ĐẶNG MINH HÀ
Giới thiệu về bản thân
1. Ảnh hưởng của chế độ thực dân đối với các nước Đông Nam Á
- Chính trị:
- Mất độc lập, chủ quyền; trở thành thuộc địa hoặc nửa thuộc địa.
- Bộ máy chính quyền tay sai được thiết lập để phục vụ thực dân.
- Kinh tế:
- Bị khai thác, bóc lột nặng nề.
- Nền kinh tế phát triển lệ thuộc, mất cân đối (chủ yếu sản xuất nguyên liệu, phục vụ chính quốc).
- Xã hội:
- Xuất hiện các giai cấp, tầng lớp mới (công nhân, tư sản, tiểu tư sản).
- Mâu thuẫn dân tộc gay gắt giữa nhân dân bản địa với thực dân xâm lược.
- Văn hoá – giáo dục:
- Du nhập văn hoá phương Tây.
- Thực hiện chính sách ngu dân, truyền bá tư tưởng phục vụ cai trị.
2. Liên hệ Việt Nam
- Việt Nam bị Pháp xâm lược (1858), trở thành thuộc địa nửa phong kiến.
- Kinh tế bị khai thác thuộc địa, đời sống nhân dân cực khổ.
- Xã hội phân hoá sâu sắc, mâu thuẫn dân tộc trở nên gay gắt.
- Đồng thời, sự xuất hiện của giai cấp công nhân và tư sản đã tạo điều kiện cho phong trào yêu nước phát triển, dẫn tới Cách mạng tháng Tám 1945.
- Thế kỉ XVI:
- Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha xâm nhập Đông Nam Á hải đảo để buôn bán, tìm hương liệu.
- Tây Ban Nha chiếm Phi-líp-pin (1565).
- Thế kỉ XVII – XIX:
- Hà Lan từng bước đánh chiếm và thống trị In-đô-nê-xi-a.
- Anh chiếm Ma-lai-xi-a và Xin-ga-po làm thuộc địa, căn cứ thương mại.
- Cuối thế kỉ XIX:
- Mĩ đánh bại Tây Ban Nha (1898), chiếm Phi-líp-pin.
- Kết quả:
→ Hầu hết các nước Đông Nam Á hải đảo trở thành thuộc địa của thực dân phương Tây.
Câu 1.Trong khổ thơ cuối bài Tương tư, hình ảnh “giậu” và “cau” mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc, góp phần thể hiện nỗi nhớ thầm kín của nhân vật trữ tình. “Nhà em có một giàn giậu / Nhà anh có một hàng cau liên phòng” gợi lên không gian làng quê quen thuộc, gần gũi. “Giậu” thường thấp, mềm mại, gắn với khuôn viên nhỏ bé, kín đáo của người con gái; còn “cau” cao thẳng, mạnh mẽ, thường gắn với hình ảnh người con trai. Hai hình ảnh ấy tuy gần nhau “liên phòng” nhưng vẫn bị ngăn cách bởi ranh giới vô hình, giống như hai con người yêu nhau mà chưa thể đến với nhau. Cách sử dụng hình ảnh dân dã, giàu sắc thái biểu tượng đã thể hiện tinh tế sự tương đồng, gắn bó nhưng cũng đầy cách trở trong tình yêu. Qua đó, nhà thơ bộc lộ nỗi tương tư da diết, chân thành và đậm chất quê của người đang yêu.
Câu 2.
Hành tinh của chúng ta là ngôi nhà chung duy nhất của nhân loại. Vì vậy, ý kiến của Leonardo DiCaprio: “Hành tinh của chúng ta là nơi duy nhất mà chúng ta có thể sống, chúng ta cần bảo vệ nó” là một lời nhắc nhở sâu sắc và cấp thiết. Trái Đất không chỉ cung cấp không khí, nước, lương thực mà còn tạo điều kiện để con người tồn tại và phát triển. Cho đến nay, khoa học vẫn chưa tìm được một hành tinh nào có thể thay thế hoàn toàn Trái Đất cho sự sống của con người. Điều đó cho thấy việc bảo vệ môi trường không phải là lựa chọn, mà là trách nhiệm sống còn.
