ĐỖ HÀ LINH
Giới thiệu về bản thân
Câu 1 :
Trong đoạn trích từ "Hoàng tử bé" của tác giả Saint Exupéry, nhân vật "tôi" hiện lên là một người giàu cảm xúc, có tâm hồn tinh tế, khác biệt với thế giới người lớn khô khan. Qua ngôi kể thứ nhất, nhân vật bộc lộ sự cô đơn, hoài niệm về tuổi thơ bị vùi lấp bởi tư duy thực dụng, đồng thời thể hiện sự đồng cảm, trân trọng đối với thế giới hồn nhiên, sâu sắc của Hoàng tử bé, qua đó khẳng định giá trị của việc nhìn nhận cuộc sống bằng trái tim.Nhân vật "tôi" là một người có tuổi thơ bị lãng quên nhưng vẫn giữ được góc nhìn khác biệt. Ngay từ đầu, ông gợi nhắc về bức tranh "trăn ăn voi" bị người lớn hiểu lầm là "cái mũ", thể hiện sự bất lực trước tư duy thực dụng, thiếu trí tưởng tượng của thế giới người lớn. Dù sống giữa thực tại khô khan của công việc phi công và máy móc, tâm hồn "tôi" vẫn luôn khao khát sự thấu hiểu chân thành.Đặc biệt, qua những lời kể của nhân vật "tôi" ta nhận ra sự quá chú trọng vào những điều thực dụng và khô khan trong thế giới của người lớn mà bỏ quên vẻ đẹp tâm hồn. Nhân vật "tôi" trở thành cầu nối giữa thế giới thực tại và thế giới bay bổng, hồn nhiên của trẻ thơ. Nhân vật này là đại diện cho những người lớn "đã từng là trẻ con" nhưng không quên đi cách nhìn nhận thế giới bằng sự trong sáng, thấu cảm.Tóm lại, nhân vật "tôi" trong đoạn trích cho thấy sự kỳ diệu và quý giá của tâm hồn những đứa trẻ thơ.
Câu 2 :
Giacomo Leopardi từng cho rằng: “Trẻ con tìm thấy tất cả ở nơi chẳng có gì, còn người lớn chẳng tìm được gì trong tất cả.” Câu nói đã gợi ra sự đối lập sâu sắc giữa thế giới của trẻ em và thế giới của người lớn, đồng thời gửi gắm một triết lí nhân sinh đầy ý nghĩa.
Trẻ con có một tâm hồn trong sáng và trí tưởng tượng phong phú. Với các em, một hòn sỏi có thể trở thành kho báu, một bức tranh nguệch ngoạc có thể là cả thế giới thần tiên, một câu chuyện nhỏ cũng đủ làm nên niềm vui lớn. Các em nhìn cuộc sống bằng đôi mắt tò mò và háo hức, luôn khám phá mọi điều xung quanh bằng cảm xúc chân thành. Vì thế, “nơi chẳng có gì” đối với người lớn lại trở thành “tất cả” đối với trẻ em, bởi các em biết cảm nhận giá trị từ những điều rất giản dị.
Ý kiến của Leopardi không nhằm phủ nhận vai trò của người lớn mà nhắc nhở con người hãy biết giữ lại một phần tâm hồn trẻ thơ trong quá trình trưởng thành. Con người cần học cách sống chậm lại, biết trân trọng những niềm vui giản dị như một buổi chiều yên bình, một lời hỏi thăm chân thành, hay một giấc mơ nhỏ bé của bản thân. Khi đó, cuộc sống sẽ trở nên ý nghĩa hơn, không chỉ là chuỗi ngày mưu sinh khô khan.
Từ góc nhìn của người trẻ, em nhận thấy rằng mình cần biết dung hòa giữa hai thế giới: vừa học tập, rèn luyện để trở thành người trưởng thành có trách nhiệm, vừa giữ gìn trí tưởng tượng, sự hồn nhiên và lòng yêu cái đẹp. Không nên để áp lực học tập hay thành tích làm mất đi niềm vui sống và khả năng mơ ước. Chỉ khi giữ được “đứa trẻ” trong tâm hồn, con người mới có thể cảm nhận cuộc đời một cách trọn vẹn.
