Phạm Thị Minh Hằng
Giới thiệu về bản thân
Câu 1: Văn bản bàn về vị trí, giá trị to lớn của Nguyễn Đình Chiểu trong nền văn học dân tộc, đặc biệt là vẻ đẹp tư tưởng yêu nước, tinh thần chiến đấu và giá trị lịch sử – nhân văn sâu sắc trong thơ văn của ông.
Câu 2:
Hai câu văn tiêu biểu là:
- “Văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu cũng vậy.”
(đặt trong so sánh với “những vì sao có ánh sáng khác thường”, vừa khái quát vừa giàu hình ảnh) - “Thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu là thơ văn chiến đấu, đánh thẳng vào giặc ngoại xâm và tôi tớ của chúng.”
(nhận xét trực tiếp, rõ ràng, chính xác về bản chất và giá trị tư tưởng của văn thơ Nguyễn Đình Chiểu)
Câu 3:
Người viết lựa chọn bằng chứng tiêu biểu, xác thực và giàu sức thuyết phục, bao gồm:
- Các sự kiện lịch sử (hoàn cảnh đất nước bị xâm lược, nhân dân đứng lên kháng chiến),
- Cuộc đời, khí tiết, nhân cách Nguyễn Đình Chiểu,
- Dẫn chứng trực tiếp từ thơ văn của ông và so sánh với tác phẩm lớn của Nguyễn Trãi.
Các bằng chứng được sắp xếp logic, gắn chặt với luận điểm, vừa làm sáng tỏ giá trị văn chương, vừa khẳng định tầm vóc tư tưởng và nhân cách lớn của Nguyễn Đình Chiểu, khiến lập luận trở nên chặt chẽ và giàu cảm xúc.
Câu 4:
Việc so sánh nhằm:
- Khẳng định giá trị lớn lao của Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc trong dòng chảy văn học yêu nước,
- Làm nổi bật điểm gặp gỡ về tinh thần dân tộc giữa hai tác phẩm dù khác hoàn cảnh lịch sử,
- Qua đó, tôn vinh Nguyễn Đình Chiểu như một nhà văn yêu nước lớn, có vị trí sánh ngang với những danh nhân văn hóa dân tộc như Nguyễn Trãi.
Câu 5. Liên hệ thực tiễn để khẳng định niềm tin của tác giả đã trở thành hiện thực
Sau hơn nửa thế kỉ, niềm tin và hi vọng của tác giả đã trở thành hiện thực rõ ràng. Ngày nay, đất nước Việt Nam đã giành được độc lập, thống nhất và đang không ngừng phát triển, đúng với khát vọng mà Nguyễn Đình Chiểu và các nghĩa quân từng hi sinh để theo đuổi. Tên tuổi và sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu được vinh danh trong giáo dục, nghiên cứu văn học, các tác phẩm của ông được giảng dạy rộng rãi, UNESCO công nhận ông là Danh nhân văn hóa thế giới. Điều đó cho thấy những hi sinh của các bậc tiền nhân không vô nghĩa, và tinh thần yêu nước, chính nghĩa mà Nguyễn Đình Chiểu đại diện vẫn tiếp tục được gìn giữ, phát huy trong đời sống hôm nay.
Câu 1:
Trong xã hội hiện đại, nhiều người cho rằng “Có tiền là có tất cả”, xem tiền bạc như thước đo tối thượng của hạnh phúc và thành công. Tuy nhiên, đó là một quan niệm sai lầm và phiến diện. Tiền bạc quả thực có vai trò quan trọng, giúp con người đáp ứng nhu cầu vật chất và tạo điều kiện để sống tốt hơn, nhưng nó không thể thay thế những giá trị tinh thần cốt lõi của đời sống con người. Thực tế cho thấy, không ít người giàu có vẫn rơi vào cô đơn, trống rỗng vì thiếu tình yêu thương, sự tin cậy và bình yên trong tâm hồn. Trong khi đó, nhiều người tuy không dư dả vật chất nhưng vẫn hạnh phúc nhờ có gia đình ấm áp, bạn bè chân thành và nhân cách trong sáng. Lịch sử và cuộc sống đã chứng minh rằng tiền có thể mua được nhà cửa, thuốc men, danh vọng, nhưng không thể mua được sức khỏe, tri thức, sự kính trọng hay lòng trung thực. Khi tuyệt đối hóa đồng tiền, con người dễ đánh mất đạo đức, sẵn sàng đánh đổi lương tâm và các mối quan hệ thiêng liêng vì lợi ích trước mắt. Vì vậy, tiền chỉ nên được xem là phương tiện phục vụ cuộc sống, chứ không phải là mục tiêu tối thượng để con người chạy theo bằng mọi giá.
