NGUYỄN NINH GIANG

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của NGUYỄN NINH GIANG
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

câu 1: Nhân vật "tôi" trong Hoàng tử bé của Antoine de Saint-Exupéry không chỉ là người kể chuyện mà còn là nhân vật trải nghiệm, đại diện cho những người lớn chưa hoàn toàn mất đi tâm hồn trong sáng. Bị rơi máy bay giữa sa mạc Sahara, "tôi" đối mặt với sự sinh tồn, nhưng cuộc gặp gỡ với Hoàng tử bé đã thay đổi hoàn toàn cái nhìn của nhân vật về thế giới. "Tôi" hiện lên là một người nhạy cảm, giàu trí tưởng tượng, trân trọng những điều giản dị mà người lớn thường bỏ qua. Khi vẽ lại con cừu, "tôi" kiên nhẫn hiểu được nhu cầu của Hoàng tử, thể hiện sự đồng điệu tâm hồn. Trái ngược với những người lớn thực dụng mà Hoàng tử bé gặp, nhân vật "tôi" biết trân trọng tình bạn và tình yêu đích thực. Thông qua ngôn ngữ kể chuyện nhẹ nhàng, sâu sắc, "tôi" khẳng định triết lý: "Người ta chỉ nhìn rõ được bằng trái tim". Nhân vật "tôi" chính là cầu nối giữa thế giới trẻ thơ ngây ngô và thế giới người lớn khô khan, truyền tải thông điệp nhân văn về việc giữ gìn sự trong sáng, nhìn cuộc sống bằng cảm xúc thay vì những con số. Câu 2: Trẻ con có khả năng "biến không thành có". Với các em, một chiếc hộp giấy có thể là lâu đài, một cành cây là thanh gươm quý, và một vũng nước mưa là cả đại dương. Đó là khi tâm hồn chưa bị ràng buộc bởi các quy tắc, định kiến hay nỗi lo âu. Họ "tìm thấy tất cả" - niềm vui, sự tò mò và hạnh phúc - ở những điều bình dị, nhỏ bé nhất.

Ngược lại, người lớn thường "chẳng tìm được gì trong tất cả" bởi cuộc sống đã bị lấp đầy bởi áp lực deadline, tiền bạc, trách nhiệm và sự lo toan. Khi đôi mắt bị che mờ bởi những mục tiêu thực tế, chúng ta quên cách chiêm ngưỡng vẻ đẹp của một buổi hoàng hôn, quên lắng nghe một giai điệu hay, hay cảm nhận sự thú vị của một buổi đi dạo. Chúng ta sở hữu nhiều vật chất hơn, nhưng lại thưa thớt đi những niềm vui tinh thần. Là người trẻ đang đứng giữa ranh giới của sự ngây thơ và sự trưởng thành, câu nói này như một tấm gương phản chiếu chính mình. Có những ngày, dù được ở trong điều kiện đủ đầy, tôi vẫn cảm thấy trống trải và mệt mỏi, giống như người lớn "chẳng tìm được gì". Đó là khi tôi đánh mất sự tò mò và nhìn thế giới qua lăng kính tiêu cực. Tuy nhiên, nếu biết dừng lại, sống chậm hơn và nhìn nhận mọi việc với sự hồn nhiên, tôi lại tìm thấy "tất cả" - sự bình yên ngay trong những áp lực hàng ngày. 
Câu 1. Xác định ngôi kể trong văn bản trên.
  • Ngôi kể: Ngôi thứ nhất (người kể chuyện xưng "tôi" - nhân vật phi công khi còn nhỏ và khi đã trưởng thành). 
Câu 2. Kiệt tác của cậu bé trong văn bản là gì?
  • Kiệt tác: Bức vẽ số một, mô tả một con trăn đang tiêu hóa một con voi (người lớn nhìn nhầm thành cái mũ). 
Câu 3. Theo em, vì sao người lớn không hiểu được bức tranh của cậu bé?
  • Người lớn không hiểu bức tranh vì họ thiếu trí tưởng tượng và tư duy sáng tạo của trẻ thơ. Họ chỉ nhìn sự vật qua hình thức bề ngoài, thực dụng và khô khan, thay vì nhìn bằng trái tim hay tâm hồn bay bổng, dẫn đến việc họ chỉ thấy đó là "một cái mũ". 




