NGUYỄN THỊ TÂM ANH

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của NGUYỄN THỊ TÂM ANH
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1. Xác định thể thơ

Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật (mỗi câu 7 chữ, gồm 4 câu).



Câu 2. Xác định luật của bài thơ

• Bài thơ gieo vần “ong” ở cuối các câu 2 và 4: phong phong.

• Tuân theo niêm luật chặt chẽ của thơ Đường (7 chữ mỗi câu, kết cấu cô đọng


Câu 3. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ


Biện pháp tu từ nổi bật là liệt kê trong câu:

“Sơn thủy yên hoa tuyết nguyệt phong”.


Tác dụng:

• Liệt kê hàng loạt hình ảnh thiên nhiên đẹp: núi, sông, khói, hoa, tuyết, trăng, gió.

• Gợi ra bức tranh thiên nhiên thơ mộng, quen thuộc trong thơ ca cổ.

• Qua đó làm nổi bật đặc điểm của thơ xưa thường thiên về miêu tả vẻ đẹp thiên nhiên, ít gắn với đời sống đấu tranh của con người.



Câu 4. Vì sao tác giả cho rằng:

“Hiện đại thi trung ứng hữu thiết,

Thi gia dã yếu hội xung phong”


Theo tác giả:

• Thời đại hiện đại là thời đại đấu tranh cách mạng, cứu nước.

• Vì vậy thơ ca không chỉ nói về thiên nhiên mà cần có “chất thép” – tinh thần mạnh mẽ, ý chí chiến đấu.

• Nhà thơ cũng phải xung phong, nghĩa là tham gia vào cuộc đấu tranh của dân tộc, dùng thơ để cổ vũ và phục vụ cách mạng.

Câu 5. Nhận xét về cấu tứ của bài thơ


Cấu tứ bài thơ rõ ràng, chặt chẽ theo lối đối chiếu:

• Hai câu đầu: nói về đặc điểm của thơ xưa (thiên về vẻ đẹp thiên nhiên).

• Hai câu sau: nêu quan niệm về thơ hiện đại (phải có tinh thần chiến đấu, phục vụ cách mạng).

Câu 1

Bài thơ Cảm tưởng đọc “Thiên gia thi” của Hồ Chí Minh thể hiện quan niệm mới mẻ của tác giả về thơ ca. Hai câu thơ đầu gợi nhắc đặc điểm của thơ ca cổ điển khi thường hướng đến vẻ đẹp của thiên nhiên với những hình ảnh quen thuộc như “núi, sông, khói, hoa, tuyết, trăng, gió”. Qua phép liệt kê, tác giả làm nổi bật vẻ đẹp thơ mộng của thơ xưa nhưng cũng ngầm chỉ ra sự xa rời thực tiễn cuộc sống. Đến hai câu thơ sau, nhà thơ đưa ra quan niệm về thơ ca hiện đại: thơ phải có “chất thép”, nghĩa là phải thể hiện tinh thần mạnh mẽ, ý chí đấu tranh của con người trong thời đại mới. Không chỉ vậy, người làm thơ cũng cần “biết xung phong”, tức là phải gắn bó với cuộc sống, với sự nghiệp đấu tranh của dân tộc. Với giọng thơ ngắn gọn, hàm súc và lập luận chặt chẽ, bài thơ đã thể hiện rõ tư tưởng của tác giả: thơ ca không chỉ để ngợi ca vẻ đẹp thiên nhiên mà còn phải phản ánh hiện thực, cổ vũ tinh thần đấu tranh và phục vụ cuộc sống của con người.

Câu 2

Văn hóa truyền thống là kết tinh của lịch sử, tâm hồn và bản sắc của một dân tộc. Đối với Việt Nam, những giá trị văn hóa truyền thống như lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, hay các phong tục, tập quán tốt đẹp đã góp phần làm nên bản sắc riêng của dân tộc. Trong bối cảnh hội nhập và phát triển hiện nay, việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trở thành trách nhiệm quan trọng, đặc biệt đối với thế hệ trẻ.

