NGÔ NGỌC ANH

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của NGÔ NGỌC ANH
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1

Trong khổ thơ cuối bài “Tương tư” của Nguyễn Bính, hình ảnh “giầu” và “cau” mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Trong văn hoá truyền thống Việt Nam, “miếng trầu là đầu câu chuyện”, trầu – cau gắn liền với tình yêu, hôn nhân và hạnh phúc lứa đôi. Câu thơ “Nhà em có một giàn giầu / Nhà anh có một hàng cau liên phòng” gợi ra sự tương xứng, hoà hợp tự nhiên giữa hai nhà, hai con người. Giầu và cau vốn sinh ra để quấn quýt, kết đôi; cũng như chàng và nàng vốn dành cho nhau. Tuy nhiên, việc đặt chúng ở hai không gian “nhà em” – “nhà anh” lại gợi cảm giác chia xa, cách trở. Câu hỏi cuối “Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?” vừa hóm hỉnh, duyên dáng, vừa ẩn chứa nỗi băn khoăn khắc khoải: liệu tình cảm ấy có được đáp lại? Qua hình ảnh giầu – cau, nhà thơ không chỉ thể hiện nỗi tương tư tha thiết mà còn khắc họa vẻ đẹp mộc mạc, đậm đà bản sắc làng quê trong tình yêu.

Câu 2

Ý kiến của Leonardo DiCaprio: “Hành tinh của chúng ta là nơi duy nhất mà chúng ta có thể sống, chúng ta cần bảo vệ nó” là một lời nhắc nhở sâu sắc và đầy trách nhiệm đối với toàn nhân loại. Đây không chỉ là quan điểm của một nghệ sĩ nổi tiếng mà còn là tiếng nói chung của những người quan tâm đến tương lai Trái Đất.


Trái Đất là ngôi nhà chung duy nhất của con người. Cho đến nay, dù khoa học phát triển mạnh mẽ, con người vẫn chưa tìm được một hành tinh nào có điều kiện sống lý tưởng như Trái Đất. Không khí, nguồn nước, đất đai màu mỡ, hệ sinh thái đa dạng – tất cả tạo nên môi trường sống quý giá mà không nơi nào có thể thay thế. Tuy nhiên, chính con người lại đang từng ngày làm tổn hại ngôi nhà ấy. Biến đổi khí hậu, băng tan, thiên tai cực đoan, ô nhiễm môi trường, suy giảm đa dạng sinh học… là những minh chứng rõ ràng cho sự khai thác quá mức và lối sống thiếu bền vững.


Thực tế cho thấy nhiều quốc gia và tổ chức đã nỗ lực hành động để bảo vệ môi trường: thúc đẩy sử dụng năng lượng tái tạo, hạn chế rác thải nhựa, trồng rừng, giảm khí thải nhà kính. Bản thân Leonardo DiCaprio cũng tích cực tham gia các hoạt động môi trường, kêu gọi cộng đồng nâng cao ý thức. Tuy nhiên, các giải pháp vĩ mô sẽ không thể thành công nếu thiếu sự chung tay của từng cá nhân. Mỗi người có thể bắt đầu từ những việc nhỏ: tiết kiệm điện, nước; hạn chế sử dụng túi ni-lông; phân loại rác; sử dụng phương tiện giao thông công cộng; trồng và bảo vệ cây xanh.


Bảo vệ hành tinh không chỉ là trách nhiệm mà còn là quyền lợi của mỗi chúng ta. Khi môi trường bị hủy hoại, con người là đối tượng chịu hậu quả trực tiếp: sức khỏe suy giảm, thiên tai gia tăng, nguồn tài nguyên cạn kiệt. Ngược lại, khi môi trường được bảo vệ, cuộc sống trở nên trong lành, an toàn và bền vững hơn. Hơn thế nữa, đó còn là trách nhiệm đối với các thế hệ tương lai – những người có quyền được sống trên một hành tinh xanh, sạch và đáng sống.


Tuy vậy, bên cạnh những người có ý thức, vẫn còn không ít cá nhân và doanh nghiệp đặt lợi ích kinh tế lên trên lợi ích lâu dài của môi trường. Điều này đòi hỏi sự vào cuộc mạnh mẽ của pháp luật, chính sách quản lý và sự giám sát của cộng đồng. Phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường; tăng trưởng không thể đánh đổi bằng sự tàn phá thiên nhiên.