Như vậy, câu nói của Leopardi là lời nhắn nhủ sâu sắc: hãy học ở trẻ em cách nhìn cuộc sống bằng trái tim trong sáng và giàu cảm xúc. Khi biết tìm thấy “tất cả” trong những điều giản dị, con người sẽ không còn cảm thấy trống rỗng dù đang sống giữa thế giới đầy đủ và hiện đại.
*,Vai trò
-Cung cấp hàng hóa và dịch vụ thiết yếu: DNNN đã đóng góp quan trọng vào việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ cơ bản cho xã hội, đặc biệt trong các lĩnh vực như điện, nước, giao thông vận tải và viễn thông.
-Thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn: DNNN thường đóng vai trò chủ lực trong các ngành công nghiệp chiến lược như dầu khí, điện lực, và ngân hàng.
-Đảm bảo an ninh kinh tế: DNNN góp phần quan trọng vào việc bảo đảm an ninh kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt.
-Tạo công ăn việc làm: DNNN là một trong những nguồn tạo ra việc làm lớn nhất trong nền kinh tế, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp và tăng thu nhập cho người lao động.
-Thực hiện các chính sách xã hội: DNNN thường tham gia vào việc thực hiện các chương trình an sinh xã hội, như hỗ trợ người nghèo, phát triển hạ tầng.
Cần điều chỉnh:
-Tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình: Cần có những quy định rõ ràng về quản lý và giám sát hoạt động của DNNN.
-Thúc đẩy cổ phần hóa và chuyển đổi mô hình quản lý: Cần tiếp tục đẩy mạnh quá trình cổ phần hóa DNNN để nâng cao hiệu quả hoạt động.
-Tăng cường năng lực cạnh tranh: DNNN cần cải thiện năng lực cạnh tranh thông qua việc áp dụng công nghệ mới, cải tiến quy trình sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm.
-Định hướng phát triển bền vững: Cần có các chính sách khuyến khích DNNN thực hiện các hoạt động sản xuất và kinh doanh bền vững, chú trọng đến bảo vệ môi trường
-Hợp tác và liên kết với khu vực tư nhân: Khuyến khích DNNN hợp tác với các doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt trong các dự án lớn và các lĩnh vực cần đầu tư mạnh mẽ.
-Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: DNNN cần chú trọng vào việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng cho người lao động
Câu 1 :
a,Những bài học cơ bản của các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc từ năm 1945 đến nay
- Thứ nhất, không ngừng phát huy tinh thần yêu nước của các tầng lớp nhân dân
+ Tinh thần yêu nước của nhân dân Việt Nam đã tạo thành sức mạnh tổng hợp của dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do và bảo vệ Tổ quốc.
+ Ngày nay, đất nước đang tiến hành đổi mới và hội nhập sâu rộng trong bối cảnh toàn cầu hoá. Vì vậy, cần đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống để mỗi người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ nhận thức rõ vai trò của tinh thần và phát huy tinh thần đó trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.
- Thứ hai, củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân
+ Thực tiễn cách mạng từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã chứng minh: Một dân tộc nhỏ, nghèo nàn, lạc hậu như Việt Nam nhưng lại có thể chiến thắng những kẻ thù hùng mạnh,... là nhờ sự đoàn kết một lòng của cả dân tộc. Các tổ chức mặt trận đã giữ vai trò to lớn trong xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc.
+ Ngày nay, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần phát huy vai trò trong việc củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân.
- Thứ 3, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
+ Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là một trong những bài học lớn, xuyên suốt trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ và xây dựng đất nước, trong đó, sức mạnh dân tộc là yếu tố quyết định.
+ Trong bối cảnh hiện nay, việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại góp phần tăng cường sức mạnh tổng hợp để tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, tạo ra thế và lực để đất nước ổn định và phát triển.
+ Các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc cũng cho thấy cần kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng đất nước vững mạnh, đời sống của các tầng lớp nhân dân ngày càng nâng cao... là tạo điều kiện vững chắc cho bảo vệ Tổ quốc. Ngược lại, tăng cường quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc gia sẽ tạo sức mạnh cần thiết cho công cuộc xây dựng đất nước.
- Thứ 4, phát triển sáng tạo nghệ thuật chiến tranh nhân dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân
+ Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp tục xây dựng và phát triển sáng tạo nghệ thuật quân sự Việt Nam. Đó là nghệ thuật toàn dân đánh giặc, nghệ thuật tiến công chủ động, kiên quyết, mưu trí, sáng tạo,..
