Nguyễn Hải Yến
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:
Truyện Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu là một tác phẩm giàu giá trị nhân văn, thể hiện sâu sắc chủ đề đạo nghĩa vợ chồng và đạo làm người. Qua hình tượng Nhị Khanh, tác giả đã khắc họa vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam: hiền thục, thủy chung, giàu đức hi sinh. Dù bị chồng phụ bạc, bị cuộc đời dồn vào bi kịch, Nhị Khanh vẫn giữ trọn nghĩa tình, sống vì chồng con cho đến phút cuối cùng. Trái ngược với nàng là Trọng Quỳ – người đàn ông ham chơi, vô trách nhiệm, gây nên bi kịch gia đình. Tuy nhiên, truyện không dừng lại ở sự phê phán mà còn mở ra con đường hướng thiện khi Trọng Quỳ biết hối hận và tự sửa mình. Bằng yếu tố kì ảo kết hợp với hiện thực, tác phẩm vừa phản ánh nỗi đau của con người trong xã hội phong kiến, vừa gửi gắm niềm tin vào đạo đức, lẽ công bằng. Chủ đề của truyện vì thế mang ý nghĩa sâu sắc và bền vững.
Câu 2:
Trong cuộc sống hiện đại, khi công việc và học tập ngày càng bận rộn, không ít người hình thành thói quen thức khuya để hoàn thành nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên, thức khuya không phải là giải pháp lâu dài, thậm chí còn gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng cho sức khỏe và hiệu quả học tập, làm việc. Chính vì vậy, em muốn thuyết phục người thân của mình từ bỏ thói quen thức khuya để xây dựng một lối sống khoa học và lành mạnh hơn. Trước hết, thức khuya ảnh hưởng trực tiếp và nghiêm trọng đến sức khỏe con người. Ban đêm là khoảng thời gian cơ thể cần được nghỉ ngơi để phục hồi năng lượng sau một ngày dài hoạt động. Khi thức khuya thường xuyên, đồng hồ sinh học bị đảo lộn, dẫn đến tình trạng mệt mỏi, suy nhược, đau đầu, giảm trí nhớ và suy giảm hệ miễn dịch. Về lâu dài, thức khuya còn làm tăng nguy cơ mắc các bệnh nguy hiểm như tim mạch, tiểu đường, béo phì hay trầm cảm. Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người, nếu đánh đổi sức khỏe chỉ để hoàn thành công việc trong chốc lát thì cái giá phải trả là vô cùng đắt. Không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe, thức khuya còn làm giảm hiệu quả học tập và làm việc. Khi thiếu ngủ, não bộ không được nghỉ ngơi đầy đủ nên khả năng tập trung, ghi nhớ và sáng tạo đều suy giảm. Nhiều người nghĩ rằng thức khuya giúp có thêm thời gian học bài hoặc làm việc, nhưng thực tế, khi cơ thể mệt mỏi, hiệu suất công việc lại thấp hơn rất nhiều. Việc này không chỉ khiến kết quả học tập, làm việc không như mong muốn mà còn tạo ra áp lực tâm lí, khiến con người dễ cáu gắt, căng thẳng và chán nản. Bên cạnh đó, thức khuya còn ảnh hưởng đến sinh hoạt và cuộc sống của gia đình. Khi ngủ muộn, con người thường dậy muộn, sinh hoạt bị đảo lộn, ít có thời gian trò chuyện, gắn kết với người thân. Một lối sống thiếu khoa học kéo dài sẽ khiến con người dần xa rời những giá trị giản dị nhưng quan trọng của cuộc sống gia đình. Thay vì thức khuya, người thân của em hoàn toàn có thể thay đổi thói quen bằng cách sắp xếp thời gian hợp lí hơn. Việc lập kế hoạch học tập và làm việc rõ ràng, ưu tiên những nhiệm vụ quan trọng vào ban ngày sẽ giúp giảm áp lực về đêm. Bên cạnh đó, ngủ sớm và dậy sớm không chỉ giúp tinh thần tỉnh táo mà còn tạo ra một nguồn năng lượng tích cực để bắt đầu ngày mới hiệu quả hơn. Tóm lại, thức khuya là một thói quen có hại nhiều hơn lợi. Từ bỏ thói quen này không chỉ giúp bảo vệ sức khỏe mà còn nâng cao chất lượng học tập, làm việc và cuộc sống. Em mong rằng người thân của mình sẽ lắng nghe, suy nghĩ và dần thay đổi để có một cuộc sống khỏe mạnh, cân bằng và hạnh phúc hơn.