Tóm lại, ý kiến của Leonardo DiCaprio hoàn toàn đúng đắn và cấp thiết. Trái Đất là ngôi nhà duy nhất của loài người, và chúng ta không có “hành tinh dự phòng”. Bảo vệ môi trường chính là bảo vệ sự sống của chính mình. Mỗi người hãy ý thức và hành động ngay từ hôm nay để gìn giữ hành tinh xanh – mái nhà chung của nhân loại.

Câu 1.

Văn bản được viết theo thể thơ lục bát.

Câu 2.

Cụm từ “chín nhớ mười mong” diễn tả nỗi nhớ da diết, sâu nặng, luôn thường trực trong lòng nhân vật trữ tình. Cách nói tăng cấp (từ “chín” đến “mười”) nhấn mạnh mức độ nhớ thương dâng đầy, gần như trọn vẹn, không nguôi.

Câu 3.

Câu thơ: “Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông” sử dụng biện pháp nhân hoá (lấy “thôn Đoài”, “thôn Đông” – những địa danh – để chỉ con người đang yêu).


  • Về nội dung:
    Biện pháp nhân hoá giúp diễn tả kín đáo nỗi nhớ của chàng trai dành cho cô gái. Nỗi nhớ ấy được mở rộng ra không gian làng quê, khiến tình cảm riêng tư trở nên tha thiết, sâu đậm mà vẫn ý nhị, duyên dáng. Qua đó, ta cảm nhận được tâm trạng tương tư day dứt, khắc khoải của nhân vật trữ tình.
  • Về hình thức:
    Cách diễn đạt này tạo nên hình ảnh thơ độc đáo, giàu sức gợi, mang đậm màu sắc dân gian. Lối nói vòng, nói tránh làm câu thơ trở nên mềm mại, tinh tế, góp phần thể hiện phong cách thơ mộc mạc mà giàu chất trữ tình của Nguyễn Bính.

Câu 4.

Hai câu thơ:

“Bao giờ bến mới gặp đò?

Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau?”

gợi lên nỗi khắc khoải, mong chờ trong tình yêu. Hình ảnh “bến – đò”, “hoa khuê các – bướm giang hồ” là những ẩn dụ cho đôi lứa yêu nhau. Câu hỏi tu từ cất lên như tiếng thở dài, thể hiện niềm mong mỏi được gặp gỡ, sum vầy nhưng còn nhiều cách trở. Qua đó, ta cảm nhận được nỗi buồn nhẹ nhàng mà da diết của một tình yêu chân thành, trong sáng nơi làng quê

Câu 5.

Từ tâm trạng tương tư tha thiết trong bài thơ, em nhận ra rằng tình yêu có giá trị vô cùng lớn lao trong cuộc sống. Tình yêu làm cho con người biết nhớ, biết mong, biết chờ đợi và sống giàu cảm xúc hơn. Nhờ có tình yêu, tâm hồn ta trở nên tinh tế, nhạy cảm và biết trân trọng những điều bình dị quanh mình. Tuy nhiên, tình yêu cũng cần sự cảm thông và chủ động từ cả hai phía để không trở thành nỗi cô đơn, day dứt. Vì vậy, mỗi người cần biết giữ gìn và vun đắp tình yêu bằng sự chân thành và thấu hiểu.


Câu 1.

Văn bản được viết theo thể thơ lục bát.

Câu 2.

Cụm từ “chín nhớ mười mong” diễn tả nỗi nhớ da diết, sâu nặng, luôn thường trực trong lòng nhân vật trữ tình. Cách nói tăng cấp (từ “chín” đến “mười”) nhấn mạnh mức độ nhớ thương dâng đầy, gần như trọn vẹn, không nguôi.

Câu 3.

Câu thơ: “Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông” sử dụng biện pháp nhân hoá (lấy “thôn Đoài”, “thôn Đông” – những địa danh – để chỉ con người đang yêu).


  • Về nội dung:
    Biện pháp nhân hoá giúp diễn tả kín đáo nỗi nhớ của chàng trai dành cho cô gái. Nỗi nhớ ấy được mở rộng ra không gian làng quê, khiến tình cảm riêng tư trở nên tha thiết, sâu đậm mà vẫn ý nhị, duyên dáng. Qua đó, ta cảm nhận được tâm trạng tương tư day dứt, khắc khoải của nhân vật trữ tình.
  • Về hình thức:
    Cách diễn đạt này tạo nên hình ảnh thơ độc đáo, giàu sức gợi, mang đậm màu sắc dân gian. Lối nói vòng, nói tránh làm câu thơ trở nên mềm mại, tinh tế, góp phần thể hiện phong cách thơ mộc mạc mà giàu chất trữ tình của Nguyễn Bính.

