Hà Thị Vân
Giới thiệu về bản thân
Sự khác nhau giữa biện pháp sinh học và biện pháp hóa học trong phòng trừ sâu, bệnh hại cây trồng là:
Tiêu chí | Biện pháp sinh học | Biện pháp hóa học |
Khái niệm | Sử dụng sinh vật có ích (thiên địch, nấm đối kháng..) hoặc sản phẩm của chúng | Sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc hóa học |
Tốc độ hiệu quả | Tác động chậm, cần thời gian để thiết lập cân bằng | Tác động rất nhanh, hiệu quả tức thì |
Tính an toàn | Rất an toàn cho người, cây trồng và thân thiện với môi trường | Có thể gây độc cho người, làm ô nhiễm đất, nước và không khí |
Tính bền vững | Hiệu quả lâu dài, không gây kháng thuốc | Dễ gây hiện tượng kháng thuốc, làm giảm đa dạng sinh học |
Thời điểm dùng | Thường dùng để phòng ngừa hoặc khi sâu bệnh mới chớm | Đặc biệt hiệu quả sau khi sâu bệnh đã bùng phát mạnh |
Sự khác nhau giữa biện pháp sinh học và biện pháp hóa học trong phòng trừ sâu, bệnh hại cây trồng là:
Tiêu chí | Biện pháp sinh học | Biện pháp hóa học |
Khái niệm | Sử dụng sinh vật có ích (thiên địch, nấm đối kháng..) hoặc sản phẩm của chúng | Sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc hóa học |
Tốc độ hiệu quả | Tác động chậm, cần thời gian để thiết lập cân bằng | Tác động rất nhanh, hiệu quả tức thì |
Tính an toàn | Rất an toàn cho người, cây trồng và thân thiện với môi trường | Có thể gây độc cho người, làm ô nhiễm đất, nước và không khí |
Tính bền vững | Hiệu quả lâu dài, không gây kháng thuốc | Dễ gây hiện tượng kháng thuốc, làm giảm đa dạng sinh học |
Thời điểm dùng | Thường dùng để phòng ngừa hoặc khi sâu bệnh mới chớm | Đặc biệt hiệu quả sau khi sâu bệnh đã bùng phát mạnh |

Cách tác giả triển khai quan điểm như sau:
- Chiều tóc bạc vẫn thu hoạch mùa thơ dậy thì, sức trẻ từ nội lực của chữ: Lí Bạch, Gớt, Ta-go.
- Dẫn ý kiến của các nhà thơ, nhà văn lớn trên thế giới (Ét-mông Gia-bét - Edmond Jabès, Gít-đơ - Gide, Pét-xoa – Pessoa).
+ Ét-mông Gia-bét nói đến vai trò của sáng tạo ngôn từ trong việc xác định danh vị đích thực của nhà thơ.+ Lê Đạt lại phát triển thêm, cho rằng mỗi lần sáng tạo tác phẩm mới lại một lần nhà thơ phải vật lộn với chữ.
+ "Nhà thơ” không phải là danh vị được tạo một lần cho mãi mãi. Nó có thể bị tước đoạt nếu nhà thơ không chịu khổ công lao động với ngôn từ mỗi khi viết một bài thơ mới.* Lí lẽ thứ nhất và những dẫn chứng:

* Lí lẽ thứ hai và các dẫn chứng:

* Nhận xét về cách đưa lí lẽ và sử dụng dẫn chứng trong lập luận của tác giả:

- Biện pháp ẩn dụ được tạo lập dựa trên sự phát hiện về mối tương đồng giữa hoạt động sáng tạo của nhà thơ và lao động của người nông dân trên đồng ruộng.
- Xét trên cả hai mặt: sự lao khổ và thành tựu cuối cùng có được đều do sự lao động vất vả, nghiêm túc, tâm huyết mà có. Thơ ca là kết tinh của mồ hôi, công sức và sự nhọc nhằn trong sáng tạo.
=> Ý kiến đề cao lao động nghệ thuật nghiêm túc, phủ nhận quan điểm thơ chỉ dựa vào cảm hứng.
Tính thuyết phục của bài viết được thể hiện qua các yếu tố là:
- Xác định rõ vấn đề cốt lõi.
- Đặt mình vào vị thế người trong cuộc, có sự hiểu biết cần thiết về vấn đề.
- Bày tỏ được sự cảm thông, cái nhìn đa chiều, tạo ấn tượng tích cực.
- Làm rõ tác hại một cách cụ thể, kĩ lưỡng.
- Khẳng định đây là thói quen từ bỏ được.
- Bày tỏ thiện chí sẵn sàng giúp đỡ người khác để thấy thử thách dễ dàng hơn.
- Sử dụng dẫn chứng và ngôn ngữ gần gũi.
-Hệ thống luận điểm trong bài được triển khai như sau:
Luận điểm 1: Đặt vấn đề và thực trạng nghiện điện thoại thông minh.
Luận điểm 2: Bày tỏ thái độ đối với đối tượng cần thuyết phục, chỉ ra một trong những lí do gây nghiện điện thoại thông minh.
Luận điểm 3: Phân tích những biểu hiện và tác động tiêu cực của việc nghiện điện thoại.
Luận điểm 4: Giải pháp cai nghiện điện thoại thông minh của chính tác giả.
Luận điểm 5: Bày tỏ tinh thần sẵn sàng giúp đỡ người khác cai nghiện điện thoại.
-Trình tự sắp xếp này rất thuyết phục vì nó tuân theo cấu trúc của một bài nghị luận xã hội.
Vấn đề chính của văn bản là: Tác động tiêu cực của điện thoại thông minh đến người dùng và cuộc sống, đặc biệt là hiện tượng nghiện điện thoại thông minh.