Câu 2:
Nguyễn Bỉnh Khiêm là một danh nhân văn hóa lớn của dân tộc, một nhà thơ – nhà tư tưởng sống giữa thời đại đầy biến động của xã hội phong kiến thế kỉ XVI. Bài thơ Thế gian biến đổi thể hiện rõ cái nhìn tỉnh táo, sâu sắc và giàu triết lí của ông trước sự đổi thay của lòng người và thế thái nhân tình.
Trước hết, bài thơ bộc lộ một nội dung tư tưởng sâu sắc về sự biến đổi của cuộc đời và đạo đức con người. Ngay từ hai câu mở đầu, tác giả đã khái quát quy luật đổi thay của thế gian: “Thế gian biến cải vũng nên đồi, / Mặn nhạt chua cay lẫn ngọt bùi.” Hình ảnh “vũng nên đồi” gợi sự thay đổi lớn lao, đảo lộn, cho thấy cuộc đời không ngừng biến động, không có gì bền vững. Những hương vị “mặn, nhạt, chua, cay, ngọt, bùi” tượng trưng cho đủ đầy thăng trầm của kiếp người. Đằng sau đó là sự chiêm nghiệm thấm thía về lẽ đời.
Các câu thơ tiếp theo phản ánh sự đổi thay trong cách con người đối xử với nhau: “Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử, / Hết cơm, hết bạn, hết ông tôi.” Đồng tiền trở thành thước đo giá trị quan hệ, chi phối tình người. Khi còn tiền bạc, con người được trọng vọng; khi sa cơ, họ dễ bị quay lưng. Qua đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm phê phán một xã hội thực dụng, nơi lòng người dễ đổi thay theo lợi ích vật chất.
Không chỉ dừng lại ở sự phê phán, bài thơ còn thể hiện nỗi buồn và thái độ chán ngán của tác giả trước thói đời bạc bẽo: “Ở thế mới hay người bạc ác, / Giàu thì tìm đến, khó thì lui.” Hai câu thơ khép lại bài thơ bằng giọng điệu chua chát, thấm đẫm sự tỉnh ngộ. Đó không chỉ là lời than thở cá nhân mà còn là lời cảnh tỉnh sâu sắc về đạo lí làm người, khẳng định giá trị của sự chân thành và nhân cách trong xã hội nhiều biến động.
Về nghệ thuật, bài thơ gây ấn tượng bởi lối viết cô đọng, hàm súc, giàu tính triết lí. Ngôn ngữ thơ giản dị, gần gũi với lời ăn tiếng nói dân gian nhưng lại mang sức gợi lớn. Nghệ thuật đối lập, liệt kê được sử dụng hiệu quả, làm nổi bật sự tương phản giữa giàu – nghèo, còn – mất, trước – sau. Giọng điệu thơ vừa điềm tĩnh, vừa chua xót, thể hiện rõ bản lĩnh và chiều sâu tư tưởng của một trí thức lớn đã thấu hiểu lẽ đời.
Tóm lại, Thế gian biến đổi là một bài thơ giàu giá trị tư tưởng và nghệ thuật. Qua đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ phản ánh hiện thực xã hội đầy biến động mà còn gửi gắm bài học sâu sắc về cách nhìn đời, sống đời tỉnh táo, giữ gìn nhân cách trước mọi đổi thay của thế gian.
Câu 1: Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nghị luận.
Câu 2: Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản: nghị luận, tự sự.
Câu 3:Mục đích của tác giả là:
- Giúp người đọc nhận thức đúng đắn về bản chất của đồng tiền.
- Khẳng định: tiền không xấu cũng không thần thánh, nó chỉ là công cụ trao đổi giá trị.
- Nhắc nhở con người cần biết phân biệt giá trị vật chất và giá trị tinh thần, tránh đánh đổi những giá trị lớn lao (nhân cách, tình yêu, danh dự, hạnh phúc) vì tiền bạc.
- Gửi gắm một bài học sống tỉnh táo, khôn ngoan trong lựa chọn và đánh giá giá trị.
Câu 4: Cách lập luận và dẫn dắt của tác giả:
- Tự nhiên, logic, chặt chẽ.
- Xuất phát từ ca dao dân gian quen thuộc, rồi mở rộng bằng trải nghiệm cá nhân và thực tế đời sống.
- Kết hợp lí lẽ + dẫn chứng cụ thể + trích dẫn danh ngôn, văn học, âm nhạc (Oscar Wilde, Ayn Rand, ca dao, bài hát…).
