Ngô Bảo Ngọc
Giới thiệu về bản thân
1. Khái niệm
- Biện pháp sinh học: Sử dụng các sinh vật có ích (thiên địch) hoặc các sản phẩm sinh học để tiêu diệt sâu bệnh.
- Biện pháp hóa học: Sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật (thuốc hóa học) để diệt trừ sâu bệnh.
2. Đối tượng
- Biện pháp sinh học: Các loài nấm, vi khuẩn có lợi, ong ký sinh, bọ rùa,…
- Biện pháp hóa học: Các loại thuốc trừ sâu, thuốc trừ bệnh hóa học.
3. Tính an toàn
- Biện pháp sinh học: Rất an toàn cho con người, vật nuôi và môi trường.
- Biện pháp hóa học: Dễ gây độc cho con người, làm ô nhiễm nguồn nước, đất và không khí.
4. Hiệu quả
- Biện pháp sinh học: Hiệu quả bền vững, lâu dài, không làm sâu bệnh kháng thuốc.
- Biện pháp hóa học: Hiệu quả nhanh, tức thì nhưng dễ gây hiện tượng “kháng thuốc” ở sâu bệnh.
5. Ví dụ
- Biện pháp sinh học: Nuôi thả bọ rùa để ăn rệp; dùng chế phẩm nấm đối kháng Trichoderma.
- Biện pháp hóa học: Phun thuốc trừ sâu khi thấy mật độ sâu hại quá cao.
Quyết định của ông nông dân là hợp lý nhưng chưa đủ, và việc chỉ dựa vào việc "nghe nói" để phun thuốc ngay lập tức có thể dẫn đến những hệ lụy không tốt. Vì:
- Đúng tác nhân gây bệnh: Bệnh phấn trắng trên cây cà chua do các loại nấm (phổ biến nhất là nấm Erysiphe cichoracearum hoặc Leveillula taurica) gây ra. Do đó, việc sử dụng thuốc trừ nấm để tiêu diệt mầm bệnh là đúng về mặt khoa học nông nghiệp.
- Cần thận trọng:
+ Nguyên tắc "4 đúng": Việc phun thuốc chỉ hiệu quả và an toàn khi tuân thủ nguyên tắc: đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng lúc và đúng cách. Nếu ông nông dân chỉ phun theo cảm tính mà không chọn đúng loại thuốc đặc trị cho bệnh phấn trắng hoặc phun sai nồng độ, bệnh sẽ không khỏi mà còn gây lãng phí.
+ Vấn đề an toàn thực phẩm: Cà chua là loại quả thu hoạch liên tục. Nếu phun thuốc trừ nấm hóa học mà không đảm bảo thời gian cách ly, sản phẩm khi bán ra thị trường sẽ gây nguy hiểm cho sức khỏe người tiêu dùng.
+ Ảnh hưởng môi trường và kháng thuốc: Sử dụng thuốc hóa học quá mức hoặc không đúng cách có thể làm nấm biến đổi và trở nên kháng thuốc, đồng thời tiêu diệt các vi sinh vật có lợi trong vườn.
*Lí lẽ thứ nhất và dẫn chứng:
- Không đồng tinh: Thơ gắn liền với những cảm xúc bột phát, "bốc đồng", làm thơ không cần cố gắng.
+ Tôn-xtôi chữa đi chữa lại nhiều lần tiểu thuyết
+ Phiô-be cân nhắc chữ trên cân tiểu li
+ những cơn bốc đồng thường ngắn ngủi
+ làm thơ không phải là may rủi, đánh quả
+không ai trúng độc đắc suốt đời
* Lí lẽ thứ hai và các dẫn chứng:
- Không đồng tình: - Thơ là vấn đề của những năng khiếu đặc biệt, xa lạ với lao động lầm lũi và nỗ lực trau dồi học vấn.
+ những câu thơ là kết quả thành tâm kiên trì, một đa mang đắm đuối
+ nhà thơ cần học tập và rèn luyện suốt đời
+ nếu sống bằng vốn trời cho sẽ sớm tàn lụi
*Nhận xét:
- Lập luận chặt chẽ, đưa dẫn chứng: Tôn- xtoi, Phlo-be, câu nói Trang Tử
- Thể hiện sự hiểu biết, trải nghiệm của cá nhân: tôi rất biết
- Thái độ, nhận định rõ ràng: nhưng là, đã chứ, tôi rất ghét, tôi không mê
- Đưa ra những đối chiếu, so sánh: đánh quả, trúng số độc
*Lí lẽ thứ nhất và dẫn chứng:
- Không đồng tinh: Thơ gắn liền với những cảm xúc bột phát, "bốc đồng", làm thơ không cần cố gắng.