+ Trong bối cảnh sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học-công nghệ hiện nay, nghệ thuật quân sự Việt Nam cần tiếp tục phát triển ở trình độ khoa học cao, đồng thời xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và có chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa
b,
- Những việc học sinh có thể làm để góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc:
+ Chủ động tìm hiểu các tư liệu lịch sử, pháp luật Việt Nam, pháp luật quốc tế,… để có nhận thức đúng đắn về vấn đề: chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam trên Biển Đông.
+ Quan tâm đến đời sống chính trị - xã hội của địa phương, đất nước.
+ Thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, đặc biệt là các chủ trương, chính sách liên quan đến vấn đề chủ quyền biển, đảo; đồng thời vận động mọi người xung quanh cùng thực hiện đúng các quy định của pháp luật.
+ Phê phán, đấu tranh với những hành vi xâm phạm chủ quyền biển đảo Việt Nam; những hành vi đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc;
+ Tích cực tham gia, hưởng ứng các phong trào bảo vệ chủ quyền biển đảo, ví dụ như: “Vì Trường Sa thân yêu”, “Góp đá xây Trường Sa”, “Đồng hành cùng ngư dân trẻ ra khơi”, “Tuổi trẻ hướng về biển, đảo của Tổ quốc”…
Câu 2 :
*,Thành tựu về chính trị:
- Đổi mới tư duy chính trị
- Mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội được tăng cường theo quy định của Hiến pháp.
- Nền hành chính được cải cách; Bộ máy hành chính các cấp được sắp xếp theo hướng tinh gọn và hiệu quả.
*, Thành tựu về kinh tế:
- Cơ cấu kinh tế dịch chuyển theo hướng tích cực, hình thành nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước.
- Hệ thống pháp luật về kinh tế hình thành và hoàn thiện.
- Tăng trưởng kinh tế đạt tốc độ cao, giảm dần sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên thiên nhiên, xuất khẩu thô, lao động nhân công giá rẻ và mở rộng tín dụng, từng bước chuyển sang dựa vào ứng dụng mạnh mẽ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
- Quy mô nền kinh tế được mở rộng, GDP bình quân đầu người ngày càng tăng.
*,Thành tựu về xã hội
- Chỉ số phát triển con người (HDI) tăng đều đặn và liên tục.
- Chính sách lao động, việc làm có nhiều chuyển biến theo hướng ngày càng phù hợp hơn.
- Công tác xoá đói giảm nghèo đạt nhiều kết quả ấn tượng.
*,Thành tựu về văn hóa:
- Giáo dục và đào tạo phát triển về quy mô và cơ sở vật chất. Trình độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực được nâng lên.
- Văn hoá truyền thống được bảo tồn và phát huy. Các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể được xác định và đánh giá theo chuẩn quốc tế.
*,Thành tựu về hội nhập quốc tế:
- Hội nhập quốc tế được thực hiện thiết thực và hiệu quả.
- Vị thế và uy tín của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên thế giới.
Câu 1 :
- Ngôi kể thứ nhất.
Câu 2 :
- Kiệt tác của cậu bé là " Hình vẽ số một "
Câu 3 :
- Bởi vì người lớn muốn cậu bé tập trung vào những môn học thực tế, có ích cho cuộc sống.Họ không hiểu được sự quý giá của trí tưởng tượng trong các bức vẽ của cậu bé.Đây cũng là quan điểm chung của đa số người lớn,họ áp đặt và ngăn cản trí tưởng tượng của trẻ em.
Câu 4 :
Người lớn được miêu tả là những người khô khan, thực tế, thiếu trí tưởng tượng và không có khả năng thấu hiểu thế giới trẻ thơ.Chính những người lớn như vậy đã ngăn cản trí tưởng tượng và sự tự do phát triển của trẻ em. Đồng thời thể hiện quan điểm không đồng tình của tác giả với những "người lớn" này.