Câu 1: Truyện "Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu" viết về đề tài đạo nghĩa vợ chồng, ca ngợi lòng thủy chung và đức hi sinh của người phụ nữ. Câu 2: Biện pháp tu từ: - Nhân hoá (tiếng quạ kêu), liệt kê (bóng tà, rêu biếc, tiếng quạ). Tác dụng: Gợi nên khung cảnh hoang vắng, tiêu điều, lạnh lẽo, góp phần tạo không khí âm u, huyền ảo, báo hiệu những biến cố đau buồn, bi kịch sắp xảy ra. Câu 3: Chi tiết hoang đường, kì ảo: - Nhị Khanh hiện hồn về gặp Trọng Quỳ, trò chuyện rồi biến mất. Tác dụng: - Làm tăng tính li kì, hấp dẫn cho câu chuyện. - Thể hiện khát vọng công lí, đạo đức của nhân dân: người nghĩa tình được minh oan, kẻ gây tội lỗi phải thức tỉnh. - Giúp bộc lộ tư tưởng, thái độ đánh giá của tác giả một cách kín đáo mà sâu sắc. Câu 4: Chủ đề: Truyện đề cao đạo nghĩa vợ chồng, ca ngợi đức hi sinh, lòng thủy chung, nhân hậu của người phụ nữ, đồng thời phê phán những thói xấu của con người và gửi gắm bài học đạo lí làm người. Tác phẩm cùng chủ đề: Chuyện người con gái Nam Xương – Nguyễn Dữ (hoặc: Truyền kì mạn lục – Nguyễn Dữ) Câu 5: Lời bình cuối truyện không chỉ thể hiện thái độ cảm thương, trân trọng của người kể chuyện đối với Nhị Khanh mà còn gửi gắm thông điệp sâu sắc về việc “tự sửa mình”. Thông điệp ấy nhấn mạnh rằng con người trước khi trách móc số phận hay người khác cần biết nhìn lại chính mình, nhận ra lỗi lầm để thay đổi. Trọng Quỳ chỉ thực sự được tha thứ và có cuộc sống tốt đẹp hơn khi biết ăn năn, hối cải. Đây là bài học mang giá trị nhân văn sâu sắc, có ý nghĩa vượt thời gian, nhắc nhở con người sống có trách nhiệm, biết tu dưỡng đạo đức để không làm tổn thương những người yêu thương mình.
