PHẠM MAI KHÁNH HUYỀN
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:
Bài thơ “Khán ‘Thiên gia thi’ hữu cảm” trong tập Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh là một tuyên ngôn ngắn gọn mà sâu sắc về quan niệm thơ ca cách mạng. Từ việc đọc tập thơ cổ Thiên gia thi, Bác nhận xét rằng thơ xưa thường “thiên ái” vẻ đẹp thiên nhiên với những hình ảnh quen thuộc như “sơn, thủy, yên, hoa, tuyết, nguyệt, phong”. Thiên nhiên trong thơ trung đại không chỉ là đối tượng miêu tả mà còn là phương tiện nghệ thuật giàu tính biểu tượng. Trong văn học Việt Nam, nhiều thi nhân cũng lấy thiên nhiên làm chuẩn mực của cái đẹp, tiêu biểu như Nguyễn Du khi khắc họa vẻ đẹp Thúy Kiều qua câu thơ “Làn thu thủy, nét xuân sơn”. Tuy nhiên, Hồ Chí Minh không phủ nhận giá trị của thơ xưa mà từ đó “ôn cố tri tân” để nêu lên yêu cầu đối với thơ hiện đại: “Nay ở trong thơ nên có thép / Nhà thơ cũng phải biết xung phong”. “Thép” ở đây chính là tính chiến đấu, là tinh thần kiên cường, là ý thức trách nhiệm trước vận mệnh dân tộc. Trong bối cảnh đất nước đấu tranh giành độc lập, thơ ca không thể đứng ngoài thời cuộc mà phải trở thành vũ khí tinh thần sắc bén, cổ vũ quần chúng, bảo vệ chính nghĩa, đấu tranh chống cái ác, cái xấu. Khi thơ có “thép”, nhà thơ trở thành chiến sĩ trên mặt trận văn hóa nghệ thuật, sẵn sàng “xung phong” bằng ngòi bút và cả hành động thực tiễn. Quan niệm ấy đã góp phần định hướng cho nền văn học cách mạng Việt Nam, khẳng định mối quan hệ gắn bó giữa văn học và thời đại, giữa nghệ thuật và trách nhiệm công dân.
Câu 2:
Để đứng vững và phát triển xuyên suốt quá trình dựng nước và giữ nước, bên cạnh việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, mỗi một quốc gia đều phải coi trọng việc gìn giữ bản sắc văn hóa. Vai trò, ý nghĩa to lớn của bản sắc văn hóa đối với sức sống mạnh mẽ và bền bỉ của mỗi một dân tộc đã đặt ra vấn đề về vai trò của giới trẻ - những chủ nhân tương lai của đất nước đối với việc gìn giữ bản sắc văn hóa.
Như chúng ta đã biết, bản sắc văn hóa là điều cốt lõi mang tính đặc trưng, màu sắc riêng của mỗi một quốc gia, dân tộc; được hình thành và được vun đắp song song với quá trình dựng nước và giữ nước theo cả chiều đồng đại và lịch đại. Đó có thể là những giá trị về vật chất, cũng có thể là những giá trị văn hóa về tinh thần như phong tục tập quán, truyền thống văn hóa,.... Đối với dân tộc Việt Nam, những giá trị đó luôn bền vững, trường tồn theo thời gian như nền văn minh lúa nước, trống đồng Đông Sơn, tinh thần yêu nước mạnh mẽ, bền bỉ như sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử dân tộc, tinh thần "tương thân tương ái" giàu giá trị nhân văn, hay truyền thống đạo lí "uống nước nhớ nguồn", "ân nghĩa thủy chung",....
Bản sắc văn hóa có ý nghĩa vô cùng sâu sắc đối với mỗi một quốc gia, dân tộc. Trước hết, bản sắc chính là cái gốc, cái hồn cốt lõi khẳng định sự tồn tại của mỗi một quốc gia, dân tộc. Điều này đã được Nguyễn Trãi - tác giả của áng thiên cổ hùng văn "Bình Ngô đại cáo" sớm khẳng định trong giai đoạn lịch sử trung đại. Trong tác phẩm của mình, để nêu ra một khái niệm hoàn chỉnh về quốc gia, dân tộc, Nguyễn Trãi đã nêu ra năm yếu tố, trong đó có hai yếu tố về nền văn hiến và phong tục tập quán, thể hiện rõ sự ý thức sâu sắc về vai trò của bản sắc văn hóa. Không chỉ dừng lại ở đó, bản sắc còn là cái nôi nuôi dưỡng ý thức về quyền độc lập và ý thức gìn giữ non sông, đất nước đối với mỗi một con người. Trong vô vàn những quốc gia tồn tại bình đẳng với bức tranh đa dạng và muôn màu sắc, bản sắc chính là một trong những yếu tố làm nên đặc trưng riêng, không thể hòa lẫn, hợp nhất giữa các đất nước.