Câu 1: Hai câu đầu tác giả nêu nhận định về thơ xưa: Thơ xưa nghiêng về yêu cảnh đẹp thiên nhiên; núi, sông, khói, hoa, tuyết, trăng, gió. Thiên nhiên bao la, đa dạng; tác giả chỉ nêu tượng trưng vài cảnh đẹp thiên nhiên. Thiên gia thi là tập thơ chọn lọc trên 200 bài của nhiều nhà thơ Đường - Tống gồm những bài dễ đọc, dễ hiểu, dễ nhớ; vì thế, nó chưa phản ánh đầy đủ cổ thi Trung Quốc. Có nhiều chứng cứ cho thấy Hồ Chí Minh đọc rất nhiều cổ thi Trung Quốc. Nhân đọc tập Thiên gia thi, Người đưa ra một nhận định về cổ thi nói chung chứ không riêng gì những bài thơ in trong Thiên gia thi. Thơ cổ Trung Quốc có nhiều đề tài: vũ trụ, thiên nhiên, xã hội, con người, sinh hoạt, triết lý cuộc sống,…; các đề tài thường không “biệt lập” mà ít nhiều có quan hệ nhau; trong đó đề tài thiên nhiên chiếm tỷ trọng lớn. Phác họa cảnh đẹp thiên nhiên, cảm xúc và giao hòa với thiên nhiên là một trong những nét đặc sắc của cổ thi Trung Quốc. Có người nêu vẻ đẹp thiên nhiên “thuần túy”; có người mượn thiên nhiên để ký thác tâm sự và ý tưởng của mình; có người chán cuộc sống, “lẩn trốn” vào thiên nhiên. Đọc Thiên gia thi là “dịp” để Hồ Chí Minh đưa ra nhận xét về một khía cạnh của cổ thi là nghiêng về yêu cảnh đẹp thiên nhiên. Nhận định này cũng đúng đối với cổ thi Việt Nam.