Câu 4.

Hai câu thơ:

“Bao giờ bến mới gặp đò?

Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau?”

gợi lên nỗi khắc khoải, mong chờ trong tình yêu. Hình ảnh “bến – đò”, “hoa khuê các – bướm giang hồ” là những ẩn dụ cho đôi lứa yêu nhau. Câu hỏi tu từ cất lên như tiếng thở dài, thể hiện niềm mong mỏi được gặp gỡ, sum vầy nhưng còn nhiều cách trở. Qua đó, ta cảm nhận được nỗi buồn nhẹ nhàng mà da diết của một tình yêu chân thành, trong sáng nơi làng quê

Câu 5.

Từ tâm trạng tương tư tha thiết trong bài thơ, em nhận ra rằng tình yêu có giá trị vô cùng lớn lao trong cuộc sống. Tình yêu làm cho con người biết nhớ, biết mong, biết chờ đợi và sống giàu cảm xúc hơn. Nhờ có tình yêu, tâm hồn ta trở nên tinh tế, nhạy cảm và biết trân trọng những điều bình dị quanh mình. Tuy nhiên, tình yêu cũng cần sự cảm thông và chủ động từ cả hai phía để không trở thành nỗi cô đơn, day dứt. Vì vậy, mỗi người cần biết giữ gìn và vun đắp tình yêu bằng sự chân thành và thấu hiểu.


Câu 1.

Văn bản được viết theo thể thơ lục bát.

Câu 2.

Cụm từ “chín nhớ mười mong” diễn tả nỗi nhớ da diết, sâu nặng, luôn thường trực trong lòng nhân vật trữ tình. Cách nói tăng cấp (từ “chín” đến “mười”) nhấn mạnh mức độ nhớ thương dâng đầy, gần như trọn vẹn, không nguôi.

Câu 3.

Câu thơ: “Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông” sử dụng biện pháp nhân hoá (lấy “thôn Đoài”, “thôn Đông” – những địa danh – để chỉ con người đang yêu).


  • Về nội dung:
    Biện pháp nhân hoá giúp diễn tả kín đáo nỗi nhớ của chàng trai dành cho cô gái. Nỗi nhớ ấy được mở rộng ra không gian làng quê, khiến tình cảm riêng tư trở nên tha thiết, sâu đậm mà vẫn ý nhị, duyên dáng. Qua đó, ta cảm nhận được tâm trạng tương tư day dứt, khắc khoải của nhân vật trữ tình.
  • Về hình thức:
    Cách diễn đạt này tạo nên hình ảnh thơ độc đáo, giàu sức gợi, mang đậm màu sắc dân gian. Lối nói vòng, nói tránh làm câu thơ trở nên mềm mại, tinh tế, góp phần thể hiện phong cách thơ mộc mạc mà giàu chất trữ tình của Nguyễn Bính.

Câu 4.

Hai câu thơ:

“Bao giờ bến mới gặp đò?

Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau?”

gợi lên nỗi khắc khoải, mong chờ trong tình yêu. Hình ảnh “bến – đò”, “hoa khuê các – bướm giang hồ” là những ẩn dụ cho đôi lứa yêu nhau. Câu hỏi tu từ cất lên như tiếng thở dài, thể hiện niềm mong mỏi được gặp gỡ, sum vầy nhưng còn nhiều cách trở. Qua đó, ta cảm nhận được nỗi buồn nhẹ nhàng mà da diết của một tình yêu chân thành, trong sáng nơi làng quê

Câu 5.

Từ tâm trạng tương tư tha thiết trong bài thơ, em nhận ra rằng tình yêu có giá trị vô cùng lớn lao trong cuộc sống. Tình yêu làm cho con người biết nhớ, biết mong, biết chờ đợi và sống giàu cảm xúc hơn. Nhờ có tình yêu, tâm hồn ta trở nên tinh tế, nhạy cảm và biết trân trọng những điều bình dị quanh mình. Tuy nhiên, tình yêu cũng cần sự cảm thông và chủ động từ cả hai phía để không trở thành nỗi cô đơn, day dứt. Vì vậy, mỗi người cần biết giữ gìn và vun đắp tình yêu bằng sự chân thành và thấu hiểu.


I. Ảnh hưởng của chế độ thực dân ở Đông Nam Á

(Cuối thế kỉ XIX, hầu hết các nước Đông Nam Á bị Anh, Pháp, Hà Lan, Mỹ xâm lược; chỉ Thái Lan giữ được độc lập tương đối.)