Trong bối cảnh hòa nhập vào nền kinh tế thị trường và mở cửa hội nhập quốc tế hiện nay, vai trò vị trí của bản sắc văn hóa dân tộc càng được khẳng định hơn nữa và gắn bó mật thiết với trách nhiệm của thế hệ trẻ. Là những chủ nhân tương lai của đất nước, thế hệ thanh thiếu niên học sinh Việt Nam đã và đang phát huy bản sắc dân tộc bằng những việc làm tích cực. Mặc dù có sự du nhập và tác động từ văn hóa nước ngoài nhưng không ít bạn trẻ vẫn tìm về với những giá trị truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc như những trò chơi dân gian, những loại hình văn hóa dân gian như ca trù, nhã nhạc cung đình,..., đặc biệt là không ngần ngại quảng bá hình ảnh của Việt Nam ra thế giới. Trong phần thi về Trang phục dân tộc, Hoa hậu H'Hen Niê đã tỏa sáng với bộ quốc phục được lấy cảm hứng từ những chiếc bánh mì, mang theo niềm tự hào về thành tựu nông nghiệp của nước ta trên đấu trường nhan sắc quốc tế.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, trong xã hội hiện nay, chúng ta vẫn dễ dàng bắt gặp những thanh niên với lối sống xa rời bản sắc dân tộc. Họ thờ ơ với những giá trị truyền thống ở cả vật chất cũng như tinh thần; và đề cao những giá trị văn hóa du nhập ở nước ngoài qua sự thần tượng, sính ngoại vượt ngưỡng cho phép. Chẳng hạn như việc các bạn trẻ vô tư sử dụng những ngôn từ nước ngoài xen kẽ vào tiếng Việt, tạo nên những cách diễn đạt khó hiểu và ảnh hưởng đến sự trong sáng của tiếng Việt. Những hành động đó đã vô tình tác động xấu đến việc duy trì, phát huy nền văn hóa dân tộc.
Thế hệ trẻ cần ý thức được vai trò, ý nghĩa của bản sắc dân tộc để nâng cao tinh thần gìn giữ những giá trị tốt đẹp này. Đồng thời, cần rèn luyện lối sống, những hành động tích cực phù hợp với những truyền thống đạo lí tốt đẹp của dân tộc, bảo lưu, phát huy những giá trị riêng đậm đà bản sắc dân tộc. Chúng ta còn cần lên án, phê phán những hành vi làm mai một bản sắc dân tộc, và có thái độ đấu tranh mạnh mẽ để bài trừ và tẩy chay những hoạt động văn hóa không lành mạnh đang lan truyền với tốc độ chóng mặt trong xã hội hiện nay.
Như vậy, thế hệ trẻ là tầng lớp có vai trò, ý nghĩa to lớn trong việc gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Là những học sinh được sinh ra và lớn lên trong cái nôi của bản sắc dân tộc, chúng ta cần nỗ lực, cố gắng trong học tập, lao động để trở thành những công dân tốt, góp phần xây dựng, bảo vệ quê hương, đất nước.
Câu 1:
Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật
Câu 2.
Bài thơ tuân thủ các quy tắc cơ bản của thơ Đường như niêm, luật và vần. Các câu thơ có sự cân đối về hình thức và ý nghĩa, đặc biệt là sự đối lập giữa thơ xưa và thơ nay. Nhịp điệu thơ đều, giọng điệu trang trọng. Do đó, bài thơ được sáng tác theo luật Đường.
Câu 3.
Một biện pháp tu từ gây ấn tượng trong bài thơ là biện pháp ẩn dụ qua hình ảnh “thép” trong câu “Hiện đại thi trung ương hữu thiết”. Hình ảnh “thép” không chỉ mang nghĩa tả thực mà còn tượng trưng cho tinh thần chiến đấu, ý chí cách mạng và sức mạnh đấu tranh của con người thời đại mới. Biện pháp này giúp bài thơ trở nên mạnh mẽ, thể hiện rõ quan niệm của tác giả rằng thơ ca hiện đại không chỉ để thưởng thức cái đẹp mà còn phải phục vụ cách mạng, cổ vũ hành động và tinh thần đấu tranh.
Câu 4.