Câu 1: Truyện "Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu" viết về đề tài đạo nghĩa vợ chồng, ca ngợi lòng thủy chung và đức hi sinh của người phụ nữ. Câu 2: Biện pháp tu từ: - Nhân hoá (tiếng quạ kêu), liệt kê (bóng tà, rêu biếc, tiếng quạ). Tác dụng: Gợi nên khung cảnh hoang vắng, tiêu điều, lạnh lẽo, góp phần tạo không khí âm u, huyền ảo, báo hiệu những biến cố đau buồn, bi kịch sắp xảy ra. Câu 3: Chi tiết hoang đường, kì ảo: - Nhị Khanh hiện hồn về gặp Trọng Quỳ, trò chuyện rồi biến mất. Tác dụng: - Làm tăng tính li kì, hấp dẫn cho câu chuyện. - Thể hiện khát vọng công lí, đạo đức của nhân dân: người nghĩa tình được minh oan, kẻ gây tội lỗi phải thức tỉnh. - Giúp bộc lộ tư tưởng, thái độ đánh giá của tác giả một cách kín đáo mà sâu sắc. Câu 4: Chủ đề: Truyện đề cao đạo nghĩa vợ chồng, ca ngợi đức hi sinh, lòng thủy chung, nhân hậu của người phụ nữ, đồng thời phê phán những thói xấu của con người và gửi gắm bài học đạo lí làm người. Tác phẩm cùng chủ đề: Chuyện người con gái Nam Xương – Nguyễn Dữ (hoặc: Truyền kì mạn lục – Nguyễn Dữ) Câu 5: Lời bình cuối truyện không chỉ thể hiện thái độ cảm thương, trân trọng của người kể chuyện đối với Nhị Khanh mà còn gửi gắm thông điệp sâu sắc về việc “tự sửa mình”. Thông điệp ấy nhấn mạnh rằng con người trước khi trách móc số phận hay người khác cần biết nhìn lại chính mình, nhận ra lỗi lầm để thay đổi. Trọng Quỳ chỉ thực sự được tha thứ và có cuộc sống tốt đẹp hơn khi biết ăn năn, hối cải. Đây là bài học mang giá trị nhân văn sâu sắc, có ý nghĩa vượt thời gian, nhắc nhở con người sống có trách nhiệm, biết tu dưỡng đạo đức để không làm tổn thương những người yêu thương mình.
Câu 1: Truyện "Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu" viết về đề tài đạo nghĩa vợ chồng, ca ngợi lòng thủy chung và đức hi sinh của người phụ nữ. Câu 2: Biện pháp tu từ: - Nhân hoá (tiếng quạ kêu), liệt kê (bóng tà, rêu biếc, tiếng quạ). Tác dụng: Gợi nên khung cảnh hoang vắng, tiêu điều, lạnh lẽo, góp phần tạo không khí âm u, huyền ảo, báo hiệu những biến cố đau buồn, bi kịch sắp xảy ra. Câu 3: Chi tiết hoang đường, kì ảo: - Nhị Khanh hiện hồn về gặp Trọng Quỳ, trò chuyện rồi biến mất. Tác dụng: - Làm tăng tính li kì, hấp dẫn cho câu chuyện. - Thể hiện khát vọng công lí, đạo đức của nhân dân: người nghĩa tình được minh oan, kẻ gây tội lỗi phải thức tỉnh. - Giúp bộc lộ tư tưởng, thái độ đánh giá của tác giả một cách kín đáo mà sâu sắc. Câu 4: Chủ đề: Truyện đề cao đạo nghĩa vợ chồng, ca ngợi đức hi sinh, lòng thủy chung, nhân hậu của người phụ nữ, đồng thời phê phán những thói xấu của con người và gửi gắm bài học đạo lí làm người. Tác phẩm cùng chủ đề: Chuyện người con gái Nam Xương – Nguyễn Dữ (hoặc: Truyền kì mạn lục – Nguyễn Dữ) Câu 5: Lời bình cuối truyện không chỉ thể hiện thái độ cảm thương, trân trọng của người kể chuyện đối với Nhị Khanh mà còn gửi gắm thông điệp sâu sắc về việc “tự sửa mình”. Thông điệp ấy nhấn mạnh rằng con người trước khi trách móc số phận hay người khác cần biết nhìn lại chính mình, nhận ra lỗi lầm để thay đổi. Trọng Quỳ chỉ thực sự được tha thứ và có cuộc sống tốt đẹp hơn khi biết ăn năn, hối cải. Đây là bài học mang giá trị nhân văn sâu sắc, có ý nghĩa vượt thời gian, nhắc nhở con người sống có trách nhiệm, biết tu dưỡng đạo đức để không làm tổn thương những người yêu thương mình.