- Giọng văn nhẹ nhàng, suy tư, gần gũi, không áp đặt mà gợi mở, khiến người đọc tự chiêm nghiệm.
Câu 5: Đoạn văn thể hiện một quan điểm rất sâu sắc và đáng suy ngẫm về tiền bạc.
Tiền, suy cho cùng, chỉ là một công cụ trao đổi giá trị, không phải thước đo tuyệt đối của hạnh phúc hay nhân cách. Con người sa ngã không phải vì tiền mạnh mẽ, mà vì lòng tham và những ham muốn vượt quá khả năng, đạo đức của chính mình. Khi gán cho tiền sức mạnh quá lớn, con người dễ đánh mất sự tỉnh táo và sẵn sàng đánh đổi những giá trị thiêng liêng như tình yêu, danh dự, sự chính trực.
Đoạn văn nhắc nhở mỗi người cần sống có chừng mực, biết đủ, biết tự trọng, chỉ nhận những gì xứng đáng với công sức mình bỏ ra. Đó là một bài học quan trọng, đặc biệt với người trẻ trong xã hội hiện đại – nơi đồng tiền và vật chất ngày càng chi phối mạnh mẽ đời sống con người.
CÂU CHỦ ĐỀ:
Thuyết phục mọi người từ bỏ thói quen thức khuya.
- Ngày nay, nhiều học sinh, sinh viên và cả người đi làm đều có thói quen thức khuya.
- Họ thường thức để học bài, làm việc, xem phim, chơi điện thoại hoặc lướt mạng xã hội.
- Việc thức khuya trở thành một phần “bình thường” trong cuộc sống hiện đại, nhưng ít ai nhận ra hậu quả nghiêm trọng của nó.
LUẬN ĐIỂM BỔ SUNG – Các giải pháp từ bỏ:
- Sắp xếp thời gian học tập, làm việc hợp lý, hoàn thành nhiệm vụ ban ngày để không phải thức khuya.
- Tạo thói quen đi ngủ đúng giờ, khoảng 10–11 giờ tối.
- Hạn chế dùng điện thoại, máy tính trước khi ngủ vì ánh sáng xanh khiến não tỉnh táo.
- Rèn luyện thể dục nhẹ buổi tối, đọc sách giấy hoặc nghe nhạc nhẹ giúp dễ ngủ hơn.
- Đặt ra mục tiêu nhỏ mỗi ngày, ví dụ: “Tuần này mình sẽ ngủ sớm hơn 30 phút.”
LUẬN ĐIỂM BỔ SUNG – Tác hại của thói quen:
- Ảnh hưởng xấu đến sức khỏe: mất ngủ, mệt mỏi, giảm trí nhớ, tăng nguy cơ bệnh tim mạch.
- Giảm khả năng tập trung, học tập và làm việc kém hiệu quả.
- Khiến tinh thần uể oải, dễ cáu gắt, da dẻ xấu đi, nhanh lão hóa.
- Gây lệch nhịp sinh học, khó dậy sớm, bỏ bữa sáng – ảnh hưởng xấu đến năng lượng mỗi ngày.
ĐÁNH GIÁ – TỔNG KẾT – LIÊN HỆ – Ý nghĩa của việc từ bỏ thói quen:
- Khi từ bỏ được thói quen thức khuya, cơ thể khỏe mạnh, tinh thần minh mẫn và học tập hiệu quả hơn.
- Có thêm thời gian buổi sáng để tập thể dục, ăn sáng và chuẩn bị cho ngày mới tích cực.
- Biết ngủ đúng giờ cũng là biểu hiện của lối sống khoa học và tự kỷ luật, rất cần thiết trong cuộc sống hiện đại.
→ Mỗi người hãy bắt đầu từ hôm nay: tập ngủ sớm hơn một chút để yêu thương chính bản thân mình.
Bạn có muốn tớ điền lại mẫu này theo thói quen khác (ví dụ: nói tục, xả rác, lười vận động, sử dụng điện thoại quá nhiều, v.v.) không?
Tớ sẽ viết chi tiết tương tự nhé.
Vấn đề chính của văn bản "Điện thoại thông minh và người dùng, ai là ông chủ" là thuyết phục người khác từ bỏ thói quen nghiện điện thoại thông minh.
Vấn đề chính của văn bản "Điện thoại thông minh và người dùng, ai là ông chủ" là thuyết phục người khác từ bỏ thói quen nghiện điện thoại thông minh.
Vấn đề chính của văn bản "Điện thoại thông minh và người dùng, ai là ông chủ" là thuyết phục người khác từ bỏ thói quen nghiện điện thoại thông minh.