Câu 5 :
Qua văn bản trên,tôi rút ra bài học rằng những giá trị cốt yếu nhất thường không thể nhìn bằng mắt thường mà phải cảm nhận bằng trái tim. Nó nhắc nhở chúng ta đừng để những định kiến và tư duy thực dụng làm mòn đi trí tưởng tượng, bởi khi chỉ tập trung vào cái vỏ bọc bên ngoài, ta sẽ vô tình bỏ lỡ vẻ đẹp kỳ diệu ẩn giấu bên trong sự vật. Đồng thời, chi tiết này còn là lời khẳng định về sự thấu hiểu chỉ những tâm hồn đồng điệu, dám giữ lại sự hồn nhiên, mới có thể thực sự kết nối và tìm thấy tiếng nói chung giữa một thế giới đầy những quy tắc áp đặt.
Câu 1 :
Bài thơ "Khán Thiên gia thi hữu cảm" được trích trong tập"Nhật ký trong tù" thể hiện quan niệm nghệ thuật độc đáo của Hồ Chí Minh rằng thơ ca phải gắn liền với thực tại, chiến đấu và mang tinh thần thời đại. Qua câu thơ "Trong thơ thời nay nên có thép". Bác khẳng định nhà thơ không chỉ mơ mộng, mà phải là chiến sĩ xung phong trên mặt trận văn hóa. Bài thơ chỉ vỏn vẹn bốn câu nhưng chứa đựng quan niệm sâu sắc. Thơ xưa thường thiên về tả cảnh, ca ngợi thiên nhiên. Dù thừa nhận vẻ đẹp đó, Bác nhận ra sự thiếu vắng chất chiến đấu, tinh thần cứng cỏi trước nghịch cảnh. Tác giả muốn hướng thi ca đến cái "thép" hay chính là ý chí kiên cường, bản lĩnh cách mạng để phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc. "Khán Thiên gia thi hữu cảm" là tuyên ngôn về một nền văn học cách mạng, nơi nhà thơ dùng ngòi bút làm vũ khí đấu tranh. Thơ "có thép" chính là tiếng nói khẳng định chính nghĩa, bảo vệ cái thiện, và thể hiện tâm hồn yêu đời, ung dung tự tại của người chiến sĩ trong hoàn cảnh tù đày. Đây là bài thơ ngắn gọn nhưng chứa đựng tư tưởng lớn về vai trò của thi sĩ.
Câu 2 :
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, các quốc gia và nền văn hóa trên thế giới đang chịu tác động mạnh mẽ từ sự giao thoa và hội nhập. Mặc dù hội nhập mang đến nhiều cơ hội phát triển, nhưng nó cũng tiềm ẩn nguy cơ làm mất đi bản sắc văn hóa của từng dân tộc. Vì vậy, việc giữ gìn văn hóa truyền thống trong thời đại hội nhập không chỉ là nhiệm vụ của mỗi cá nhân mà còn là trách nhiệm của cả cộng đồng và quốc gia, nhất là với giới trẻ.
Văn hóa truyền thống là những giá trị vật chất và tinh thần gồm phong tục, lễ hội, nghệ thuật, ngôn ngữ,...được hun đúc qua hàng nghìn năm. Giữ gìn và phát huy không có nghĩa là hoài niệm máy móc, mà là bảo tồn những nét đẹp, đồng thời làm mới chúng cho phù hợp với thời đại.
Hiện nay, nhiều bạn trẻ đã thể hiện sự sáng tạo qua việc đưa chất liệu dân gian vào âm nhạc, thời trang như áo dài cách tân, âm nhạc đương đại, hay tích cực tham gia các dự án bảo tồn di sản. Biểu hiện còn được thể hiện rõ ở việc nhiều thanh niên tích cực tìm hiểu lịch sử, tham gia các lớp học về nhạc cụ dân tộc, nghề thủ công truyền thống, hoặc tìm về các làng nghề văn hóa.Giới trẻ cũng tích cực tham gia tổ chức, biểu diễn trong các lễ hội văn hóa, các buổi trình diễn nghệ thuật truyền thống, duy trì tinh thần "uống nước nhớ nguồn".