Câu 1: Truyện "Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu" viết về đề tài đạo nghĩa vợ chồng, ca ngợi lòng thủy chung và đức hi sinh của người phụ nữ.
Câu 2:
Biện pháp tu từ:
- Nhân hoá (tiếng quạ kêu), liệt kê (bóng tà, rêu biếc, tiếng quạ).
- Tác dụng: Gợi nên khung cảnh hoang vắng, tiêu điều, lạnh lẽo, góp phần tạo không khí âm u, huyền ảo, báo hiệu những biến cố đau buồn, bi kịch sắp xảy ra.
Câu 3:
Chi tiết hoang đường, kì ảo: Nhị Khanh hiện hồn về gặp Trọng Quỳ, trò chuyện rồi biến mất.
Tác dụng:
- Làm tăng tính li kì, hấp dẫn cho câu chuyện.
- Thể hiện khát vọng công lí, đạo đức của nhân dân: người nghĩa tình được minh oan, kẻ gây tội lỗi phải thức tỉnh.
- Giúp bộc lộ tư tưởng, thái độ đánh giá của tác giả một cách kín đáo mà sâu sắc.
Câu 4:
- Chủ đề: Truyện đề cao đạo nghĩa vợ chồng, ca ngợi đức hi sinh, lòng thủy chung, nhân hậu của người phụ nữ, đồng thời phê phán những thói xấu của con người và gửi gắm bài học đạo lí làm người.
- Tác phẩm cùng chủ đề:
Chuyện người con gái Nam Xương – Nguyễn Dữ (hoặc: Truyền kì mạn lục – Nguyễn Dữ)
Câu 5:
Lời bình cuối truyện không chỉ thể hiện thái độ cảm thương, trân trọng của người kể chuyện đối với Nhị Khanh mà còn gửi gắm thông điệp sâu sắc về việc “tự sửa mình”. Thông điệp ấy nhấn mạnh rằng con người trước khi trách móc số phận hay người khác cần biết nhìn lại chính mình, nhận ra lỗi lầm để thay đổi. Trọng Quỳ chỉ thực sự được tha thứ và có cuộc sống tốt đẹp hơn khi biết ăn năn, hối cải. Đây là bài học mang giá trị nhân văn sâu sắc, có ý nghĩa vượt thời gian, nhắc nhở con người sống có trách nhiệm, biết tu dưỡng đạo đức để không làm tổn thương những người yêu thương mình.
Câu 1:
Quan niệm "Có tiền là có tất cả" là một cái nhìn phiến diện và thiếu sót về giá trị cuộc sống. Không thể phủ nhận tiền bạc là phương tiện quan trọng giúp chúng ta trang trải nhu cầu vật chất, nhưng nó tuyệt đối không phải là vạn năng. Tiền có thể mua được một chiếc giường đắt tiền nhưng không mua được giấc ngủ ngon, mua được thuốc men nhưng không mua được sức khỏe, và mua được sự vây quanh của đám đông nhưng không mua được sự kính trọng hay tình bạn chân thành. Khi con người quá sùng bái tiền bạc, họ dễ dàng rơi vào cái bẫy của tham vọng không chính đáng, sẵn sàng đánh đổi cả nhân cách và sự thanh thản trong tâm hồn để đổi lấy những con số vô tri. Hạnh phúc đích thực vốn không có ai bán để mà mua; nó kết tinh từ sự bình an, lòng trắc ẩn và những kết nối tinh thần sâu sắc giữa người với người. Vì vậy, thay vì mải miết chạy theo đồng tiền như mục đích cuối cùng, hãy coi nó là công cụ để tạo ra những giá trị tốt đẹp. Từ bỏ tư duy "tiền là tất cả" chính là bước đầu tiên để chúng ta tìm thấy ý nghĩa thực sự của sự giàu có trong tâm hồn.