Nhận định như vậy, Hồ Chí Minh không có ý phê phán thơ tả cảnh đẹp thiên nhiên của cổ thi. Thơ tả cảnh thiên nhiên có nét đẹp riêng, góp phần làm phong phú, đa dạng thơ cổ. Hồ Chí Minh rất mực yêu thiên nhiên, sống chan hòa với thiên nhiên, biết thưởng thức cái đẹp của thiên nhiên, bảo vệ và vun bồi thiên nhiên. Họa sĩ Diệp Minh Châu kể lại hồi ở Việt Bắc: “Có một đêm hai Bác cháu đang nghe đài phát thanh, bỗng Bác gọi: Chú Châu, qua đây! Tôi đến ngồi cạnh Bác, Bác kéo đầu tôi ghé cạnh Bác, trỏ tay khung cửa sổ. Một mảnh trăng liềm vừa nhô ra khỏi núi, tỏa sắc xanh huyền ảo xuống những dãy núi xa”. Có điều kiện, Bác cũng tận hưởng vẻ đẹp của thiên nhiên. Sống, Bác gắn bó với thiên nhiên; qua đời, Bác có nguyện vọng hỏa táng, “tro xương thì tìm một quả đồi mà chôn”, “nên có kế hoạch trồng cây trên đồi” để Bác yên nghỉ cùng thiên nhiên. Đặc biệt, thơ của Bác - cả thơ chữ Hán và thơ tiếng Việt - chứa đựng đầy cảnh đẹp thiên nhiên. Tất nhiên, thiên nhiên trong thơ Hồ Chí Minh có nét mới so với thiên nhiên trong cổ thi. Bác vừa kế thừa cái hay của cổ thi trong đó có cảnh đẹp thiên nhiên, vừa vượt qua, đột phá, tạo ra cái hay mới. Các bài tả cảnh đẹp và cảm xúc trước thiên nhiên như Nguyên tiêu, Lộ thượng, Vọng nguyệt, Tẩu lộ… có thể xem là tiêu biểu cho lòng yêu quý vẻ đẹp của thiên nhiên, cảm xúc, niềm lạc quan yêu đời trước thiên nhiên, dù có trường hợp phải ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt của tù đày. Hai câu sau tác giả đưa ra quan điểm của mình về thơ và trách nhiệm của nhà thơ: Thời đại hiện nay, trong thơ nên có thép; Nhà thơ cũng phải biết xung phong. GS Vũ Khiêu viết: “Thép” trong thơ chính là phẩm chất tư tưởng và thẩm mỹ của thơ. Thơ phải có “thép” nghĩa là phải có tính chiến đấu, phải góp phần cải tạo xã hội và tự nhiên, phải phục vụ cách mạng. Phục vụ cách mạng không phải chỉ là yêu cầu của cách mạng đối với thơ. Đó cũng là yêu cầu của bản thân thơ, nếu thơ muốn thật sự là thơ (Hồ Chí Minh tác giả tác phẩm nghệ thuật ngôn từ, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2003, trang 230). Đúng vậy, đó là yêu cầu của thơ hiện đại. Nhưng nó là một trong những yêu cầu quan trọng chứ không phải tất cả. Tôi tán thành cách hiểu của GS Hoàng Như Mai: “Nên hiểu là nên có thêm thép là cái mà thơ xưa nói chung chưa có. Không nên hiểu thơ nay chỉ là thép, tất cả những gì khác bị loại trừ” (Sđd, trang 510). Mặt khác, thơ là cảm xúc, là sáng tạo; chất “thép” trong thơ cũng thể hiện đa dạng, nhiều mức độ, sắc thái và hòa quyện với các yếu tố khác. Bài thơ Cảm tưởng đọc “Thiên gia thi” ra đời năm 1943 khi chiến tranh thế giới lần thứ hai đã bùng nổ, tạo thời cơ cho các nước thuộc địa giành độc lập. Sự nghiệp cách mạng của đất nước Trung Quốc - đất nước của thơ Đường rực rỡ - rất cần có những nhà thơ, những văn nghệ sĩ cách mạng. Ở nước ta, mùa xuân năm 1941, Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng, xác định giải phóng dân tộc, giành lại độc lập tự do là nhiệm vụ hàng đầu. Lực lượng cách mạng được xây dựng ngày càng mạnh lên cả về chính trị, quân sự, văn hóa. Hồ Chí Minh đánh giá cao vị trí, vai trò của văn nghệ sĩ trong đó có nhà thơ; yêu cầu họ phải tích cực góp phần chiến đấu cho mục tiêu độc lập dân tộc, ấm no hạnh phúc của nhân dân. Sau này, Người tiếp tục khẳng định: “Văn hóa văn nghệ cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”. Người giao nhiệm vụ cho văn nghệ sĩ rất “nặng nề” nhưng đem lại vinh quang cho văn nghệ sĩ rất lớn. Tinh thần “xung phong” của văn nghệ sĩ và chất “thép” trong các tác phẩm của họ góp phần quan trọng vào thắng lợi của hai cuộc kháng chiến, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Nhiều văn nghệ sĩ đã anh dũng hy sinh. Văn nghệ kháng chiến, giải phóng dân tộc mãi mãi xứng đáng là đỉnh cao của nền văn nghệ cách mạng Việt Nam. Tôi chú ý nhiều hai chữ “hiện đại” trong câu thơ thứ ba. Theo thiển ý, câu thơ dịch là “nay” thì mới dịch chữ “hiện” chứ chưa dịch chữ “hiện đại”. Chữ “hiện” có nghĩa là: Nay, hiện nay, hiện thời, hiện đang, bây giờ, trước mắt. Còn “hiện đại” có nghĩa là “thời đại ngày nay”. “Hiện đại” rộng nghĩa hơn “hiện”; “thời đại hiện nay” rộng nghĩa hơn “nay”. Cho nên, hai câu dịch thơ sau có thể chỉnh lại là: Hiện đại trong thơ nên có thép/ Nhà thơ cũng phải biết xung phong. Hai chữ “hiện đại” nói lên điểm xuất phát, căn cứ khách quan quy định sứ mệnh của văn nghệ sĩ, của nhà thơ hiện đại.