Việc bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Thứ nhất, nó giúp chúng ta giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc, tránh bị hòa tan trong dòng chảy văn hóa toàn cầu. Thứ hai, nó góp phần tạo nên sự đa dạng văn hóa của thế giới, làm cho cuộc sống trở nên phong phú và thú vị hơn. Thứ ba, nó là nguồn lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế, xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực du lịch và văn hóa. Thứ tư, nó là nền tảng để xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ, giàu bản sắc. Tuy nhiên, việc bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống không phải là một nhiệm vụ dễ dàng. Chúng ta đang phải đối mặt với nhiều thách thức, như sự du nhập của văn hóa ngoại lai, sự thiếu quan tâm của một bộ phận giới trẻ, sự thiếu đầu tư cho các hoạt động văn hóa, và sự khai thác quá mức các di sản văn hóa cho mục đích thương mại.
Trong lịch sử Việt Nam, chúng ta đã có nhiều tấm gương sáng ngời về việc bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một ví dụ điển hình. Người luôn đề cao giá trị văn hóa dân tộc, đồng thời khuyến khích sự tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa của nhân loại. Các nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ, nhà nghiên cứu văn hóa cũng đã có những đóng góp to lớn cho việc bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống.
Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận trẻ thờ ơ, "sính ngoại", chạy theo các giá trị hiện đại phương Tây mà bỏ quên gốc rễ, khiến bản sắc dần mai một. Đây là thực trạng đáng báo động cần lên án.
Vì vậy là một người trẻ sống trong thời đại công nghệ phát triển vượt bậc, bản thân tôi nhận thấy, mỗi người chúng ta đều có trách nhiệm trong việc bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống. Chúng ta có thể bắt đầu từ những việc nhỏ nhất, như tìm hiểu về lịch sử, văn hóa của quê hương, tham gia các lễ hội truyền thống, học các nghề thủ công truyền thống, hoặc đơn giản là trân trọng và sử dụng tiếng Việt một cách đúng đắn.
Văn hóa truyền thống là tài sản vô giá của dân tộc, là ngọn lửa soi đường cho tương lai. Việc bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước, mà còn là trách nhiệm của mỗi người dân. Hãy cùng nhau chung tay gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, để văn hóa Việt Nam mãi mãi trường tồn và phát triển.
Câu 1:
- Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt.
Câu 2:
- Luật của bài thơ: Bài thơ tuân theo luật trắc.
Câu 3.
- Biện pháp ẩn dụ “thép” trong câu “Hiện đại thi trung ương hữu thiết”
- Tác dụng :
+,Tăng sức gợi hình, gợi cảm cho câu thơ
+,Hình ảnh “thép” không chỉ mang nghĩa tả thực mà còn tượng trưng cho tinh thần chiến đấu, ý chí cách mạng và sức mạnh đấu tranh của con người thời đại mới. Biện pháp này giúp bài thơ trở nên mạnh mẽ, thể hiện rõ quan niệm của tác giả rằng thơ ca hiện đại không chỉ để thưởng thức cái đẹp mà còn phải phục vụ cách mạng, cổ vũ hành động và tinh thần đấu tranh.
Câu 4.
- Tác giả cho rằng thơ ca hiện đại phải có “thép”, nghĩa là phải mang tinh thần chiến đấu, phản ánh hiện thực khốc liệt của xã hội và khơi dậy ý chí đấu tranh. Nhà thơ không thể đứng ngoài cuộc mà phải trực tiếp dấn thân, sẵn sàng xung phong cùng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng. Trong bối cảnh đất nước bị áp bức, nhiệm vụ giải phóng dân tộc đặt lên hàng đầu, vì vậy thơ ca cần trở thành một vũ khí tinh thần phục vụ cho mục tiêu cứu nước. Đây chính là lý do tác giả khẳng định vai trò chiến đấu của thơ ca và người làm thơ.Qua đó thể hiện tài năng cùng quan điểm của tác giả.
Câu 5:
- Nhận xét: Bài thơ có kết cấu đối lập giữa hai phần: · Hai câu đầu: nói về thơ xưa · Hai câu sau: nói về thơ hiện đại · Sự đối lập này làm nổi bật tư tưởng nghệ thuật cách mạng của tác giả: thơ ca phải gắn với thời đại, với nhiệm vụ cứu nước. · Lời thơ ngắn gọn, súc tích, vừa mang tính triết lí vừa giàu hình ảnh, thể hiện tầm nhìn và sự sắc sảo của tác giả.
Câu 1:
- Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt.
Câu 2:
- Luật của bài thơ: Bài thơ tuân theo luật trắc.