Tác giả cho rằng thơ ca hiện đại phải có “thép”, nghĩa là phải mang tinh thần chiến đấu, phản ánh hiện thực khốc liệt của xã hội và khơi dậy ý chí đấu tranh. Nhà thơ không thể đứng ngoài cuộc mà phải trực tiếp dấn thân, sẵn sàng xung phong cùng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng. Trong bối cảnh đất nước bị áp bức, nhiệm vụ giải phóng dân tộc đặt lên hàng đầu, vì vậy thơ ca cần trở thành một vũ khí tinh thần phục vụ cho mục tiêu cứu nước. Đây chính là lý do tác giả khẳng định vai trò chiến đấu của thơ ca và người làm thơ.
Câu 5.
Bài thơ có cấu tứ rõ ràng, mạch lạc. Hai câu đầu nói về đặc điểm của thơ ca xưa, chủ yếu thiên về việc miêu tả vẻ đẹp của thiên nhiên. Hai câu sau chuyển sang bàn luận về thơ ca hiện đại, nhấn mạnh yêu cầu thơ phải có tinh thần chiến đấu và nhà thơ phải biết dấn thân. Sự chuyển ý từ xưa sang nay tạo nên kết cấu chặt chẽ, thể hiện rõ tư tưởng tiến bộ của tác giả. Về nghệ thuật, bài thơ có lời thơ cô đọng, hình ảnh giàu ý nghĩa và mang tính chính luận cao, góp phần làm nổi bật nội dung tư tưởng cách mạng
Câu 1.
Văn bản được kể theo ngôi thứ nhất (xưng “tôi”).
Câu 2.
“Kiệt tác” của cậu bé là bức vẽ con trăn đang nuốt một con voi (nhìn bên ngoài giống như
Câu 3:
Vì người lớn không hiểu được ý nghĩa thật sự của bức tranh. Họ chỉ nhìn bề ngoài và cho rằng đó là “một cái mũ”.
→ Họ thiếu trí tưởng tượng và không trân trọng thế giới sáng tạo của trẻ em.
Câu 4.
- Người lớn được miêu tả:
Thiếu trí tưởng tượng.
Chỉ nhìn sự vật ở vẻ bề ngoài.
Thực tế, khô khan, coi trọng kiến thức “nghiêm túc”.
- Vì vậy, họ đáng trách vì không thấu hiểu trẻ em, nhưng cũng đáng thương vì đã đánh mất sự hồn nhiên và khả năng mơ mộng.
Câu 5.
Qua đoạn trích, en đã có thể rút ra các bài học:
- Cần biết trân trọng trí tưởng tượng và sự sáng tạo.
- Không nên chỉ nhìn sự việc ở bề ngoài.
- Cần lắng nghe và thấu hiểu người khác, đặc biệt là trẻ em.
- Hãy giữ gìn tâm hồn hồn nhiên, giàu mơ mộng.
Câu 1:
Trong đoạn trích từ tác phẩm Hoàng tử bé, nhân vật “tôi” – người kể chuyện – hiện lên với vẻ đẹp của một tâm hồn trẻ thơ giàu trí tưởng tượng, nhạy cảm và khao khát được thấu hiểu. Ngay từ khi còn nhỏ, “tôi” đã bị cuốn hút bởi hình ảnh con trăn nuốt mồi trong cuốn sách về rừng hoang và từ đó sáng tạo nên “kiệt tác” đầu đời của mình. Bức vẽ con trăn nuốt voi – mà người lớn chỉ nhìn thấy như một chiếc mũ – không chỉ thể hiện khả năng quan sát tinh tế mà còn cho thấy trí tưởng tượng phong phú, độc đáo của cậu bé. Tuy nhiên, khi đem bức tranh ấy cho người lớn xem, “tôi” không nhận được sự đồng cảm mà chỉ nhận lại sự thờ ơ, khuyên nhủ thực tế. Điều đó khiến cậu thất vọng và dần từ bỏ ước mơ trở thành họa sĩ. Qua cách kể chân thành, hóm hỉnh nhưng pha chút chua xót, nhân vật “tôi” hiện lên vừa hồn nhiên, say mê sáng tạo, vừa cô đơn trong thế giới của những người lớn khô khan. Dù sau này trở thành phi công và trưởng thành hơn, “tôi” vẫn giữ trong lòng bức vẽ số một như một kỷ niệm về tuổi thơ và như một cách thử thách người lớn: liệu họ có đủ nhạy cảm để nhìn thấy con voi trong bụng con trăn hay không. Nhân vật “tôi” vì thế không chỉ đại diện cho một đứa trẻ cụ thể mà còn tượng trưng cho thế giới trẻ thơ với trí tưởng tượng bay bổng và khát vọng được tôn trọng. Qua hình tượng ấy, tác giả gửi gắm thông điệp sâu sắc: người lớn cần học cách nhìn cuộc sống bằng đôi mắt của trái tim, đừng để thực tế làm thui chột những ước mơ trong trẻo ban đầu.