Trước hết, văn hóa truyền thống là nền tảng tạo nên bản sắc và sức mạnh của một dân tộc. Nhờ có những giá trị văn hóa được lưu giữ qua nhiều thế hệ mà mỗi người Việt Nam đều có thể nhận ra cội nguồn của mình. Những phong tục như Tết Nguyên đán, lễ giỗ tổ tiên hay các làn điệu dân ca, trang phục truyền thống đều chứa đựng trong đó lịch sử và tâm hồn của dân tộc. Nếu các giá trị ấy bị mai một, bản sắc văn hóa cũng dần phai nhạt. Vì vậy, việc bảo tồn văn hóa truyền thống chính là cách để giữ gìn bản sắc và niềm tự hào dân tộc.

Trong xã hội hiện đại, giới trẻ có vai trò rất quan trọng trong việc phát huy những giá trị ấy. Nhiều bạn trẻ ngày nay đã tích cực tìm hiểu lịch sử, văn hóa dân tộc; tham gia các hoạt động gìn giữ di sản, quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới. Không ít người còn sáng tạo những cách thể hiện mới mẻ để đưa văn hóa truyền thống đến gần hơn với đời sống hiện đại, như kết hợp yếu tố truyền thống trong âm nhạc, thời trang hay nghệ thuật. Điều đó cho thấy văn hóa truyền thống không phải là những giá trị cũ kỹ, mà hoàn toàn có thể được làm mới và phát huy trong cuộc sống ngày nay.

Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một bộ phận giới trẻ chưa thực sự quan tâm đến văn hóa dân tộc. Một số người chạy theo lối sống hiện đại mà xem nhẹ những giá trị truyền thống, thậm chí thờ ơ với lịch sử và di sản của đất nước. Đây là điều đáng lo ngại bởi nếu thế hệ trẻ không ý thức được vai trò của mình thì những giá trị quý báu ấy có nguy cơ bị mai một theo thời gian.

Vì vậy, mỗi bạn trẻ cần nâng cao ý thức giữ gìn và phát huy văn hóa truyền thống. Điều này có thể bắt đầu từ những việc nhỏ như tìm hiểu lịch sử, trân trọng các phong tục tốt đẹp của gia đình, tham gia các hoạt động văn hóa, hay giới thiệu những nét đẹp của văn hóa Việt Nam đến bạn bè trong và ngoài nước. Khi mỗi người đều có ý thức gìn giữ, các giá trị văn hóa truyền thống sẽ tiếp tục được bảo tồn và lan tỏa.

Tóm lại, văn hóa truyền thống là tài sản vô giá của dân tộc. Giữ gìn và phát huy những giá trị ấy không chỉ là trách nhiệm của toàn xã hội mà còn là nhiệm vụ quan trọng của thế hệ trẻ hôm nay. Khi biết trân trọng cội nguồn và phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc, giới trẻ sẽ góp phần làm cho văn hóa Việt Nam ngày càng bền vững và tỏa sáng trong thời đại mới.

Vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong quá trình Đổi mới

Từ năm 1986, Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo, trong đó DNNN giữ vai trò quan trọng:

  • Giữ vị trí chủ đạo trong nền kinh tế: DNNN hoạt động ở các lĩnh vực then chốt như năng lượng, viễn thông, tài chính, giao thông, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an ninh kinh tế quốc gia.
  • Dẫn dắt và điều tiết thị trường:

Trong những giai đoạn khó khăn (khủng hoảng tài chính, dịch bệnh...), DNNN giúp ổn định giá cả, cung ứng hàng hóa, dịch vụ thiết yếu, góp phần kiềm chế lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng.

- Tạo nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước: DNNN đóng gópthiết yếu, góp phần kiềm chế lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng.

  • Tạo nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước: DNNN đóng góp đáng kể vào ngân sách, đầu tư phát triển hạ tầng, thúc đẩy công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
  • Thực hiện các nhiệm vụ chính trị
  • xã hội: DNNN tham gia các chương trình phát triển vùng sâu, vùng xa, xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội.
  • Mở đường cho hội nhập kinh tế quốc tế: Nhiều tập đoàn, tổng công ty nhà nước tham gia thị trường quốc tế, góp phần nâng cao vị thế Việt Nam.

Tuy nhiên, DNNN vẫn còn hạn chế như: hiệu quả chưa cao, quản trị còn yếu, cạnh tranh chưa mạnh, còn tình trạng thua lỗ, lãng phí, chưa theo kịp yêu cầu hội nhập

Câu 1:

Văn bản trên thuộc kiểu văn bản thông tin 

Câu 2:

Đối tượng thông tin được đề cập đến trong văn bản là Vạn Lý Trường Thành.