Câu 2:

Trong thời đại toàn cầu hóa, việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc là nhiệm vụ cấp thiết, đặc biệt đối với thế hệ trẻ. Văn hóa không chỉ là di sản của quá khứ mà còn là hồn cốt, bản sắc riêng để Việt Nam hòa nhập mà không hòa tan. Ý thức bảo tồn và sáng tạo của người trẻ, thông qua việc học hỏi, quảng bá văn hóa trên các nền tảng số và kết hợp truyền thống với hiện đại, chính là yếu tố quyết định sức sống của dân tộc.  Bản sắc văn hóa dân tộc là tổng hòa các giá trị bền vững, bao gồm phong tục tập quán, lễ hội, nghệ thuật truyền thống, trang phục và ngôn ngữ, phản ánh cốt cách, tâm hồn Việt Nam. Trong bối cảnh hội nhập, việc giới trẻ tiếp thu văn hóa phương Tây là cần thiết, nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ "sính ngoại", lãng quên truyền thống. Vì vậy, việc nhận thức rõ giá trị của văn hóa dân tộc là vô cùng quan trọng. Nhiều bạn trẻ hiện nay đang nỗ lực đưa nghệ thuật truyền thống (như nhạc dân tộc, cổ phục, nghề thủ công) vào cuộc sống hiện đại, tạo ra những sản phẩm sáng tạo thu hút sự quan tâm của cộng đồng. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận thanh niên thờ ơ, chạy theo những giá trị văn hóa ngoại nhập, làm mai một bản sắc dân tộc. Việc "hoà nhập nhưng không hoà tan" yêu cầu người trẻ cần chủ động tìm hiểu, học hỏi về lịch sử, văn hóa dân tộc. Bên cạnh đó, cần phê phán những hành vi sai lệch, sống thiếu trách nhiệm với truyền thống, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và trân trọng các lễ hội, tập quán tốt đẹp.  Tóm lại, thế hệ trẻ là người nắm giữ tương lai của đất nước và là chủ nhân của bản sắc văn hóa. Giữ gìn văn hóa truyền thống không có nghĩa là bảo thủ mà là kế thừa có chọn lọc, phát triển nó lên một tầm cao mới. Hãy trân trọng văn hóa dân tộc, bởi đó là "bộ gen" độc đáo giúp người Việt vững vàng trong thế giới hội nhập. 