Câu 2:
Nguyễn Bỉnh Khiêm là một bậc triết nhân, một nhà thơ có cái nhìn thấu suốt về thời thế và lòng người trong lịch sử văn học trung đại Việt Nam. Qua bài thơ "Thế gian biến đổi", ông đã phơi bày một thực trạng xã hội đầy chua chát: sự lên ngôi của đồng tiền và sự suy băng của những giá trị đạo đức, tình nghĩa giữa người với người. Mở đầu bài thơ, tác giả đưa ra một nhận định khái quát về quy luật vận động đầy bất ngờ của cuộc sống: "Thế gian biến cải vũng nên đồi, Mặn nhạt chua cay lẫn ngọt bùi." Hình ảnh "vũng nên đồi" là một ẩn dụ sắc sảo cho sự thay đổi xoay vần của tạo hóa, nơi cái thấp hèn có thể trở nên cao sang và ngược lại. Đi cùng với sự thay đổi của vật chất là sự phức tạp của mùi vị cuộc đời: "mặn, nhạt, chua, cay, ngọt, bùi". Tác giả không chỉ nói về vị giác mà đang ám chỉ những thăng trầm, biến cố mà mỗi người phải nếm trải trong dòng đời biến động. Nỗi đau đời thực sự được xoáy sâu ở những câu thơ tiếp theo, khi Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ rõ sức mạnh chi phối của đồng tiền đối với các mối quan hệ xã hội: "Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử, Hết cơm, hết bạn, hết ông tôi." Bằng nghệ thuật đối lập triệt để giữa "còn" và "hết", kết hợp với phép điệp từ, tác giả đã tạo nên một nhịp điệu dồn dập, phũ phàng. Khi có tiền bạc, vật chất, người ta có "đệ tử" vây quanh phục dịch; nhưng khi khánh kiệt, ngay cả những danh xưng thân mật như "bạn", "ông tôi" cũng lập tức tan biến. Đây là lời tố cáo đanh thép lối sống thực dụng, lấy thước đo vật chất làm chuẩn mực cho tình nghĩa thầy trò, bè bạn. Không dừng lại ở đó, nhà thơ còn vạch trần thói đời giả dối qua những quan sát tinh tế: "Xưa nay đều trọng người chân thật, Ai nấy nào ưa kẻ đãi bôi." Về mặt lý thuyết và đạo đức truyền thống, con người luôn tôn vinh sự chân thật. Thế nhưng, thực tế xã hội lại trớ trêu khi những kẻ "đãi bôi" – tức là những kẻ khéo léo nịnh hót, giả tạo – lại thường chiếm được lòng tin và sự ưu ái. Hai câu thơ cuối khép lại bài thơ bằng một kết luận đắng cay: "Ở thế mới hay người bạc ác, Giàu thì tìm đến, khó thì lui." Từ "bạc ác" được dùng rất đích đáng để chỉ thói chuộng giàu khinh nghèo. Con người tìm đến nhau khi thấy lợi lộc ("giàu thì tìm đến") và sẵn sàng ngoảnh mặt làm ngơ khi thấy khó khăn ("khó thì lui"). Đó là một thực tại trần trụi về thói đời ấm lạnh mà Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nhìn thấu qua lăng kính của một người từng trải. Về phương diện nghệ thuật, bài thơ thành công nhờ ngôn ngữ giản dị, gần gũi như lời nói hằng ngày nhưng lại chứa đựng hàm súc triết lý. Cách ngắt nhịp và sử dụng phép đối chỉnh chu giúp nhấn mạnh sự tương phản giữa các giá trị đạo đức và thực tế xã hội. Tóm lại, bài thơ "Thế gian biến đổi" không chỉ là lời than thở về sự bạc bẽo của nhân tình thế thái mà còn là một bài học sâu sắc nhắc nhở mỗi chúng ta cần tỉnh táo trước sức mạnh của đồng tiền. Qua đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm khuyên con người nên giữ lấy sự chân thật và nhân cách, đừng để dòng đời biến đổi làm tha hóa tâm hồn