Câu 3:

Những dữ liệu mà tác giả đưa ra trong văn bản là dữ liệu thứ cấp.

Ví dụ để chứng minh:

Trong văn bản : “Theo thống kê của UNESCO, gần một phần ba công trình này đã biến mất.”

Đây là số liệu được lấy từ UNECCO nên là dữ liệu thứ cấp.

Câu 4:

Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ trong văn bản là hình ảnh minh họa về Vạn Lý Trường Thành

Tác dụng:

Giúp người đọc hình dung rõ hơn, trực quan hơn về công trình được nhắc đến.

Làm cho văn bản sinh động, hấp dẫn, tăng sức thu hút đối với người đọc.

Tăng độ tin cậy và thuyết phục của thông tin vì có hình ảnh minh chứng.

Hỗ trợ người đọc hiểu sâu và ghi nhớ nội dung tốt hơn.

Câu 5

Văn bản gợi cho em nhiều suy nghĩ về giá trị to lớn của Vạn Lý Trường Thành đối với lịch sử và nhân loại. Đây không chỉ là một công trình kiến trúc vĩ đại mà còn là minh chứng cho sức lao động bền bỉ, trí tuệ và ý chí kiên cường của con người qua hàng nghìn năm. Đồng thời, việc công trình đang dần bị hư hại khiến em nhận thức rõ hơn về trách nhiệm bảo tồn di sản văn hóa. Vì vậy, mỗi người, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần có ý thức trân trọng, giữ gìn và bảo vệ những giá trị lịch sử quý báu của nhân loại.

Câu 1

Trong bối cảnh hiện nay, việc bảo tồn các di tích lịch sử của dân tộc có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Những công trình như Hoàng Thành Thăng Long, Cố Đô Huế hay Tràng An không chỉ là dấu ấn của quá khứ mà còn là niềm tự hào, bản sắc văn hóa của người Việt. Tuy nhiên, nhiều di tích đang bị xuống cấp do thời gian, thiên tai và đặc biệt là sự thiếu ý thức của con người. Vì vậy, mỗi người, nhất là thế hệ trẻ, cần nâng cao nhận thức về giá trị của di sản, không xâm hại, vẽ bậy, hay làm hư hỏng các công trình. Bên cạnh đó, chúng ta nên tích cực tìm hiểu lịch sử, tham gia các hoạt động tuyên truyền, bảo vệ và quảng bá di sản văn hóa. Nhà nước cũng cần có chính sách bảo tồn, tu bổ hợp lí, kết hợp phát triển du lịch bền vững. Khi mỗi người đều có trách nhiệm gìn giữ, những di tích lịch sử sẽ được bảo vệ lâu dài, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước và giúp văn hóa dân tộc được lan tỏa trong thời đại hội nhập.

Câu 1:

Bài thơ Yêu được viết theo thể thơ tự do.

Câu 2:

Nhịp thơ linh hoạt, tự do, biến đổi theo cảm xúc.

Nhiều câu thơ có nhịp 2/3, 3/3 hoặc ngắt nhịp tự nhiên, tạo giọng điệu tâm tình, tha thiết.

Nhịp thơ khi thì chậm, trầm lắng, khi lại dồn dập, mãnh liệt, thể hiện những cung bậc cảm xúc phức tạp trong tình yêu.

Câu 3:

Đề tài của bài thơ là tình yêu đôi lứa.

Chủ đề:

Bài thơ thể hiện những suy tư, cảm xúc sâu sắc của tác giả về tình yêu. Qua đó, nhà thơ cho thấy tình yêu vừa đẹp đẽ, say mê nhưng cũng chứa đựng nhiều đau khổ, hi sinh và mất mát. Con người khi yêu luôn cho đi nhiều hơn nhận, dễ rơi vào cô đơn, lo âu và tổn thương. Đồng thời, bài thơ cũng khẳng định khát vọng yêu thương mãnh liệt và quan niệm về tình yêu chân thành, hết mình của nhà thơ.

Câu 4:


Một hình ảnh tượng trưng gây ấn tượng trong bài thơ là hình ảnh “sa mạc cô liêu”.