1. Kinh tế

• Bị khai thác, bóc lột nặng nề.

• Trở thành nơi cung cấp nguyên liệu, thị trường tiêu thụ.

• Kinh tế lệ thuộc vào chính quốc.

• Xuất hiện yếu tố kinh tế tư bản chủ nghĩa.

2. Chính trị

• Mất độc lập, chủ quyền.

• Thiết lập bộ máy cai trị thực dân.

• Đàn áp phong trào yêu nước.

3. Xã hội

• Phân hóa giai cấp sâu sắc.

• Xuất hiện công nhân, tư sản, tiểu tư sản.

• Mâu thuẫn dân tộc gay gắt.

4. Văn hóa

• Du nhập văn hóa phương Tây.

• Thực hiện chính sách ngu dân.

II. Liên hệ Việt Nam

Việt Nam bị Pháp xâm lược:

• Kinh tế: khai thác thuộc địa, nhân dân bị bóc lột.

• Chính trị: mất chủ quyền, bị chia 3 kỳ.

• Xã hội: xuất hiện giai cấp mới, mâu thuẫn dân tộc sâu sắc.

• Bài học: giữ vững độc lập, phát triển kinh tế tự chủ.

*Quá trình xâm lược của thực dân phương Tây đói với các quốc gia Đông Nam Á hải đảo:

-Phi-líp-pin:

+Thế kỉ XVI tây ban nha xâm lược và cai trị, mở rộng thiên chúa giáo

+Năm 1898: Mĩ thay thế tây ban nha cai trị

-In-đô-nê-si-a:Thế kỉ XVII hà lan xâm lược đến thế kỉ XIX thì hoàn thành xâm lược và cai trị

-Ma-lay-si-a:

+Năm 1511 Bồ đào nha đánh chiếm

+Cuối thế kỉ XVII đầu tk XIX thực dân anh xâm lược

-Sing-ga-po:

+Năm 1819:thực dân anh lập cảng sing-ga-po

+Năm 1924 biến thành thuộc địa của thực dân anh


Câu 1

Bài thơ “Những giọt lệ” của Hàn Mặc Tử là tiếng khóc đau đớn của một tâm hồn khi tình yêu tan vỡ. Ngay từ khổ thơ đầu, những câu hỏi dồn dập “Bao giờ tôi chết đi?”, “Bao giờ mặt nhựt tan thành máu?” đã diễn tả nỗi tuyệt vọng đến tột cùng, khi cái tôi trữ tình cảm thấy cuộc sống mất đi ý nghĩa. Sang khổ thơ thứ hai, nguyên nhân của bi kịch được bộc lộ: “Người đi”. Sự chia lìa ấy khiến nhà thơ cảm nhận như “một nửa hồn tôi mất”, một cách nói giàu tính tượng trưng, cho thấy tình yêu đã trở thành một phần máu thịt của tâm hồn. Đến khổ cuối, hàng loạt câu hỏi tu từ cùng những hình ảnh ẩn dụ như “màu huyết”, “giọt châu” đã khắc họa sâu sắc cảm giác lạc lõng, cô đơn và những giọt nước mắt âm thầm rơi. Bài thơ không chỉ là nỗi đau riêng của một cá nhân mà còn là tiếng lòng chung của những trái tim từng trải qua mất mát trong tình yêu.

Câu 2 (khoảng 600 chữ)

Trong hành trình sống, con người không thể tránh khỏi những khó khăn, thử thách. Chính vì vậy, ý chí và nghị lực trở thành sức mạnh tinh thần vô cùng quan trọng giúp ta vượt qua nghịch cảnh và vươn tới thành công.

Ý chí là khả năng xác định mục tiêu và quyết tâm theo đuổi mục tiêu ấy đến cùng. Nghị lực là sức mạnh tinh thần giúp con người không nản lòng trước gian nan, thất bại. Người có ý chí, nghị lực là người dám đối diện khó khăn, kiên trì hành động và không bỏ cuộc giữa chừng.

