Nguyễn Thị Thanh Thuý

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Thị Thanh Thuý
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Đoạn trích trong Mãi mãi tuổi hai mươi của Nguyễn Văn Thạc và đoạn trích trong Nhật kí Đặng Thùy Trâm đều viết về tuổi trẻ trong chiến tranh, song mỗi văn bản lại mang sắc thái cảm xúc riêng. Ở Nguyễn Văn Thạc, tuổi hai mươi hiện lên qua những suy tư sâu lắng, day dứt trước mất mát, hi sinh và nỗi ám ảnh chiến tranh. Đó là tiếng nói nội tâm của một người lính trẻ ý thức rất rõ về sự khốc liệt của hiện thực, về cái giá phải trả cho hòa bình, từ đó bộc lộ khát vọng sống, khát vọng cống hiến cho Tổ quốc. Trong khi đó, đoạn trích của Đặng Thùy Trâm lại nhấn mạnh vào sự hi sinh thầm lặng nhưng mãnh liệt của tuổi trẻ. Dù tiếc nuối tuổi xuân, hạnh phúc riêng tư, tác giả vẫn đặt ước mơ cá nhân sau lí tưởng lớn lao là độc lập, tự do của dân tộc. Nếu Nguyễn Văn Thạc thiên về nỗi trăn trở, suy tư, thì Đặng Thùy Trâm nổi bật ở tinh thần kiên cường, ý chí chiến đấu và lòng căm thù giặc sâu sắc. Cả hai đoạn trích đều góp phần khắc họa vẻ đẹp cao quý của thế hệ trẻ Việt Nam trong chiến tranh: sẵn sàng hi sinh tuổi xuân để bảo vệ Tổ quốc, khiến người đọc hôm nay thêm trân trọng hòa bình và ý thức trách nhiệm với cuộc sống của mình.



Câu 1. Xác định thể loại của văn bản

  • Văn bản thuộc thể loại nhật kí.
  • Cụ thể: nhật kí chiến tranh, mang tính phi hư cấu.

Câu 2. Dấu hiệu của tính phi hư cấu trong văn bản

Có thời gian, địa điểm cụ thể: 15.11.1971, chiến trường, Trường Sơn…

  • Nhân vật là con người có thật, người trong cuộc (người lính).
  • Nội dung phản ánh sự kiện, hiện thực chiến tranh có thật.
  • Cảm xúc, suy nghĩ được ghi lại trực tiếp, chân thực, không hư cấu cốt truyện.


Câu 3. Tác dụng của biện pháp tu từ trong câu văn

- Câu văn: “Không, suốt đời ta không quên, ta không quên cảnh em bé miền Nam đập tay lên vũng máu.”


- Biện pháp tu từ: Điệp ngữ (“không quên”).

- Tác dụng:

+ Nhấn mạnh nỗi ám ảnh sâu sắc, day dứt không nguôi.

+ Thể hiện nỗi đau chiến tranh và sự căm phẫn trước tội ác kẻ thù.

+ Gợi xúc động mạnh mẽ cho người đọc.

Câu 4. Hiệu quả của việc kết hợp các phương thức biểu đạt

  • Tự sự: kể lại những sự kiện chiến tranh.
  • Biểu cảm: bộc lộ cảm xúc đau xót, căm phẫn, khát vọng cống hiến.
  • - Nghị luận (đan xen): thể hiện suy nghĩ, lí tưởng sống, trách nhiệm với Tổ quốc.
    - Làm văn bản chân thực, giàu cảm xúc, có chiều sâu tư tưởng, tăng sức thuyết phục.

Câu 5. Suy nghĩ, cảm xúc sau khi đọc đoạn trích

- Cảm xúc:

+ Xúc động, đau xót trước sự tàn khốc của chiến tranh.

+ Khâm phục lí tưởng sống cao đẹp của thế hệ trẻ thời chiến.

- Chi tiết ấn tượng: “Em bé miền Nam đập tay lên vũng máu”

- Lí do:

  • Hình ảnh ám ảnh, chân thực, tố cáo tội ác chiến tranh.
  • Gợi lòng trắc ẩn, yêu hòa bình và trân trọng tuổi trẻ hôm nay.




Câu 1 (2 điểm)

I. Mở đoạn
- Giới thiệu văn bản nghị luận Cái đẹp trong truyện ngắn “Muối của rừng” (Nguyễn Huy Thiệp).

- Khẳng định: văn bản có tính thuyết phục cao.

II. Thân đoạn
- Luận điểm rõ ràng: cái đẹp được thể hiện qua thiên nhiên, con người và sự hòa hợp giữa hai yếu tố.

- Lí lẽ chặt chẽ:
Phân tích vẻ đẹp thiên nhiên rừng núi vừa hùng vĩ vừa bình dị.

Làm rõ sự thức tỉnh lương tri, hướng thiện của nhân vật ông Diều.