Câu 3.
- Biện pháp ẩn dụ “thép” trong câu “Hiện đại thi trung ương hữu thiết”
- Tác dụng :
+,Tăng sức gợi hình, gợi cảm cho câu thơ
+,Hình ảnh “thép” không chỉ mang nghĩa tả thực mà còn tượng trưng cho tinh thần chiến đấu, ý chí cách mạng và sức mạnh đấu tranh của con người thời đại mới. Biện pháp này giúp bài thơ trở nên mạnh mẽ, thể hiện rõ quan niệm của tác giả rằng thơ ca hiện đại không chỉ để thưởng thức cái đẹp mà còn phải phục vụ cách mạng, cổ vũ hành động và tinh thần đấu tranh.
Câu 4.
- Tác giả cho rằng thơ ca hiện đại phải có “thép”, nghĩa là phải mang tinh thần chiến đấu, phản ánh hiện thực khốc liệt của xã hội và khơi dậy ý chí đấu tranh. Nhà thơ không thể đứng ngoài cuộc mà phải trực tiếp dấn thân, sẵn sàng xung phong cùng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng. Trong bối cảnh đất nước bị áp bức, nhiệm vụ giải phóng dân tộc đặt lên hàng đầu, vì vậy thơ ca cần trở thành một vũ khí tinh thần phục vụ cho mục tiêu cứu nước. Đây chính là lý do tác giả khẳng định vai trò chiến đấu của thơ ca và người làm thơ.Qua đó thể hiện tài năng cùng quan điểm của tác giả.
Câu 5:
- Nhận xét: Bài thơ có kết cấu đối lập giữa hai phần: · Hai câu đầu: nói về thơ xưa · Hai câu sau: nói về thơ hiện đại · Sự đối lập này làm nổi bật tư tưởng nghệ thuật cách mạng của tác giả: thơ ca phải gắn với thời đại, với nhiệm vụ cứu nước. · Lời thơ ngắn gọn, súc tích, vừa mang tính triết lí vừa giàu hình ảnh, thể hiện tầm nhìn và sự sắc sảo của tác giả.
Câu 1:
- Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt.
Câu 2:
- Luật của bài thơ: Bài thơ tuân theo luật trắc.
Câu 3.
- Biện pháp ẩn dụ “thép” trong câu “Hiện đại thi trung ương hữu thiết”
- Tác dụng :
+,Tăng sức gợi hình, gợi cảm cho câu thơ
+,Hình ảnh “thép” không chỉ mang nghĩa tả thực mà còn tượng trưng cho tinh thần chiến đấu, ý chí cách mạng và sức mạnh đấu tranh của con người thời đại mới. Biện pháp này giúp bài thơ trở nên mạnh mẽ, thể hiện rõ quan niệm của tác giả rằng thơ ca hiện đại không chỉ để thưởng thức cái đẹp mà còn phải phục vụ cách mạng, cổ vũ hành động và tinh thần đấu tranh.
Câu 4.
- Tác giả cho rằng thơ ca hiện đại phải có “thép”, nghĩa là phải mang tinh thần chiến đấu, phản ánh hiện thực khốc liệt của xã hội và khơi dậy ý chí đấu tranh. Nhà thơ không thể đứng ngoài cuộc mà phải trực tiếp dấn thân, sẵn sàng xung phong cùng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng. Trong bối cảnh đất nước bị áp bức, nhiệm vụ giải phóng dân tộc đặt lên hàng đầu, vì vậy thơ ca cần trở thành một vũ khí tinh thần phục vụ cho mục tiêu cứu nước. Đây chính là lý do tác giả khẳng định vai trò chiến đấu của thơ ca và người làm thơ.Qua đó thể hiện tài năng cùng quan điểm của tác giả.
Câu 5:
- Nhận xét: Bài thơ có kết cấu đối lập giữa hai phần: · Hai câu đầu: nói về thơ xưa · Hai câu sau: nói về thơ hiện đại · Sự đối lập này làm nổi bật tư tưởng nghệ thuật cách mạng của tác giả: thơ ca phải gắn với thời đại, với nhiệm vụ cứu nước. · Lời thơ ngắn gọn, súc tích, vừa mang tính triết lí vừa giàu hình ảnh, thể hiện tầm nhìn và sự sắc sảo của tác giả.