Câu 1. Thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật (bài thơ có 4 câu, mỗi câu 7 chữ).
Câu 2. Luật của bài thơ: Luật trắc, vần bằng (phiên âm: mỹ, phong, xung -> mỹ (trắc) không vần, phong (bằng) và phong (bằng) vần với nhau.
Câu 3. Phân tích biện pháp tu từ (Ấn tượng nhất: Ẩn dụ): 
  • Biện pháp: Ẩn dụ "thép" (thiết) và "xung phong".
  • Tác dụng: "Thép" tượng trưng cho sự cứng cỏi, vững chãi, tinh thần chiến đấu kiên cường, cách mạng của người cầm bút. "Xung phong" tượng trưng cho vai trò tiên phong, trực tiếp chiến đấu của thi sĩ. Cả câu thơ "Hiện đại thi trung ưng hữu thiết / Thi gia dã yếu hội xung phong" khẳng định thơ hiện đại cần mang nội dung cách mạng và nhà thơ phải gắn liền với thực tiễn chiến đấu.
    Câu 4. Giải thích tư tưởng:
    Tác giả khẳng định như vậy vì:
  • Bối cảnh thời đại lúc bấy giờ là cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, văn nghệ không thể đứng ngoài cuộc mà phải là một "mặt trận".
  • Thơ ca không chỉ để ngắm cảnh, "thiên ái thiên nhiên" (yêu thiên nhiên) như xưa mà phải có tác dụng cổ vũ tinh thần, mang "thép" cứng rắn để chiến đấu chống kẻ thù.
  • Nhà thơ cũng là một chiến sĩ, cần có ý thức trách nhiệm trước vận mệnh đất nước.
    Câu 5. Nhận xét cấu tứ:
    Bài thơ có cấu tứ chặt chẽ, đối lập/tương phản (cổ - kim).
  • Hai câu đầu (liên hệ/giới thiệu): Nhắc về đặc điểm của "Cổ thi" (thơ xưa) là chú trọng miêu tả thiên nhiên.
  • Hai câu sau (khẳng định/nhấn mạnh): Đề xuất yêu cầu cho "Hiện đại thi" (thơ nay) là phải mang tinh thần thời đại, có tính chiến đấu cao.
  • Cấu trúc này giúp làm nổi bật sự chuyển biến quan niệm văn học từ thưởng ngoạn sang dấn thân. 

Câu 1

Trong câu chuyện “Muối của rừng,” một ngày tươi đẹp, ông Diểu sở hữu một khẩu súng mới, món quà đặc biệt từ con trai của ông. Tâm hồn ông tràn đầy sự háo hức khi ông quyết định rời xa và vào rừng để thử thách bản thân trong một cuộc săn bắn đầy thú vị.

Khi ông bắn trúng một chú khỉ đực, những biến cố bất ngờ đã thay đổi tất cả. Khi con khỉ cái xuất hiện để cứu con khỉ đực, ông bất ngờ bị tràn đầy sự tức giận và lầm tưởng rằng con khỉ cái đang giả dối. Nhưng sau đó, khi con khỉ con cướp súng và lao xuống vực, ông Diểu chứng kiến sự kỳ diệu và nỗi sợ hãi tột cùng. Tiếng kêu đau đớn từ con khỉ đực bị thương đã xé lòng ông, và dù ông vui mừng khi bắt được con khỉ đực trở lại, ông đã động lòng thương và quyết định cứu nó khỏi tình thế nguy kịch trên núi.

Nhận ra sự đoàn kết và tình thương trong thế giới tự nhiên, ông Diểu đã quyết định buông tha con khỉ và rời khỏi đó. Trên đường trở về, ông tìm thấy một loại hoa đặc biệt, chỉ nở một lần mỗi ba mươi năm. Đây là biểu tượng của hy vọng và thịnh vượng trong tương lai, khi con người học cách yêu quý và bảo vệ thiên nhiên.

Viết về cái xấu xa, cái tiêu cực nhưng tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp vẫn luôn lấp lánh chất nhân văn bởi niềm tin vào khát khao hướng thiện, niềm tin vào nhân tính con người trong xã hội đầy khủng hoảng sau chiến tranh và những năm đầu đổi mới. Đó là sức hút của văn NHT, như Nguyễn Khải từng phát biểu: “Văn chương có quyền, nhưng không chỉ miêu tả cái xấu xa, cái ghê tởm, cái hèn nhát. Thanh nam châm thu hút mọi thế hệ vẫn là cái cao thượng, cái tốt đẹp, cái thủy chung”.