- Dẫn chứng tiêu biểu, cụ thể từ truyện (hình ảnh rừng, khỉ, hành động tha mạng).

  • Lập luận logic, mạch lạc; kết hợp phân tích và bình luận hợp lí.
  • Giọng văn giàu cảm xúc, thể hiện thái độ trân trọng thiên nhiên và con người.
  • III . Kết đoạn
    - Khẳng định lại tính thuyết phục của văn bản.
  • - Nêu giá trị: giúp người đọc nhận thức sâu sắc về cái đẹp và trách nhiệm của con người với thiên nhiên.



Câu 1.

Luận đề của văn bản: Cái đẹp trong truyện ngắn “Muối của rừng” thể hiện ở vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên, sự thức tỉnh lương tri và sự hướng thiện của con người, qua đó khẳng định mối quan hệ hài hòa giữa con người và thiên nhiên.

Câu 2. Một câu văn thể hiện rõ tính khẳng định: “Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông Diều.”

Câu 3. Nhận xét mối quan hệ giữa nội dung và nhan đề:

Nhan đề “Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng” khái quát chính xác nội dung văn bản, vì toàn bộ bài viết tập trung làm rõ các phương diện của cái đẹp: vẻ đẹp thiên nhiên, vẻ đẹp hướng thiện và sự hòa hợp giữa con người với thiên nhiên.

Câu 4.

Tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê:

+ Làm nổi bật sự đa dạng, phong phú và sống động của thiên nhiên rừng núi,

+ đồng thời tạo sự đối lập giữa vẻ đẹp yên bình của tự nhiên với tiếng súng săn dữ dội

+ qua đó gợi cảm xúc ám ảnh, thức tỉnh lương tri của nhân vật và người đọc.

Câu 5. Mục đích, quan điểm và tình cảm của người viết

- Mục đích: Làm rõ ý nghĩa của cái đẹp trong truyện Muối của rừng.

- Quan điểm: Đề cao vẻ đẹp thiên nhiên, phê phán hành vi tàn sát, khẳng định con người cần sống hướng thiện, hòa hợp với tự nhiên.

- Tình cảm: Trân trọng, yêu mến thiên nhiên; đồng cảm với sự thức tỉnh lương tâm của nhân vật ông Diều.




Trong dòng chảy lịch sử dân tộc, hình tượng người trí thức luôn gắn liền với trách nhiệm trước vận mệnh quốc gia. Qua nhân vật Đinh Hoàn – một kẻ sĩ hết lòng vì việc nước, tác giả đã khắc họa sâu sắc vẻ đẹp của người trí thức chân chính: sống có lý tưởng, có bản lĩnh và luôn đặt lợi ích của đất nước lên trên lợi ích cá nhân. Từ đó, hình tượng này gợi cho người đọc nhiều suy ngẫm về trách nhiệm của người trí thức đối với đất nước trong mọi thời đại.


Đinh Hoàn hiện lên trước hết là một kẻ sĩ mang trong mình tinh thần yêu nước sâu sắc. Ông không thờ ơ trước thời cuộc rối ren, không chọn lối sống an phận, tránh né trách nhiệm. Ngược lại, Đinh Hoàn luôn trăn trở, đau đáu trước vận mệnh quốc gia, sẵn sàng dấn thân, hi sinh để góp phần giữ gìn non sông. Ở ông, lòng yêu nước không chỉ dừng lại ở suy nghĩ mà được thể hiện bằng hành động cụ thể, bằng sự tận tâm, tận lực vì việc chung. Điều đó cho thấy phẩm chất cao đẹp của một người trí thức chân chính: sống vì đại nghĩa, vì lợi ích của cộng đồng.


Không chỉ có lòng yêu nước, Đinh Hoàn còn là người trí thức có khí phách và bản lĩnh. Trước những khó khăn, hiểm nguy, ông không nao núng, không vì danh lợi hay sự an toàn cá nhân mà đánh mất lý tưởng. Chính sự kiên định ấy đã làm nên giá trị cao quý của người kẻ sĩ. Qua nhân vật Đinh Hoàn, tác giả khẳng định rằng n


Câu 1. Thể loại: Truyện truyền kì.

Câu 2. Đề tài: Người phụ nữ.

Câu 3. - Yếu tố kì ảo:

+ Hồn Đinh Hoàn hiện về gặp gỡ, trò chuyện với phu nhân ở trong mộng.

+ Người dân cầu đảo tại đền thờ phu nhân đều thấy có linh ứng.

- Tác dụng:

+ Làm tăng sức hấp dẫn, li kì cho câu chuyện.

+ Thể hiện sự tôn vinh, lý tưởng hóa nhân vật phu nhân: Bà đã trở thành một tấm gương mẫu mực về đức hạnh, được người đời tôn vinh, trọng vọng. Chính vì thế, sự linh ứng cho thấy niềm tin tưởng và sự lý tưởng hóá mà nhân dân dành cho bà.

Câu 4.