Câu 2:
Có một câu nói rất gợi suy ngẫm: “Trẻ con tìm thấy tất cả ở nơi chẳng có gì, còn người lớn chẳng tìm được gì trong tất cả.” Câu nói ấy không chỉ so sánh hai cách nhìn cuộc sống, mà còn khiến ta tự hỏi: phải chăng khi lớn lên, con người đã đánh mất điều gì đó rất quan trọng?
Trước hết, “trẻ con tìm thấy tất cả ở nơi chẳng có gì” gợi đến trí tưởng tượng phong phú và tâm hồn hồn nhiên của trẻ nhỏ. Với một đứa trẻ, một chiếc que có thể trở thành thanh kiếm, một vũng nước nhỏ có thể hóa thành đại dương, một khoảng sân trống cũng đủ mở ra cả thế giới phiêu lưu. Trẻ em không cần nhiều vật chất để cảm thấy hạnh phúc. Các em sống bằng sự tò mò, bằng khả năng mơ mộng và niềm vui giản đơn. Chính vì vậy, trong những điều tưởng chừng “không có gì”, các em vẫn tìm thấy “tất cả”: niềm vui, sự khám phá và cảm giác đủ đầy.
Ngược lại, “người lớn chẳng tìm được gì trong tất cả” lại phản ánh một thực tế đáng suy nghĩ. Khi trưởng thành, con người có nhiều hơn: tiền bạc, tri thức, công nghệ, tiện nghi. Thế nhưng, giữa “tất cả” ấy, không ít người vẫn cảm thấy trống rỗng. Áp lực công việc, sự cạnh tranh, những lo toan cơm áo gạo tiền khiến họ dần quên mất cách tận hưởng hiện tại. Họ nhìn cuộc sống bằng lăng kính thực dụng, tính toán, nên đôi khi đánh mất sự rung động trước những điều bình dị như một buổi chiều yên ả hay một bông hoa nở ven đường. Sự giàu có vật chất không đồng nghĩa với sự giàu có tinh thần.
Tuy nhiên, câu nói không nhằm phủ nhận giá trị của trưởng thành, mà như một lời nhắc nhở. Lớn lên là điều tất yếu, nhưng không có nghĩa ta phải đánh mất đứa trẻ trong mình. Giữa nhịp sống hiện đại, nếu biết giữ lại một phần hồn nhiên, biết ngạc nhiên trước những điều nhỏ bé, ta sẽ không rơi vào cảm giác “có tất cả mà như chẳng có gì”. Thực tế cho thấy, nhiều người thành công và hạnh phúc là những người vẫn giữ được sự tò mò, đam mê và khả năng mơ ước như thuở nhỏ.
Đối với học sinh – những người đang ở lằn ranh giữa tuổi thơ và trưởng thành – câu nói này càng có ý nghĩa. Các bạn trẻ hôm nay sống trong điều kiện đầy đủ hơn trước rất nhiều, nhưng cũng phải đối diện với áp lực học tập, thi cử, định hướng tương lai. Nếu chỉ chạy theo thành tích mà quên mất niềm vui khám phá tri thức, việc học sẽ trở nên nặng nề. Ngược lại, nếu giữ được tinh thần ham học hỏi tự nhiên như một đứa trẻ tò mò trước thế giới, việc học sẽ trở thành hành trình thú vị.
Tóm lại, câu nói trên nhắc nhở mỗi chúng ta về giá trị của tâm hồn hồn nhiên và cách nhìn đời tích cực. Hạnh phúc không nằm ở chỗ ta có bao nhiêu, mà ở cách ta cảm nhận những gì mình đang có. Khi biết sống chậm lại, biết trân trọng điều giản dị và giữ trong tim một phần trẻ thơ, ta sẽ không còn thấy cuộc đời trống rỗng giữa “tất cả”.