Tuy nhiên, thực tế hiện nay môi trường đang bị tàn phá nghiêm trọng. Biến đổi khí hậu, băng tan, cháy rừng, ô nhiễm không khí và rác thải nhựa đang đe dọa trực tiếp đến cuộc sống con người. Ở Việt Nam, tình trạng xả rác bừa bãi, ô nhiễm nguồn nước, suy giảm rừng tự nhiên vẫn diễn ra ở nhiều nơi. Những hành động thiếu ý thức ấy đang khiến “ngôi nhà chung” dần bị hủy hoại. Nếu con người tiếp tục khai thác tài nguyên vô tội vạ, hậu quả sẽ là thiên tai khốc liệt, dịch bệnh gia tăng và chất lượng sống suy giảm.
Bảo vệ hành tinh không phải là điều gì quá xa vời mà bắt đầu từ những việc nhỏ bé mỗi ngày: tiết kiệm điện nước, hạn chế sử dụng nhựa, trồng cây xanh, phân loại rác, sử dụng năng lượng tái tạo. Bên cạnh đó, các quốc gia cần chung tay thực hiện những chính sách phát triển bền vững, giảm phát thải khí nhà kính và bảo tồn đa dạng sinh học. Mỗi cá nhân có ý thức sẽ góp phần tạo nên sự thay đổi lớn lao.
Dĩ nhiên, phát triển kinh tế là cần thiết, nhưng không thể đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng bằng mọi giá. Con người phải hướng tới sự phát triển hài hòa giữa kinh tế và sinh thái để đảm bảo tương lai lâu dài cho các thế hệ sau.
Như vậy, bảo vệ hành tinh chính là bảo vệ sự sống của chính chúng ta. Khi mỗi người biết sống có trách nhiệm với môi trường, Trái Đất sẽ vẫn là mái nhà xanh bền vững. Lời nhắn nhủ ấy không chỉ là một quan điểm mà còn là lời cảnh tỉnh đối với toàn nhân loại hôm nay.
Câu 1.
Văn bản được viết theo thể thơ lục bát.
Câu 2.
Cụm từ “chín nhớ mười mong” diễn tả nỗi nhớ da diết, thường trực, đầy ắp, nhớ nhung nhiều và sâu sắc, thể hiện tình yêu tha thiết của nhân vật trữ tình.
Câu 3.
Câu thơ: “Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông.”
- Biện pháp tu từ: Nhân hoá (thôn Đoài “ngồi nhớ”).
- Tác dụng:
- Làm cho cảnh vật mang tâm trạng con người.
- Gợi sự xa cách giữa hai thôn nhưng đầy thương nhớ.
- Thực chất là nỗi nhớ của “anh” dành cho “em”, diễn tả tình yêu kín đáo, đậm chất dân gian.
Câu 4.
Những dòng thơ:
“Bao giờ bến mới gặp đò?
Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau?”
Gợi cảm nhận:
- Thể hiện sự khắc khoải, mong chờ được gặp gỡ.
- Câu hỏi tu từ diễn tả nỗi lo lắng, băn khoăn về sự xa cách.
- Hình ảnh “bến – đò”, “hoa khuê các – bướm giang hồ” gợi sự cách biệt về không gian, thân phận → làm tăng nỗi tương tư, buồn thương.
Câu 5.
Tình yêu là một giá trị thiêng liêng và đẹp đẽ trong cuộc sống. Qua nỗi tương tư tha thiết trong bài thơ, ta thấy tình yêu khiến con người biết nhớ nhung, mong đợi và sống sâu sắc hơn. Tình yêu giúp tâm hồn trở nên nhạy cảm, giàu cảm xúc. Tuy nhiên, yêu thương cũng cần sự thấu hiểu và sẻ chia để không trở thành nỗi cô đơn. Biết trân trọng tình cảm chân thành sẽ làm cuộc sống ý nghĩa hơn. Vì vậy, mỗi người cần sống yêu thương một cách chân thành và đúng đắn.
câu 1
bài làm
Bài thơ “Những giọt lệ” thể hiện sâu sắc nỗi đau đớn và tuyệt vọng của nhân vật trữ tình trước bi kịch tình yêu và số phận. Ngay từ những câu thơ mở đầu, hàng loạt câu hỏi tu từ như “Bao giờ tôi chết đi?”, “Bao giờ tôi hết được yêu vì?” đã bộc lộ tâm trạng dằn vặt, bế tắc và khát khao được giải thoát khỏi nỗi khổ tâm. Những hình ảnh giàu sức gợi như “mắt như tan thành máu”, “khối lòng tôi cũng tơ si” diễn tả nỗi đau lên đến tột cùng, vừa mãnh liệt vừa bi thương. Đặc biệt, hình ảnh ẩn dụ “giọt châu” tượng trưng cho những giọt nước mắt – kết tinh của nỗi buồn, cô đơn và mất mát. Ở khổ thơ cuối, các câu hỏi dồn dập càng nhấn mạnh cảm giác lạc lõng, hoang mang và bị bỏ rơi giữa cuộc đời. Với giọng điệu bi thương, cảm xúc mãnh liệt và nghệ thuật sử dụng câu hỏi tu từ, ẩn dụ đặc sắc, bài thơ đã khắc họa rõ nét thế giới nội tâm đầy đau đớn của cái tôi trữ tình.