Hình ảnh này tượng trưng cho cảm giác cô đơn, trống trải và lạc lõng của con người trong tình yêu. Khi yêu, con người luôn khao khát được thấu hiểu, được đáp lại, nhưng không phải lúc nào cũng nhận được tình cảm tương xứng. Vì thế, họ có thể rơi vào trạng thái buồn bã, cô độc, giống như đang đi giữa một sa mạc rộng lớn, hoang vắng, không có điểm tựa. Qua đó, nhà thơ nhấn mạnh nỗi đau, sự hi sinh và những tổn thương mà tình yêu mang lại. Đồng thời, hình ảnh này cũng cho thấy tình yêu là hành trình đầy thử thách, đòi hỏi con người phải mạnh mẽ, chân thành và biết trân trọng những giá trị cảm xúc sâu sắc.

Câu 5:

Qua bài thơ Yêu của Xuân Diệu, em nhận ra rằng tình yêu là một tình cảm đẹp đẽ nhưng cũng đầy thử thách. Khi yêu, con người không chỉ được hạnh phúc mà còn phải chấp nhận hi sinh, đau khổ và đôi khi là cô đơn. Vì vậy, mỗi người cần biết trân trọng tình cảm của mình và của người khác, sống chân thành, thủy chung, không ích kỉ hay vô tâm. Đồng thời, chúng ta cũng cần có sự tỉnh táo, biết yêu đúng cách để không làm tổn thương bản thân và những người xung quanh. Đối với người trẻ, tình yêu không chỉ là cảm xúc mà còn phải gắn với trách nhiệm, giúp nhau cùng tiến bộ và hoàn thiện bản thân. Điều quan trọng nhất là phải biết cân bằng giữa tình cảm và học tập, tương lai, để tình yêu trở thành động lực tốt đẹp trong cuộc sống.

Câu 1:

Bài thơ Yêu được viết theo thể thơ tự do.

Câu 2:

Nhịp thơ linh hoạt, tự do, biến đổi theo cảm xúc.

Nhiều câu thơ có nhịp 2/3, 3/3 hoặc ngắt nhịp tự nhiên, tạo giọng điệu tâm tình, tha thiết.

Nhịp thơ khi thì chậm, trầm lắng, khi lại dồn dập, mãnh liệt, thể hiện những cung bậc cảm xúc phức tạp trong tình yêu.

Câu 3:

Đề tài của bài thơ là tình yêu đôi lứa.

Chủ đề:

Bài thơ thể hiện những suy tư, cảm xúc sâu sắc của tác giả về tình yêu. Qua đó, nhà thơ cho thấy tình yêu vừa đẹp đẽ, say mê nhưng cũng chứa đựng nhiều đau khổ, hi sinh và mất mát. Con người khi yêu luôn cho đi nhiều hơn nhận, dễ rơi vào cô đơn, lo âu và tổn thương. Đồng thời, bài thơ cũng khẳng định khát vọng yêu thương mãnh liệt và quan niệm về tình yêu chân thành, hết mình của nhà thơ.

Câu 4:


Một hình ảnh tượng trưng gây ấn tượng trong bài thơ là hình ảnh “sa mạc cô liêu”.

Hình ảnh này tượng trưng cho cảm giác cô đơn, trống trải và lạc lõng của con người trong tình yêu. Khi yêu, con người luôn khao khát được thấu hiểu, được đáp lại, nhưng không phải lúc nào cũng nhận được tình cảm tương xứng. Vì thế, họ có thể rơi vào trạng thái buồn bã, cô độc, giống như đang đi giữa một sa mạc rộng lớn, hoang vắng, không có điểm tựa. Qua đó, nhà thơ nhấn mạnh nỗi đau, sự hi sinh và những tổn thương mà tình yêu mang lại. Đồng thời, hình ảnh này cũng cho thấy tình yêu là hành trình đầy thử thách, đòi hỏi con người phải mạnh mẽ, chân thành và biết trân trọng những giá trị cảm xúc sâu sắc.