Câu 1 :
Trong truyện ngắn Muối của rừng, Nguyễn Huy Thiệp đã xây dựng một hệ thống lập luận đầy sức thuyết phục về vẻ đẹp của thiên nhiên và sự thức tỉnh bản ngã của con người. Tính thuyết phục trước hết đến từ sự đối lập gắt gao giữa hành động săn bắn đầy sát tính và vẻ đẹp thuần khiết, nhẫn nại của gia đình nhà khỉ. Hình ảnh con khỉ đực sẵn sàng hy sinh thân mình để bảo vệ bạn đời và con khỉ cái đau đớn chăm sóc chồng không chỉ là sự nhân hóa, mà là một minh chứng đanh thép cho sức mạnh của tình yêu thương vượt lên trên bản năng sinh tồn.Tác giả rất tinh tế khi đặt nhân vật ông Diểu vào một quá trình biến đổi tâm lý logic: từ thế chủ động của kẻ đi săn đến sự bối rối, hối lỗi và cuối cùng là sự giải thoát. Sự xuất hiện của loài hoa muối, loài hoa chỉ nở 30 năm một lần,đóng vai trò là biểu tượng kết tinh cho tính thuyết phục của văn bản; nó khẳng định rằng cái đẹp và sự thiện lương luôn tồn tại, dù lặng lẽ nhưng đủ sức thanh lọc tâm hồn con người. Qua ngòi bút sắc sảo, Thiệp đã thuyết phục người đọc rằng cái đẹp không nằm ở chiến lợi phẩm, mà nằm ở sự hòa hợp và lòng trắc ẩn giữa con người với thiên nhiên.
Câu 2 :
Trong dòng chảy hối hả của mạng xã hội, bên cạnh những nội dung giải trí hào nhoáng, thời gian gần đây chúng ta bắt gặp những hình ảnh vô cùng đặc biệt: những nhóm bạn trẻ ngâm mình dưới dòng nước đen kịt, lấm lem bùn đất để vớt rác tại các ao hồ, chân cầu hay bãi biển. Những đoạn clip này không chỉ nhận được hàng triệu lượt yêu thích mà còn thắp lên một ngọn lửa hy vọng về ý thức bảo vệ môi trường của thế hệ trẻ hôm nay.
Thực trạng ô nhiễm môi trường tại Việt Nam từ lâu đã là vấn đề nhức nhối. Những dòng kênh "chết" vì rác thải, những bờ biển ngập tràn túi nilon không còn là điều xa lạ. Trong bối cảnh đó, sự xuất hiện của các nhóm như "Sài Gòn Xanh", "Hà Nội Xanh" hay các chiến dịch "Clean Up" trên khắp cả nước đã tạo nên một làn gió mới. Thay vì chỉ lên tiếng phê phán trên bàn phím hay đứng nhìn từ xa, giới trẻ đã chọn cách dấn thân, trực tiếp đối mặt với sự hôi thối và độc hại để trả lại màu xanh cho thiên nhiên.
Góc nhìn của tuổi trẻ trong vấn đề này trước hết là sự chuyển biến mạnh mẽ từ nhận thức sang hành động. Chúng ta thường nói về "sống xanh", nhưng sống xanh không chỉ là dùng ống hút giấy hay túi vải, mà còn là bản lĩnh dám chạm tay vào những mảng tối của môi trường. Hành động của các bạn trẻ đã đập tan định kiến cho rằng Gen Z là thế hệ "sống ảo", chỉ quan tâm đến bản thân. Nhìn cảnh những chàng trai, cô gái trẻ tuổi miệt mài thu gom từng bao rác dưới cái nắng gay gắt hay trong làn nước bẩn, ta thấy được một tinh thần trách nhiệm cao cả và một tình yêu chân thành dành cho trái đất.
Hơn cả một hành động vệ sinh, đây là một chiến dịch truyền thông đầy sức mạnh. Nhờ vào sức lan tỏa của TikTok, Facebook hay YouTube, những đoạn clip dọn rác đã tạo ra hiệu ứng đám đông tích cực. Nó khiến mỗi người xem phải tự soi rọi lại hành vi của chính mình. Khi thấy một người trẻ dám nhặt lên vỏ chai nhựa mà mình vừa vứt xuống, sự xấu hổ chính là bước đầu tiên của việc thay đổi ý thức. Đó là cách giáo dục trực quan và hiệu quả nhất, đánh động vào lòng trắc ẩn và lòng tự trọng của mỗi cá nhân trong cộng đồng.