Câu 1. Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nào? Trả lời: Văn bản thuộc kiểu văn bản nghị luận (cụ thể là nghị luận xã hội về một tư tưởng đạo lý/vấn đề cuộc sống). Câu 2. Các phương thức biểu đạt bao gồm: -Nghị luận -Biểu cảm. Câu 3. Mục đích của tác giả là: -Giúp người đọc hiểu đúng về bản chất và giá trị của đồng tiền: Tiền chỉ là công cụ trao đổi, không tự thân mang tội lỗi hay uy lực vạn năng. -Cảnh báo về những tham vọng không chính đáng và việc đánh giá sai giá trị của những thứ không thể mua bằng tiền (hạnh phúc, tình thân, sự chính trực). -Khuyên con người nên có thái độ trân trọng nhưng tỉnh táo trước tiền bạc, biết sống bằng năng lực của mình và đừng để tiền bạc làm tha hóa nhân cách. Câu 4. - Cách dẫn dắt tự nhiên, gần gũi: Tác giả bắt đầu từ một câu hát dân gian và lời dạy của mẹ, tạo sự gần gũi và gợi mở vấn đề một cách nhẹ nhàng. Lập luận sắc bén, đa chiều: Tác giả không nhìn nhận phiến diện (coi thường tiền hay sùng bái tiền) mà phân tích tiền ở nhiều góc độ: từ tâm lý học (nhu cầu thể hiện), triết học (bản chất công cụ) đến thực tiễn (cách tiêu dùng). - Sử dụng dẫn chứng thuyết phục: Kết hợp nhuần nhuyễn giữa những trải nghiệm cá nhân, các ví dụ đời thường và trích dẫn ý kiến của các nhân vật nổi tiếng (Oscar Wilde, Ayn Rand, Al Yankovic) làm tăng tính khách quan và chiều sâu cho bài viết. Câu 5.
Đây là một đoạn văn mang tính thức tỉnh cao, dưới đây là một số hướng suy nghĩ: - Về bản chất đồng tiền: Tác giả khẳng định tiền chỉ là "công cụ dùng để trao đổi các giá trị tương xứng". Nó trung tính, không xấu cũng không tốt. - Về trách nhiệm của con người: Lỗi lầm không nằm ở tiền mà nằm ở "tham vọng không chính đáng" của con người. Chúng ta thường đổ lỗi cho tiền bạc để che đậy sự yếu lòng hoặc lòng tham của bản thân. Sự tỉnh táo trong lối sống: Đoạn văn phê phán lối sống ảo tưởng, cố sở hữu những thứ "vượt quá công sức", "danh tiếng không xứng đáng". Điều này nhắc nhở chúng ta về giá trị của sự thực chất và lòng tự trọng. - Bài học: Hãy làm chủ đồng tiền thay vì làm nô lệ cho nó. Hạnh phúc thực sự đến từ việc tạo ra giá trị bằng chính trí lực và tâm hồn mình, chứ không phải từ những lớp vỏ bọc vật chất vay mượn.
Luận điểm rõ ràng, lí lẽ thuyết phục, bằng chứng thực tế và làm sáng tỏ được vấn đề nghị luận.
Luận điểm 1: nêu thực trạng
Luận điểm 2: lợi ích của điện thoại
Luận điểm 3: tác hại của việc nghiện điện thoại
Luận điểm 4: lời khuyên của người viết
=> Những luận điểm trên được sắp xếp theo trình tự hợp lí, đi từ thực trạng đến lợi ích đến tác hại và cuối cùng đưa ra lời khuyên. Sắp xếp luận điểm như vậy giúp người viết củng cố, thuyết phục được người nghệ người đọc về ý kiến của mình
Thuyết phục người khác từ bỏ thói nghiện điện thoại.