Trong thực tế, biểu hiện của ý chí, nghị lực rất đa dạng. Đó có thể là một học sinh không ngừng cố gắng dù học lực ban đầu còn yếu; là một vận động viên miệt mài tập luyện sau chấn thương; hay là những con người vượt lên số phận nghiệt ngã để khẳng định giá trị bản thân. Nhà bác học Thomas Edison từng thất bại hàng nghìn lần trước khi phát minh ra bóng đèn điện. Ông cho rằng mình không thất bại mà chỉ tìm ra những cách chưa đúng. Ở Việt Nam, thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký – người viết chữ bằng chân – là minh chứng sống động cho nghị lực phi thường. Chính ý chí mạnh mẽ đã giúp thầy vượt qua khiếm khuyết cơ thể để trở thành nhà giáo ưu tú.

Tuy nhiên, trong cuộc sống vẫn có những người dễ dàng buông xuôi trước khó khăn, sống thiếu mục tiêu, ngại thử thách. Thái độ đó khiến con người dần đánh mất cơ hội phát triển bản thân, trở nên thụ động và phụ thuộc. Cũng cần phân biệt nghị lực với sự cố chấp mù quáng; ý chí phải đi kèm với nhận thức đúng đắn và phương pháp phù hợp thì mới đem lại kết quả tích cực.

Ý chí và nghị lực không phải tự nhiên mà có, chúng được rèn luyện qua từng thử thách nhỏ trong cuộc sống hằng ngày. Mỗi người cần xác định cho mình mục tiêu rõ ràng, xây dựng kế hoạch cụ thể và không ngừng nỗ lực. Khi gặp thất bại, thay vì chán nản, hãy xem đó là bài học để trưởng thành. Đối với học sinh, nghị lực thể hiện ở sự chăm chỉ học tập, tinh thần tự giác và quyết tâm cải thiện bản thân.

Tóm lại, ý chí và nghị lực là hành trang không thể thiếu trên con đường chinh phục ước mơ. Nhờ có ý chí, con người biết đứng dậy sau vấp ngã; nhờ có nghị lực, ta đủ mạnh mẽ để bước tiếp về phía trước. Mỗi chúng ta hãy rèn luyện bản lĩnh và sự kiên trì để sống một cuộc đời ý nghĩa, không đầu hàng trước nghịch cảnh.

Câu 1

Bài thơ “Những giọt lệ” của Hàn Mặc Tử là tiếng khóc đau đớn của một tâm hồn khi tình yêu tan vỡ. Ngay từ khổ thơ đầu, những câu hỏi dồn dập “Bao giờ tôi chết đi?”, “Bao giờ mặt nhựt tan thành máu?” đã diễn tả nỗi tuyệt vọng đến tột cùng, khi cái tôi trữ tình cảm thấy cuộc sống mất đi ý nghĩa. Sang khổ thơ thứ hai, nguyên nhân của bi kịch được bộc lộ: “Người đi”. Sự chia lìa ấy khiến nhà thơ cảm nhận như “một nửa hồn tôi mất”, một cách nói giàu tính tượng trưng, cho thấy tình yêu đã trở thành một phần máu thịt của tâm hồn. Đến khổ cuối, hàng loạt câu hỏi tu từ cùng những hình ảnh ẩn dụ như “màu huyết”, “giọt châu” đã khắc họa sâu sắc cảm giác lạc lõng, cô đơn và những giọt nước mắt âm thầm rơi. Bài thơ không chỉ là nỗi đau riêng của một cá nhân mà còn là tiếng lòng chung của những trái tim từng trải qua mất mát trong tình yêu.

Câu 2 (khoảng 600 chữ)

Trong hành trình sống, con người không thể tránh khỏi những khó khăn, thử thách. Chính vì vậy, ý chí và nghị lực trở thành sức mạnh tinh thần vô cùng quan trọng giúp ta vượt qua nghịch cảnh và vươn tới thành công.

Ý chí là khả năng xác định mục tiêu và quyết tâm theo đuổi mục tiêu ấy đến cùng. Nghị lực là sức mạnh tinh thần giúp con người không nản lòng trước gian nan, thất bại. Người có ý chí, nghị lực là người dám đối diện khó khăn, kiên trì hành động và không bỏ cuộc giữa chừng.

Trong thực tế, biểu hiện của ý chí, nghị lực rất đa dạng. Đó có thể là một học sinh không ngừng cố gắng dù học lực ban đầu còn yếu; là một vận động viên miệt mài tập luyện sau chấn thương; hay là những con người vượt lên số phận nghiệt ngã để khẳng định giá trị bản thân. Nhà bác học Thomas Edison từng thất bại hàng nghìn lần trước khi phát minh ra bóng đèn điện. Ông cho rằng mình không thất bại mà chỉ tìm ra những cách chưa đúng. Ở Việt Nam, thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký – người viết chữ bằng chân – là minh chứng sống động cho nghị lực phi thường. Chính ý chí mạnh mẽ đã giúp thầy vượt qua khiếm khuyết cơ thể để trở thành nhà giáo ưu tú.