Câu 5:

Qua btho Yêu của Xuân Diệu, em nhận ra rằng tình yêu là một tình cảm đẹp đẽ nhưng cũng đầy thử thách. Khi yêu, con người không chỉ được hạnh phúc mà còn phải chấp nhận hi sinh, đau khổ và đôi khi là cô đơn. Vì vậy, mỗi người cần biết trân trọng tình cảm của mình và của người khác, sống chân thành, thủy chung, không ích kỉ hay vô tâm. Đồng thời, chúng ta cũng cần có sự tỉnh táo, biết yêu đúng cách để không làm tổn thương bản thân và những người xung quanh. Đối với người trẻ, tình yêu không chỉ là cảm xúc mà còn phải gắn với trách nhiệm, giúp nhau cùng tiến bộ và hoàn thiện bản thân. Điều quan trọng nhất là phải biết cân bằng giữa tình cảm và học tập, tương lai, để tình yêu trở thành động lực tốt đẹp trong cuộc sống.

Câu 1

Văn bản Cái đẹp trong truyện ngắn “Muối của rừng” có tính thuyết phục cao nhờ hệ thống luận điểm rõ ràng, bố cục mạch lạc và cách triển khai vừa hợp lý vừa giàu cảm xúc. Trước hết, người viết xác định và triển khai ba vẻ đẹp trọng tâm của truyện: vẻ đẹp thiên nhiên, vẻ đẹp của sự hướng thiện và vẻ đẹp hài hòa giữa con người với thiên nhiên. Các luận điểm ấy phù hợp với tinh thần truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp và được dẫn chứng đầy đủ bằng chi tiết cụ thể như tiếng kêu thê thảm của đàn khỉ, nỗi day dứt của ông Diểu hay hình ảnh hoa tử huyền cuối truyện. Thêm vào đó, văn bản sử dụng nhiều thao tác lập luận như phân tích, so sánh, bình luận, giúp làm sáng tỏ nhận định và tăng chiều sâu tư tưởng. Giọng văn chân thành, giàu cảm xúc cũng góp phần tạo sự cộng hưởng tình cảm, khiến lập luận trở nên dễ đồng cảm hơn. Quan trọng hơn, người viết không chỉ miêu tả vẻ đẹp trong tác phẩm mà còn đánh giá ý nghĩa nhân văn của nó đối với con người hôm nay. Nhờ sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ, dẫn chứng và cảm xúc, văn bản đạt được sức thuyết phục cả về nội dung lẫn nghệ thuật lập luận.


Câu 2

Hiện nay, trên mạng xã hội, ta dễ dàng bắt gặp những đoạn clip ghi lại cảnh các bạn trẻ thu gom rác thải ở ao hồ, bãi biển, chân cầu hay ven đường. Hình ảnh những đôi tay lấm lem bùn đất nhưng ánh mắt rạng rỡ niềm vui sau mỗi túi rác được gom đầy đã tạo nên cảm hứng đặc biệt đối với cộng đồng. Với góc nhìn của người trẻ, tôi cho rằng đó không chỉ là hành động đẹp, mà còn là lời nhắc nhở đầy mạnh mẽ về trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với môi trường sống.


Những clip “nhặt rác” tuy giản dị nhưng mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Chúng cho thấy một thế hệ trẻ không thờ ơ trước các vấn đề chung, biết nhìn rộng hơn nhu cầu bản thân để quan tâm đến lợi ích cộng đồng. Trong bối cảnh rác thải gây ô nhiễm nghiêm trọng, nhiều sông hồ bị “bức tử”, biển trở thành nơi chứa nhựa thì hành động làm sạch môi trường không chỉ góp phần cải thiện cảnh quan mà còn giảm thiểu nguy cơ phá hủy hệ sinh thái. Điều đáng quý nhất là sự chủ động: các bạn trẻ không đợi ai kêu gọi, không đợi đến những chiến dịch quy mô lớn, mà tự mình bắt đầu từ việc nhỏ, từ góc phố, bãi đất, dòng kênh gần nhà. Chính sự tự nguyện ấy khiến hành động trở nên lan tỏa mạnh mẽ hơn bất kỳ khẩu hiệu nào.


Từ góc nhìn của thế hệ trẻ, tôi cảm nhận được sự đẹp đẽ trong ý thức và trái tim của những người bạn đồng trang lứa. Đằng sau mỗi túi rác được nhặt lên là thông điệp sống: “Nếu không bắt đầu từ tôi thì bắt đầu từ ai?”. Nhiều người cho rằng đó chỉ là hành động mang tính phong trào, “làm màu” để quay clip. Nhưng thực tế, trong hàng ngàn người xem, chỉ cần một người thay đổi thói quen xả rác, một người bắt đầu nhặt rác thì môi trường đã tốt hơn lên một phần. Hành động tốt dù nhỏ bé vẫn đáng được ghi nhận, và mạng xã hội chính là công cụ giúp lan tỏa điều tích cực ấy.