Câu1:
Truyện ngắn "Muối của rừng" của Nguyễn Huy Thiệp thuyết phục người đọc về vẻ đẹp đích thực thông qua việc xây dựng hình ảnh biểu tượng độc đáo và sự chuyển biến tâm lý nhân vật ông Diểu. Cái đẹp không chỉ ở khu rừng mùa xuân xanh tươi, thơ mộng mà còn ở "hoa tử huyền" trắng muốt, nhỏ li ti, mang vị mặn của muối rừng, tượng trưng cho sự thanh khiết và một vẻ đẹp huyền ảo, khó nắm bắt. Tuy nhiên, vẻ đẹp ấy đối lập với hành trình đi săn đầy toan tính của ông Diểu, người xem thường thiên nhiên như đối tượng chinh phục, thể hiện sự xa cách và cả sự băng hoại của con người hiện đại. Sự thuyết phục lên đến đỉnh điểm khi ông Diểu, chứng kiến hành động hy sinh của khỉ mẹ, cảm nhận được giá trị của tình thương, sự sống và lòng vị tha, để rồi quyết định buông súng, phóng sinh. Hình ảnh ông trở về trần truồng, băng bó vết thương cho khỉ, đi con đường đầy gai nhưng ngập hoa tử huyền, cho thấy sự thức tỉnh nhân cách và tìm thấy vẻ đẹp trong tâm hồn thuần khiết, hướng thiện. Qua đó, Nguyễn Huy Thiệp khẳng định cái đẹp đích thực là sự hài hòa với thiên nhiên, là tình yêu thương, là lương tri con người, thuyết phục độc giả tin vào sức mạnh của cái thiện, dù cuộc đời còn nhiều phức tạp.
Câu2:
Trong những năm gần đây, lướt qua các nền tảng mạng xã hội như TikTok hay Facebook, chúng ta không khó để bắt gặp những đoạn video "biến hình" đầy ấn tượng: không phải biến hình về nhan sắc, mà là sự thay đổi ngoạn mục của những dòng kênh đen kịt, những bãi biển đầy rác hay những chân cầu hôi thối. Đó là thành quả của các nhóm bạn trẻ tình nguyện trên khắp cả nước. Dưới góc nhìn của một người trẻ, tôi xem đây không chỉ là một trào lưu nhất thời, mà là biểu hiện của một thế hệ mới đầy trách nhiệm và hành động thực tế.
Hiện tượng này bắt đầu từ những nhóm nhỏ lẻ và nhanh chóng lan tỏa thành một làn sóng mạnh mẽ. Hình ảnh các bạn trẻ không ngại hôi thối, hiểm nguy, ngâm mình dưới dòng nước đen ngòm để vớt từng túi nilon, xác động vật hay rác thải sinh hoạt đã chạm đến trái tim của cộng đồng. Những đoạn clip ngắn ghi lại quá trình "trước và sau" khi dọn dẹp không chỉ mang tính giải trí mà còn là một lời khẳng định: Người trẻ không chỉ biết "sống ảo", họ đang "làm thật".
Dẫn chứng tiêu biểu nhất chính là nhóm Sài Gòn Xanh. Khởi đầu chỉ với vài thành viên, đến nay nhóm đã thu hút hàng trăm tình nguyện viên, dọn sạch hàng chục con kênh "chết" tại TP.HCM. Hay tại Hà Nội, nhóm Hà Nội Xanh cũng đang miệt mài hồi sinh những dòng sông lừ đừ rác thải. Những hành động này không dừng lại ở việc dọn rác, mà còn là một chiến dịch truyền thông hiệu quả, đánh vào ý thức của người dân xung quanh và những người theo dõi trên mạng xã hội.
Tại sao xu hướng này lại có sức lan tỏa lớn đến vậy? Thứ nhất, đó là sự chuyển dịch từ nhận thức sang hành động. Thay vì chỉ dừng lại ở việc kêu gọi trên bàn phím, các bạn trẻ đã trực tiếp bắt tay vào làm. Điều này tạo ra niềm tin rằng mỗi cá nhân đều có thể góp phần thay đổi môi trường. Thứ hai, sức mạnh của mạng xã hội đã được tận dụng đúng cách. Việc quay clip giúp lan tỏa cảm hứng tích cực, biến việc bảo vệ môi trường trở thành một "trend" (xu hướng) văn minh, đáng để theo đuổi và tự hào.
Tuy nhiên, nhìn vào thực tế này, chúng ta cũng cần trăn trở. Tại sao rác thải lại nhiều đến mức các bạn trẻ phải dọn dẹp liên tục như vậy? Những đoạn clip ấy vừa là niềm tự hào của thế hệ trẻ, nhưng cũng là lời cảnh báo về ý thức kém của một bộ phận người dân trong việc xả rác bừa bãi. Hành động của các bạn trẻ là giải pháp "phần ngọn", còn "phần gốc" nằm ở sự thay đổi trong thói quen sinh hoạt của mỗi cá nhân và sự quản lý chặt chẽ từ phía cơ quan chức năng.