câu 2
bài làm
Trong cuộc sống, ý chí và nghị lực là hai yếu tố quan trọng giúp con người vượt qua khó khăn để vươn tới thành công. Không ai sinh ra đã có sẵn con đường bằng phẳng; ai cũng phải đối diện với thử thách, thất bại và cả những lúc tưởng chừng muốn bỏ cuộc. Chính trong những thời khắc ấy, ý chí và nghị lực trở thành điểm tựa tinh thần vững chắc nhất.
Ý chí là sự quyết tâm theo đuổi mục tiêu đến cùng, dù gặp trở ngại. Nghị lực là khả năng đứng dậy sau vấp ngã, không gục ngã trước nghịch cảnh. Người có ý chí, nghị lực sẽ không dễ dàng đầu hàng số phận. Họ xem khó khăn là cơ hội để rèn luyện bản thân, xem thất bại là bài học để trưởng thành. Nhờ vậy, họ từng bước khẳng định giá trị của mình
Thực tế cuộc sống cho thấy, nhiều người thành công không phải vì họ may mắn hơn người khác, mà vì họ bền bỉ hơn người khác. Có những học sinh hoàn cảnh khó khăn nhưng vẫn nỗ lực học tập để đạt thành tích cao. Có những người khuyết tật bằng nghị lực phi thường đã vượt qua giới hạn của bản thân để sống có ích. Những tấm gương ấy nhắc nhở chúng ta rằng: hoàn cảnh có thể không lựa chọn được, nhưng thái độ sống thì hoàn toàn có thể.
Tuy nhiên, trong xã hội hiện nay, vẫn còn không ít người dễ nản lòng, ngại khó, sống dựa dẫm và thiếu mục tiêu rõ ràng. Họ sợ thất bại nên không dám thử sức, sợ vất vả nên không dám cố gắng. Chính sự thiếu ý chí khiến họ bỏ lỡ nhiều cơ hội và tự giới hạn bản thân mình.
Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện ý chí và nghị lực từ những việc nhỏ nhất: kiên trì học tập, không bỏ cuộc khi gặp bài toán khó, dám nhận lỗi và sửa sai khi mắc khuyết điểm. Khi ta biết đặt mục tiêu rõ ràng và quyết tâm thực hiện, mọi trở ngại sẽ trở nên nhẹ nhàng hơn. Ý chí không phải điều gì quá lớn lao; đó là sự cố gắng mỗi ngày, là tinh thần không chùn bước trước thử thách.
Có thể nói, ý chí và nghị lực chính là chìa khóa mở ra cánh cửa thành công. Người mạnh mẽ không phải là người chưa từng thất bại, mà là người không bao giờ chịu khuất phục trước thất bại. Khi mỗi chúng ta nuôi dưỡng cho mình một tinh thần bền bỉ và quyết tâm, chúng ta sẽ đủ bản lĩnh để vượt qua mọi sóng gió của cuộc đời và sống một cuộc đời có ý nghĩa.
câu 1 biểu cảm,miêu tả
câu 2 nỗi buồn /sự đau khổ
câu 3 hình ảnh " những giọt châu"=> âủ dụ của những giọt nước mắt
-hình ảnh gợi sự đau đớn.xót xa tột cùng trông tâm hồn nhà thơ=> thể hiện tâm trạng bi thương , tuyệt vọng của nhân vật trữ tình
câu 4
khổ thơ sd bptt câu hỏi tu từ
tác dụng:nhấn mạnh tâm trạng hoang mang,ddau đớn tuyệt vọng
-thể hiện camr giacs lạc lõng bị bỏ rơi giữa cuộc đời
- tăng sức gợi hình gợi cảm cho câu thơ
câu 5
cấu tứ theo mạch cảm xúc tăng dần , kết thúc bằng cao trào đau đớn bi thương
Câu 1. Điểm nhìn của người kể chuyện là
Người kể chuyện ngôi thứ ba, nhưng đặt điểm nhìn trần thuật bên trong nhân vật Thứ, theo sát dòng ý nghĩ, cảm xúc, tâm trạng của nhân vật.