Nguyễn Huy Thiệp: “Muối của rừng là cuộc đi săn tìm lẽ sống, lẽ đời. Nó là cuộc đi săn tìm danh vọng và lợi lộc. Tất cả đều trò khỉ. Cuộc sống là những trò khỉ. Cuối cùng mình trần thân trụi cả, tất cả đều về với cát bụi. Cuộc sống là cuộc đi săn tìm thói xấu trong bản thân ta để tự mình trục độc, tự mình thoát thân từ khỉ thành người.”

Cùng với sự phát triển của nền văn minh, nhân loại ngày càng phải đối mặt với những hiểm họa to lớn từ môi trường sinh thái. Nó đe dọa sự sống của con người và tất cả các sinh vật tồn tại trên trái đất này. Đứng trước những hiểm họa ấy, văn chương cũng phải có trách nhiệm lên tiếng. Tác phẩm văn học chủ đề sinh thái cảnh báo hiểm họa môi trường, hướng tới tương lai phát triển bền vững của nhân loại.

Tác phẩm hình thành trong con người nhân sinh quan tiến bộ của chủ nghĩa nhân văn sinh thái: Tư tưởng coi trọng tự nhiên, đối xử bình đẳng với tự nhiên trên tinh thần bè bạn, lối sống hòa hợp với thiên nhiên thay cho chinh phục và chiếm đoạt thiên nhiên; con người phải biết đồng cảm với tự nhiên bị chà đạp, bị thương tổn. Quay về với thiên nhiên, con người sẽ trở về bản tính thiện vốn có.

Phản ánh cuộc đấu tranh của con người bên trong con người để vươn tới cái cao cả, cái tốt đẹp, tác phẩm thể hiện niềm tin vào tương lai tốt đẹp hơn khi con người ý thức được quyền sống của tự nhiên, quyền sống của muôn loài. Hành trình từ chỗ nhận thức về quyền sống của con người đến quyền sống của thiên nhiên là bước tiến dài trong lịch sử phát triển văn hóa nhân loại.

Câu 1:

Nhân vật Thủy Tinh xuất hiện trong cả hai tác phẩm "Sự tích những ngày đẹp trời" và truyền thuyết "Sơn Tinh - Thủy Tinh", nhưng mang đến những hình ảnh và ý nghĩa khác nhau, phản ánh những khía cạnh sâu sắc của tình yêu và thiên nhiên.Trong "Sự tích những ngày đẹp trời", Thủy Tinh được khắc họa như một nhân vật mang đậm tính lãng mạn. Ông là hiện thân của những cơn mưa, làm cho bầu không khí trở nên tươi mát, trong lành. Hình ảnh Thủy Tinh trong tác phẩm này gợi lên sự dịu dàng, êm đềm của tình yêu, với những cảm xúc nhẹ nhàng, thanh thoát. Ông luôn gắn liền với những khoảnh khắc đẹp đẽ của cuộc sống, như là sự thể hiện của niềm vui, sự tươi mới mà thiên nhiên mang lại. Thủy Tinh ở đây không chỉ là một nhân vật mà còn là biểu tượng của hy vọng và tình yêu giữa con người với thiên nhiên.

Ngược lại, trong truyền thuyết "Sơn Tinh - Thủy Tinh", Thủy Tinh lại hiện lên với sức mạnh và quyền lực. Ông là hiện thân của nước, của thiên nhiên hùng vĩ nhưng cũng đầy hiểm nguy. Thủy Tinh trong tác phẩm này không chỉ đơn thuần là người yêu Mĩ Nương mà còn là nhân vật phải chiến đấu với Sơn Tinh để giành lấy tình yêu. Cuộc chiến giữa Thủy Tinh và Sơn Tinh không chỉ là xung đột giữa hai con người mà còn là biểu tượng cho cuộc chiến không hồi kết giữa thiên nhiên và con người. Thủy Tinh trở thành nạn nhân của cuộc chiến này, thể hiện nỗi đau và sự bi kịch khi yêu.