+ Tôn-xtôi chữa đi chữa lại nhiều lần tiểu thuyết
+ Phiô-be cân nhắc chữ trên cân tiểu li
+ những cơn bốc đồng thường ngắn ngủi
+ làm thơ không phải là may rủi, đánh quả
+không ai trúng độc đắc suốt đời
* Lí lẽ thứ hai và các dẫn chứng:
- Không đồng tình: - Thơ là vấn đề của những năng khiếu đặc biệt, xa lạ với lao động lầm lũi và nỗ lực trau dồi học vấn.
+ những câu thơ là kết quả thành tâm kiên trì, một đa mang đắm đuối
+ nhà thơ cần học tập và rèn luyện suốt đời
+ nếu sống bằng vốn trời cho sẽ sớm tàn lụi
*Nhận xét:
- Lập luận chặt chẽ, đưa dẫn chứng: Tôn- xtoi, Phlo-be, câu nói Trang Tử
- Thể hiện sự hiểu biết, trải nghiệm của cá nhân: tôi rất biết
- Thái độ, nhận định rõ ràng: nhưng là, đã chứ, tôi rất ghét, tôi không mê
- Đưa ra những đối chiếu, so sánh: đánh quả, trúng số độc
*Lí lẽ thứ nhất và dẫn chứng:
- Không đồng tinh: Thơ gắn liền với những cảm xúc bột phát, "bốc đồng", làm thơ không cần cố gắng.
+ Tôn-xtôi chữa đi chữa lại nhiều lần tiểu thuyết
+ Phiô-be cân nhắc chữ trên cân tiểu li
+ những cơn bốc đồng thường ngắn ngủi
+ làm thơ không phải là may rủi, đánh quả
+không ai trúng độc đắc suốt đời
* Lí lẽ thứ hai và các dẫn chứng:
- Không đồng tình: - Thơ là vấn đề của những năng khiếu đặc biệt, xa lạ với lao động lầm lũi và nỗ lực trau dồi học vấn.
+ những câu thơ là kết quả thành tâm kiên trì, một đa mang đắm đuối
+ nhà thơ cần học tập và rèn luyện suốt đời
+ nếu sống bằng vốn trời cho sẽ sớm tàn lụi
*Nhận xét:
- Lập luận chặt chẽ, đưa dẫn chứng: Tôn- xtoi, Phlo-be, câu nói Trang Tử
- Thể hiện sự hiểu biết, trải nghiệm của cá nhân: tôi rất biết
- Thái độ, nhận định rõ ràng: nhưng là, đã chứ, tôi rất ghét, tôi không mê
- Đưa ra những đối chiếu, so sánh: đánh quả, trúng số độc
*Lí lẽ thứ nhất và dẫn chứng:
- Không đồng tinh: Thơ gắn liền với những cảm xúc bột phát, "bốc đồng", làm thơ không cần cố gắng.
+ Tôn-xtôi chữa đi chữa lại nhiều lần tiểu thuyết
+ Phiô-be cân nhắc chữ trên cân tiểu li
+ những cơn bốc đồng thường ngắn ngủi
+ làm thơ không phải là may rủi, đánh quả
+không ai trúng độc đắc suốt đời
* Lí lẽ thứ hai và các dẫn chứng:
- Không đồng tình: - Thơ là vấn đề của những năng khiếu đặc biệt, xa lạ với lao động lầm lũi và nỗ lực trau dồi học vấn.
+ những câu thơ là kết quả thành tâm kiên trì, một đa mang đắm đuối
+ nhà thơ cần học tập và rèn luyện suốt đời
+ nếu sống bằng vốn trời cho sẽ sớm tàn lụi
*Nhận xét:
- Lập luận chặt chẽ, đưa dẫn chứng: Tôn- xtoi, Phlo-be, câu nói Trang Tử
- Thể hiện sự hiểu biết, trải nghiệm của cá nhân: tôi rất biết
- Thái độ, nhận định rõ ràng: nhưng là, đã chứ, tôi rất ghét, tôi không mê
- Đưa ra những đối chiếu, so sánh: đánh quả, trúng số độc