⸻
Câu 2. Ước mơ của nhân vật Thứ khi còn ngồi trên ghế nhà trường là
Thứ từng nuôi những ước mơ lớn lao:
– Đỗ Thành chung, đỗ Tú tài
– Vào đại học, sang Pháp
– Trở thành vĩ nhân, làm những việc lớn lao để thay đổi đất nước
⸻
Câu 3. Tác dụng của biện pháp tu từ là
Biện pháp tu từ liệt kê kết hợp ẩn dụ (“mốc lên, gỉ đi, mòn, mục ra”):
– Khắc họa sự tàn lụi dần dần của đời sống và nhân cách
– Nhấn mạnh bi kịch “sống mòn”: tồn tại vô nghĩa, bị khinh rẻ từ xã hội, gia đình và chính bản thân
– Gợi cảm xúc xót xa, bế tắc, uất ức cho nhân vật
⸻
Câu 4. Nhận xét về cuộc sống và con người nhân vật Thứ là
– Cuộc sống: nghèo khổ, bế tắc, không lối thoát
– Con người: có lý tưởng, ý thức rõ bi kịch của mình nhưng nhu nhược, thiếu bản lĩnh, không dám vượt thoát số phận
→ Thứ là hình ảnh tiêu biểu của người trí thức tiểu tư sản trước Cách mạng, bị hoàn cảnh vùi dập, rơi vào bi kịch “sống mòn”.
⸻
Câu 5. Suy nghĩ về một triết lí nhân sinh rút ra từ văn bản là
– “Sống tức là thay đổi”.
Con người không nên cam chịu, buông xuôi trước hoàn cảnh; nếu không dám thay đổi, không hành động, con người sẽ rơi vào cảnh sống mòn – tồn tại vô nghĩa.
Câu 1:Văn bản là văn bản thông tin vì có các dấu hiệu
+ Cung cấp thông tin, sự kiện có thật (Intervision 2025, chiến thắng của Đức Phúc, thư chúc mừng của Thủ tướng…).
+Ngôn ngữ khách quan, không nhằm biểu cảm.
+Có số liệu, dẫn chứng, tư liệu rõ ràng.
+Có hình ảnh minh họa giúp tăng tính xác thực.
Câu 2:Văn bản viết về hành trình xây dựng thương hiệu mạnh cho âm nhạc Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, được minh hoạ bằng thành công của ca sĩ Đức Phúc tại Intervision 2025, đồng thời nhấn mạnh vai trò của chất liệu văn hóa truyền thống
Câu 3: Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng là hình ảnh minh họa phần biểu diễn của Đức Phúc.
-Tác dụng:
+Tăng tính chân thực và thuyết phục cho thông tin.
+Giúp người đọc hình dung trực quan về không khí, quy mô tiết mục.
+Làm bài viết thêm sinh động, hấp dẫn, hỗ trợ người đọc tiếp nhận thông tin nhanh hơn
Câu4 :
+Văn bản nêu rõ: chất liệu truyền thống (dân ca, nhạc cụ, hình tượng văn hóa…) chính là yếu tố giúp âm nhạc Việt tạo dấu ấn trong hội nhập quốc tế.
+Nhan đề “Chiếc chìa khóa vàng để hội nhập” mang nghĩa ẩn dụ, ví di sản văn hoá như “chìa khóa” mở cánh cửa đưa âm nhạc Việt ra thế giới.
Câu 5
+ Hiểu tầm quan trọng của chất liệu văn hóa truyền thống trong việc tạo bản sắc cho âm nhạc Việt.
+Nhận thức rằng hội nhập cần sự chuẩn bị kỹ lưỡng, bền bỉ, không thể nóng vội.
+Thấy được vai trò của nghệ sĩ và ngành công nghiệp âm nhạc trong việc quảng bá hình ảnh đất nước.
Ba việc có thể làm để giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc:
Tìm hiểu, học tập và trân trọng các giá trị văn hóa truyền thống (dân ca, nhạc cụ, lễ hội, trang phục…).
Sử dụng tiếng Việt đúng chuẩn, giữ thái độ tôn trọng với các giá trị văn hóa dân tộc.
Ủng hộ và lan tỏa các sản phẩm nghệ thuật Việt khai thác di sản; tiếp nhận văn hóa nước ngoài một cách chọn lọc.