Tuy nhiên, nhìn nhận một cách sâu sắc, chúng ta không thể chỉ dựa vào sức lực của các tình nguyện viên để giải quyết vấn đề ô nhiễm. Việc thu gom rác của thanh niên dù đáng trân trọng nhưng vẫn chỉ là giải pháp ở phần ngọn. Để những dòng kênh không còn đen trở lại, cần có sự vào cuộc quyết liệt của các cơ quan chức năng trong việc xử phạt hành vi xả thải, cũng như sự đồng lòng của toàn xã hội trong việc phân loại rác tại nguồn. Tuổi trẻ khơi mào cho một phong trào, nhưng để phong trào trở thành nếp sống bền vững, nó cần sự tiếp sức của cả cộng đồng.
Tóm lại, những clip dọn rác trên mạng xã hội là một minh chứng hùng hồn cho sức mạnh và lý tưởng của tuổi trẻ Việt Nam. Đó là vẻ đẹp của sự tử tế, của khát khao được cống hiến và bảo vệ ngôi nhà chung của nhân loại. Mỗi bao rác được lấy lên không chỉ làm sạch một đoạn sông, mà còn làm sạch đi sự vô cảm trong tâm hồn mỗi người. Hãy để hành động dọn rác không còn là một "trào lưu" nhất thời, mà trở thành một sứ mệnh bền bỉ, để màu xanh của thiên nhiên mãi là màu của sự sống.
Câu 1:
- Luận đề của văn bản trên là: Sự thức tỉnh của nhân vật trước vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên.
Câu 2:
Câu văn thể hiện tính khẳng định trong văn bản:
- Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông Diểu về vẻ đẹp của chính nó.
Câu 3:
Nội dung và nhan đề có mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất: - Nhan đề "Vẻ đẹp của sự hướng thiện" bao quát được nội dung chính của văn bản. Nhan đề đã khái quát được quá trình chuyển biến từ hành động "làm điều ác" là đi săn sang hành động "hướng thiện" là cứu khỉ của nhân vật ông Diểu. Hành động hướng thiện này chính là điểm mấu chốt tạo nên "vẻ đẹp" trong tâm hồn nhân vật mà văn bản muốn nhấn mạnh và phân tíchCâu 4:
- Biện pháp tu từ: Liệt kê "chim xanh, gà rừng, khỉ, sự hùng vĩ của núi non, hang động, sự tĩnh lặng của rừng xanh, sự quấn quít của ba con khỉ đối lập với tiếng súng săn dữ dội, tiếng kêu buồn thảm của khỉ đực, tiếng rú kinh hoàng của khỉ con"
- Tác dụng:
+ Làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho câu văn
+ Nhấn mạnh sự đối lập giữa vẻ đẹp của rừng xanh và khung cảnh đàn khỉ bị bắn
+ Qua đó cho thấy thái độ phê phán của tác giả trước hành động săn bắn động vật hoang dã.
Câu 5:
- Mục Đích : Nhằm khẳng định và ca ngợi vẻ đẹp của sự hướng thiện trong tâm hồn con người và vẻ đẹp của thiên nhiên. Đồng thời, kêu gọi nhận thức về trách nhiệm của con người đối với sự sống và môi trường tự nhiên. - Quan điểm : Quan điểm tiến bộ, nhân văn và tích cực. Người viết tin rằng: Cái đẹp của thiên nhiên có khả năng thức tỉnh lương tri của con người (Quan điểm Thiên nhiên thức tỉnh nhận thức). Sự thay đổi, hướng thiện là một quá trình đáng trân trọng và cần được nhìn nhận một cách nhân ái (Quan điểm Hướng thiện là vẻ đẹp). - Tình cảm : Trân trọng, ngợi ca và yêu mến đối với thiên nhiên và những hành động thiện lương. Thể hiện sự đồng cảm với quá trình chuyển biến nội tâm phức tạp của nhân vật ông Diểu, kết hợp với thái độ phê phán nhẹ nhàng hành động hủy hoại thiên nhiên ban đầu của con người.