Tóm lại, hình ảnh những bạn trẻ lấm lem bùn đất nhưng rạng rỡ nụ cười bên những dòng kênh vừa được làm sạch là một hình ảnh đẹp đẽ và đầy hy vọng. Họ đang định nghĩa lại giá trị của bản thân thông qua sự cống hiến cho cộng đồng. Là một người trẻ, tôi tin rằng nếu mỗi chúng ta đều giữ cho mình một tâm thế "sống xanh", không xả rác và biết trân trọng nỗ lực của người khác, thì những "chiến dịch dọn rác" sẽ không còn là việc phải làm mỗi ngày, mà môi trường xanh - sạch - đẹp sẽ trở thành một điều hiển nhiên.
Đừng chỉ đứng nhìn và nhấn "like", hãy bắt đầu từ việc bỏ rác đúng nơi quy định, vì một Việt Nam xanh hơn từ chính đôi tay của chúng ta.
Câu1:
Luận đề của văn bản trên là: :vẻ đẹp tâm hồn của con người và vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên.
Câu2:
Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông Diểu về vẻ đẹp của chính nó.
Câu3:
Nhan đề đã khái quát được quá trình chuyển biến từ hành động "làm điều ác" sang hành động "hướng thiện" của nhân vật ông Diểu. Hành động hướng thiện này chính là điểm mấu chốt tạo nên "vẻ đẹp" trong tâm hồn nhân vật mà văn bản muốn nhấn mạnh và phân tích.
Câu4:
Biện pháp tu từ: Liệt kê
Tác dụng:
- Làm rõ vấn đề, tăng sức biểu đạt và cụ thể cho câu văn. Giúp người đọc dễ dàng hình dung được sinh động về không gian và âm thanh.
- Nhấn mạnh sự đối lập và xung đột của không gian rừng núi và muông thú, đối lập sự quấn quýt tĩnh lặng của ba con khỉ với tiếng súng săn dữ dội.
- Qua đó còn làm nổi bật nguyên nhân thức tỉnh của nhân vật Diểu. Từ đó tác giả gửi gắm thông điệp yêu thiên nhiên và bảo vệ thiên nhiên đến các độc giả.
Câu5:
Mục đích: nhằm khẳng định và ca ngợi vẻ đẹp thiện lương trong tâm hồn con người và vẻ đẹp của thiên nhiên. Đồng thời cũng thức tỉnh con người về trách nhiệm đối với sự sống còn của thiên nhiên và sự tuyêtj chủngddaanf của những động vật quý hiếm.
Quan điểm của người viết: sự hướng thiện trong mỗi con người đều đáng được trân trọng và cần được nhìn nhận, lan toả điều đó tới mọi ngườ xing quanh. Qua đó nhấn mạnh cái đẹp của thiên nhiên có thể thức tỉnh được lương tri của con người.
Tình cảm của người viết là sự trân trọng và ngợi ca vẻ đẹp hùng vĩ nhưng lại mộc mạc của thiên nhiên. Là sự đồng cảm của người viết đối với sự chuyển biến nội tâm của nhân vật ông Diểu và thái độ phê phán những hành động phá hoại thiên nhiên của con người.
Câu1:
Luận đề của văn bản trên là: :vẻ đẹp tâm hồn của con người và vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên.
Câu2:
Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông Diểu về vẻ đẹp của chính nó.
Câu3:
Nhan đề đã khái quát được quá trình chuyển biến từ hành động "làm điều ác" sang hành động "hướng thiện" của nhân vật ông Diểu. Hành động hướng thiện này chính là điểm mấu chốt tạo nên "vẻ đẹp" trong tâm hồn nhân vật mà văn bản muốn nhấn mạnh và phân tích.
Câu4:
Biện pháp tu từ: Liệt kê
Tác dụng:
- Làm rõ vấn đề, tăng sức biểu đạt và cụ thể cho câu văn. Giúp người đọc dễ dàng hình dung được sinh động về không gian và âm thanh.
- Nhấn mạnh sự đối lập và xung đột của không gian rừng núi và muông thú, đối lập sự quấn quýt tĩnh lặng của ba con khỉ với tiếng súng săn dữ dội.
- Qua đó còn làm nổi bật nguyên nhân thức tỉnh của nhân vật Diểu. Từ đó tác giả gửi gắm thông điệp yêu thiên nhiên và bảo vệ thiên nhiên đến các độc giả.
Câu5:
Mục đích: nhằm khẳng định và ca ngợi vẻ đẹp thiện lương trong tâm hồn con người và vẻ đẹp của thiên nhiên. Đồng thời cũng thức tỉnh con người về trách nhiệm đối với sự sống còn của thiên nhiên và sự tuyêtj chủngddaanf của những động vật quý hiếm.