Câu 2:

Nếu tình yêu thương là sợi dây kết nối con người với nhau, là truyền thống đẹp của dân tộc Việt Nam, thì sự hi sinh lại là biểu hiện cao nhất của tình thương ấy. Khi được bao bọc bởi tình yêu, con người sẵn lòng hy sinh lợi ích cá nhân để yêu thương, quan tâm và mang lại điều tốt đẹp nhất cho người khác mà không cần nhận lại điều gì.

Trong cuộc sống, có những đóng góp từ sự hy sinh thầm lặng để nuôi dưỡng tình yêu thương, mầm non của hạnh phúc, tạo nên những trái tim cao cả, quý báu. Sự 'hi sinh' là tận tụy cho người khác, đặt lợi ích cá nhân sau lưng. 'Thầm lặng' là hành động không cần sự công nhận, biết ơn. Sự hy sinh thầm lặng là tấm lòng sẵn sàng cho đi yêu thương, giúp đỡ người khác mà không đòi hỏi sự đền đáp.

Lịch sử dân tộc là bằng chứng rõ ràng cho sự hy sinh thầm lặng của con người. Có bao nhiêu chiến sĩ hi sinh trên chiến trường, cống hiến cả cuộc đời vì đất nước yêu dấu. Dù họ ra đi vô danh nhưng trái tim và tinh thần chiến đấu của họ vẫn là nguồn cảm hứng vô tận. Người mẹ anh hùng nuốt nước mắt khi tiễn con ra trận, chịu đau đớn khi nghe tin con hy sinh. Những thương binh trở về với thân hình tổn thương cũng là minh chứng cho sự hy sinh thầm lặng.

Ngày nay, sự hy sinh thầm lặng vẫn tồn tại trong cuộc sống hàng ngày. Trong gia đình, có bóng dáng của người bà, người mẹ hy sinh cho con cái. Người cha chăm sóc, lao động để nuôi sống gia đình. Có những anh chị em hy sinh để giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn. Ngoài xã hội, có những y bác sĩ, thầy cô giáo hy sinh thời gian và sức lực để giúp đỡ người khác.

Tinh thần hy sinh bắt nguồn từ tình thương và sự tự nguyện, là điều đáng quý. Người được yêu thương sẽ cảm nhận được sự ấm áp và động viên từ những người hy sinh. Người hy sinh cảm thấy hạnh phúc khi biết rằng họ đã mang lại niềm vui và hạnh phúc cho người khác mà không cần nhận lại điều gì. Họ là những người đáng kính trọng và tôn trọng, luôn được mọi người yêu mến và tôn trọng.

Dường như sự hy sinh thầm lặng mang lại nhiều điều tốt đẹp, nhưng tiếc rằng, vẫn còn những kẻ ích kỷ, hẹp hòi, chỉ biết tới bản thân mình mà quên lợi ích chung, sống ích kỷ, tự cho mình. Họ thờ ơ, bàng quan với mọi thứ, sống hạnh phúc trên nỗi khổ của người khác,... Những hành vi đó đáng bị chỉ trích.

Tôi nghĩ rằng, mỗi người chúng ta nên rèn luyện và thể hiện tinh thần hy sinh thầm lặng, dù chỉ qua những hành động nhỏ nhặt trong cuộc sống. Hãy mở lòng, yêu thương và giúp đỡ nhau, bởi 'sống không chỉ là nhận, mà còn là cho'.


Câu 1: thể loại truyện ngắn

Câu 2: Ngôi thứ 3

Câu 3: cốt truyện ly kỳ, hấp dẫn, mở ra một chương mới về truyện truyền kỳ

Câu 4: Đàn em của Thuỷ tinh có sức mạnh nhất định, uy lực mạnh mẽ. Tác dụng: nói lên sức mạnh to lớn của Thuỷ tinh, ca ngợi sức mạnh của chàng

Câu 5: Em ấn tượng với chi tiết khi Mỵ Nương gặp lại Thủy Tinh. Điều đó cho thấy cả hai người đều trân trọng nhau, có tình có nghĩa, Thuỷ Tinh chung thủy sắt son