Tuy vậy, vấn đề đặt ra là việc làm sạch môi trường không thể chỉ dừng lại ở một số cá nhân nhiệt huyết. Nó cần sự chung tay của cả cộng đồng, cần những chính sách tốt và cần thay đổi ý thức của số đông. Người trẻ có thể khởi xướng, nhưng trách nhiệm giữ gìn sự sạch đẹp phải thuộc về tất cả. Thay vì đứng ngoài quan sát hoặc buông lời phán xét, mỗi người hãy tự hỏi mình đã làm được gì cho nơi mình sống.


Những clip nhặt rác của các bạn trẻ vì thế mang giá trị thức tỉnh. Chúng khiến ta hiểu rằng bảo vệ môi trường không phải là điều xa vời, mà bắt đầu từ một hành động rất đơn giản: cúi xuống nhặt một mẩu rác. Đối với tôi, đó là biểu hiện đẹp của bản lĩnh, trách nhiệm và lối sống nhân văn của thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay. Khi mỗi người biết sống xanh hơn một chút, yêu thiên nhiên nhiều hơn một chút thì xã hội chắc chắn sẽ trở nên đáng sống hơn rất nhiều.


Câu 1: Luận đề: Vẻ đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng thể hiện qua ba phương diện: vẻ đẹp thiên nhiên, vẻ đẹp của sự hướng thiện và vẻ đẹp hòa hợp giữa con người với thiên nhiên.

Câu 2 : Ví dụ một câu có tính khẳng định rõ ràng:

“Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông Diểu về vẻ đẹp của chính nó.”

Câu 3 :


  • Nhan đề “Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng” trực tiếp thông báo nội dung trọng tâm của bài viết.
  • Nội dung văn bản triển khai đúng vào việc phân tích ba vẻ đẹp nổi bật trong truyện (thiên nhiên – hướng thiện – hòa hợp giữa người và rừng).
    → Nhan đề tương ứng chặt chẽ với nội dung, định hướng rõ mục tiêu nghị luận và giúp người đọc nhận ra ngay trọng tâm cảm nhận của người viết.


Câu 4 : Biện pháp liệt kê các hình ảnh thiên nhiên (chim xanh, gà rừng, khỉ, núi non, hang động, rừng xanh, ba con khỉ…) kết hợp với các âm thanh dữ dội (tiếng súng, tiếng kêu buồn thảm, tiếng rú kinh hoàng) có tác dụng:


  • Khắc họa sự phong phú, sống động của thiên nhiên và muông thú.
  • Làm nổi bật sự đối lập gay gắt giữa vẻ đẹp hiền hòa của rừng và sự tàn bạo của hành động đi săn.
  • Tăng sức gợi cảm, gợi hình, khiến người đọc cảm nhận rõ cú sốc tâm lý mà ông Diểu trải qua.
  • Nhấn mạnh bước ngoặt nhận thức của nhân vật: chính sự đối lập ấy đánh thức lòng trắc ẩn và sự hướng thiện trong ông.


Câu 5 :


  • Mục đích:
    Người viết muốn làm rõ và tôn vinh vẻ đẹp đa dạng trong truyện Muối của rừng, qua đó khẳng định giá trị nhân văn sâu sắc của tác phẩm.
  • Quan điểm:
    • Thiên nhiên có sức mạnh cảm hóa con người.
    • Con người chỉ trở nên tốt đẹp khi biết tôn trọng, yêu thương, hòa hợp với tự nhiên.
    • Vẻ đẹp đạo đức (sự hướng thiện) là cốt lõi làm nên giá trị tác phẩm và giá trị con người.
  • Tình cảm:
    Người viết bày tỏ sự trân trọng, yêu mến vẻ đẹp của thiên nhiên và cảm phục trước quá trình thức tỉnh lương tri của nhân vật ông Diểu; đồng thời thể hiện sự ngưỡng mộ đối với tư tưởng nhân văn tinh tế của Nguyễn Huy Thiệp.