Quan điểm của người viết: sự hướng thiện trong mỗi con người đều đáng được trân trọng và cần được nhìn nhận, lan toả điều đó tới mọi ngườ xing quanh. Qua đó nhấn mạnh cái đẹp của thiên nhiên có thể thức tỉnh được lương tri của con người.
Tình cảm của người viết là sự trân trọng và ngợi ca vẻ đẹp hùng vĩ nhưng lại mộc mạc của thiên nhiên. Là sự đồng cảm của người viết đối với sự chuyển biến nội tâm của nhân vật ông Diểu và thái độ phê phán những hành động phá hoại thiên nhiên của con người.
Câu1:
Nhân vật Thủy Tinh là một trường hợp điển hình cho sự tái tạo hình tượng thần thoại trong văn học, mang đến những ý nghĩa đối lập sâu sắc về tình yêu và thiên nhiên qua hai tác phẩm khác biệt: truyền thuyết "Sơn Tinh - Thủy Tinh" và truyện ngắn lãng mạn "Sự tích những ngày đẹp trời". Trong truyền thuyết dân gian, Thủy Tinh đại diện cho thế lực thiên nhiên hung dữ và bất trị, là vị thần Biển cả với quyền năng gây ra bão lũ, thể hiện qua cuộc chiến đấu dữ dội và sự "dâng nước lên cao, đánh Sơn Tinh" hằng năm. Hình tượng này là nỗi ám ảnh và khát vọng chế ngự thiên tai của người Việt cổ. Ngược lại hoàn toàn, trong tác phẩm hiện đại, Thủy Tinh được nhân hóa và lãng mạn hóa thành một nhân vật đầy chất thơ. Sự xuất hiện của ông vô cùng tinh tế, thể hiện qua chi tiết: "Những giọt nước ấy ánh sắc hồng ngọc, dần tụ lại và đột khởi, trong không gian tĩnh lặng, như đội cả dòng suối lên. Nước suối cuộn sóng, dựng đứng lên, thành một chàng trai tuyệt vời đẹp và buồn". Hình ảnh "hồng ngọc" và sự xuất hiện "trong không gian tĩnh lặng" nhấn mạnh vẻ đẹp thuần khiết, bi tráng thay vì sự hung tợn. Nỗi buồn của "chàng trai tuyệt vời đẹp và buồn" chính là bi kịch của tình yêu không trọn vẹn, biến Thủy Tinh từ thế lực đối địch trở thành một người tình si tình, đại diện cho những cảm xúc lãng mạn, nhẹ nhàng của tự nhiên và con người. Như vậy, nếu truyền thuyết phản ánh xung đột sinh tồn giữa con người và thiên nhiên khắc nghiệt, thì truyện ngắn lại tập trung khai thác nội tâm, sử dụng hình tượng Thủy Tinh để ca ngợi vẻ đẹp dịu dàng và khát khao vươn tới cái Chân – Thiện – Mỹ trong tình yêu.
Câu2:
Tình yêu, trong những định nghĩa đẹp đẽ nhất, không phải là sự chiếm đoạt mà là một nghệ thuật trao tặng. Trong nghệ thuật ấy, sự hy sinh không phải là một sự lựa chọn nặng nề, mà là phép màu của sự chuyển hóa: biến cái tôi cá nhân thành cái ta chung thủy, và là minh chứng hùng hồn nhất cho sự cao thượng của trái tim. Nếu tình yêu là hành trình, thì sự hy sinh chính là dấu chân khắc sâu trên con đường vun đắp hạnh phúc, mang trong mình những ý nghĩa sâu sắc và bền vững.
Trước hết, hy sinh chính là ngôn ngữ không lời của lòng chân thành. Khi tình yêu vượt qua giai đoạn say đắm ban đầu và bước vào sự trưởng thành, nó cần một chất keo vô hình để kết dính hai tâm hồn, và chất keo đó chính là sự sẵn lòng đánh đổi lợi ích cá nhân vì hạnh phúc chung. Sự hy sinh ấy có thể giản dị như việc một người gác lại giấc mơ riêng để ủng hộ sự nghiệp của người yêu, hoặc kiên nhẫn chịu đựng những khuyết điểm của đối phương. Hành động tự nguyện này chứng minh rằng người được yêu quan trọng hơn mọi tham vọng cá nhân hay sự thoải mái bản thân. Điều này khác biệt hoàn toàn với sự vị kỷ – căn bệnh dễ làm tình yêu đổ vỡ. Giống như hình ảnh nàng Della trong truyện ngắn Món quà của các đạo sĩ cắt đi mái tóc quý giá của mình hay chàng Jim bán chiếc đồng hồ gia truyền, sự hy sinh không làm mất đi giá trị của họ, mà ngược lại, nhân đôi giá trị của tình yêu vì nó xuất phát từ sự tự nguyện và tấm lòng vô vị lợi.
