằng, Thế gian biến đổi không chỉ là lời than thở về một xã hội đảo điên mà còn là một bản tuyên ngôn đạo lí đầy giá trị. Qua việc phê phán thói đời thực dụng và đề cao sự chân thật, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã gửi gắm đến hậu thế một bài học sâu sắc về cách làm người. Chính chiều sâu tư tưởng và vẻ đẹp triết lí ấy đã giúp bài thơ vượt qua giới hạn của thời đại để vẫn còn nguyên giá trị cho đến hôm nay.