Hơn thế nữa, sự hy sinh là cội nguồn của sự thấu hiểu và lòng biết ơn sâu sắc. Không có sự hy sinh, tình yêu dễ trở nên hời hợt, chỉ dựa trên sự hưởng thụ và đòi hỏi. Khi một người chấp nhận nhún nhường, chịu thiệt thòi hoặc gánh vác phần nặng hơn trong cuộc sống chung, họ không chỉ trao đi công sức mà còn trao đi cả niềm tin và sự tôn trọng. Người nhận, nếu là một người trưởng thành, sẽ cảm nhận được sự ấm áp và sự bảo vệ vô bờ bến ấy, từ đó tự nhiên sinh ra lòng biết ơn và sự đồng cảm. Chính sự ghi nhận và đáp đền này tạo nên một vòng tuần hoàn tích cực, khiến mối quan hệ trở nên vững chãi. Họ hiểu rằng, tình yêu không phải là sự tính toán "tôi cho đi bao nhiêu, anh phải trả lại bấy nhiêu," mà là sự "cùng hy sinh" một phần cái tôi để bảo vệ cái ta, cùng nhau vượt qua những bất đồng cố hữu của hai cá thể khác biệt.
Tuy nhiên, cần phải nhìn nhận rằng, sự hy sinh chỉ cao cả khi nó là sự hy sinh "khôn ngoan". Một tình yêu lành mạnh không bao giờ dung túng cho sự hy sinh mù quáng dẫn đến việc tự hủy hoại giá trị cá nhân hoặc trở thành công cụ thỏa mãn sự ích kỷ của người khác. Hy sinh cần phải đi kèm với sự tự tôn và tôn trọng lẫn nhau. Nếu sự hy sinh chỉ đến từ một phía, nó dễ biến thành sự chịu đựng và cuối cùng là oán trách, dẫn đến sự mất cân bằng và tan vỡ. Sự hy sinh chân chính là chọn lựa nhường nhịn những điều nhỏ để bảo vệ những điều lớn lao: sự bình yên, sự tin tưởng, và tương lai chung.
Kết lại, sự hy sinh trong tình yêu là một nghệ thuật sống, một đức tính cần thiết. Nó không phải là bi kịch, mà là bản chất của tình thương. Nhờ có sự hy sinh, tình yêu mới vượt lên trên giới hạn của cảm xúc cá nhân để trở thành một lời thề nguyện thiêng liêng, là cam kết không chỉ cùng nhau hưởng thụ ánh sáng mà còn cùng nhau bước qua bóng tối, tạo nên một câu chuyện tình yêu bền vững và đáng ngưỡng mộ.
Câu1: Thể loại: truyện ngắn
Câu2: Ngôi kể được sử dụng trong đoạn văn là ngôi thứ ba- người kể từ bên ngoài thuật lại câu chuyện.
Câu3:
Cốt truyện của "Sự tích những ngày đẹp trời" là một phiên bản sáng tạo dựa trên truyền thuyết "Sơn Tinh Thuỷ Tinh", tập trung vào sự xung đột nội tâm của các nhân nhân vật thay vì chỉ đơn thuần là mâu thuẫn giữa Sơn Tinh và Thuỷ Tinh.
Câu4:
Chi tiết kì ảo, hoang đường: Thuỷ tinh khóc khi thấy Mị Nương đã theo Sơn Tinh về đồng thời nước lũ cũng dâng lên cuồn cuộn.
=> Tác dụng:
- Tăng tính hấp dẫn, lôi cuốn cho câu chuyện.
- Truyền tải cũng như nhấn mạnh tình cảm của Thuỷ Tinh dành cho Mị Nương và tâm trạng đầy thất vọng khi Mị Nương đã là của người khác.
Câu5:
Em ấn tượng nhất với chi tiết: "Những giọt nước ấy ánh sắc hồng ngọc, dần tụ lại và đột khởi, trong không gian tĩnh lặng, như đội cả dòng suối lên. Nước suối cuộn sóng, dựng đứng lên, thành một chàng trai tuyệt với đẹp và buồn", vì vẻ đẹp của Thủy Tinh được nêu lên rất nhẹ nhàng, trong sáng như những giọt nước chứ không hể giống với hình tượng em vẫn hay được đọc về Thủy Tinh đó là vẻ hung tợn và dữ dội.Ngoài ra còn khắc hoạ nỗi buồn nội tâm của một vị thần thất bại trong tình yêu, biến Thuỷ Tinh thành một người bi tráng thay vì một thế lực thù địch.