Tuy nhiên, trong cuộc sống vẫn có những người dễ dàng buông xuôi trước khó khăn, sống thiếu mục tiêu, ngại thử thách. Thái độ đó khiến con người dần đánh mất cơ hội phát triển bản thân, trở nên thụ động và phụ thuộc. Cũng cần phân biệt nghị lực với sự cố chấp mù quáng; ý chí phải đi kèm với nhận thức đúng đắn và phương pháp phù hợp thì mới đem lại kết quả tích cực.

Ý chí và nghị lực không phải tự nhiên mà có, chúng được rèn luyện qua từng thử thách nhỏ trong cuộc sống hằng ngày. Mỗi người cần xác định cho mình mục tiêu rõ ràng, xây dựng kế hoạch cụ thể và không ngừng nỗ lực. Khi gặp thất bại, thay vì chán nản, hãy xem đó là bài học để trưởng thành. Đối với học sinh, nghị lực thể hiện ở sự chăm chỉ học tập, tinh thần tự giác và quyết tâm cải thiện bản thân.

Tóm lại, ý chí và nghị lực là hành trang không thể thiếu trên con đường chinh phục ước mơ. Nhờ có ý chí, con người biết đứng dậy sau vấp ngã; nhờ có nghị lực, ta đủ mạnh mẽ để bước tiếp về phía trước. Mỗi chúng ta hãy rèn luyện bản lĩnh và sự kiên trì để sống một cuộc đời ý nghĩa, không đầu hàng trước nghịch cảnh.

Câu 1:

-Điểm nhìn của người kể chuyện trong văn bản là điểm nhìn bên trong

Câu 2:

-Ước mơ của nhân vật Thứ khi ngồi trên ghế nhà trường là:

+Đỗ thành chung, tú tài

+Vào đại học

+Sang tây

+TRở thành vĩ nhân đem đến những thay đổi lớn lao cho đất nước

Câu 3:

-Chỉ ra: Biện pháp tu từ liệt kê kết hợp ẩn dụ:"mốc lên,sẽ gỉ đi,sẽ mòn,sẽ mục ra"

-Tác dụng:

+Những hình ảnh mốc gỉ mòn mục vốn dùng cho đồ vật nhưng lại được dùng để nói về đời người nhấn mạnh sự lùi tàn, huỷ hoại của cuộc sống tinh thần và nhân cách con người

+Thể hiện nỗi tuyệt vọng uất ức của Thứ

+Cách diễn đạt dồn dập liên liên tiếp tạo cho câu văn thêm sinh động gợi cảm

+Qua đó thể hiện giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc tố cáo xã hội bất công và xót xa cho số phận con người

Câu 4:

Cuộc sống và con người của nhân vật Thứ là:

-Cuộc sống: Nghèo túng, bấp bênh, bị cuốn theo hoàn cảnh

-Con người: có ý thức sâu sắc về bi kịch của chính mình , khát vọng thay đổi nhưng không đủ bản lĩnh

Qua đó ta thấy được nhân vật Thứ là hình ảnh tiêu biểu cho tầng lớp trí thức trước Cách mạng, sống giữa lí tưởng cao đẹp và thực tế nghiệt ngã.

Câu 5:

Một triết lí nhân sinh sâu sắc có thể rút ra là: con người chỉ thực sự sống khi lao động, cống hiến và khẳng định được giá trị của mình. Và từ đó nhắc nhở mỗi con người không nên buông xuôi trước nghịch cảnh mà cần phải nuôi dưỡng khát vọng ý thức vươn lên để sống có ý nghĩa



Câu 1:

-Những dấu hiệu cho thấy văn bản trên là văn bản thông tin là:

+ Có phần sapo in đậm,có hình ảnh

+ Cung cấp số liệu thông tin có thật

+ Có trích dẫn nguồn rõ ràng

Câu 2:

-Văn bản trên viết về vấn đề hành trình xây dựng thương hiệu mạnh cho âm nhạc việt nam trên trường quốc tế bàn luận về vai trò của chất liệu truyền thống trong âm nhạc hiện đại, những yêu cầu để phát triển âm nhạc việt trong thời kì toàn cầu hoá

Câu 3:

- Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng: hình ảnh phần biểu diễn của ca sĩ Đức Phúc trên sân khấu intervision 2025

- Tác dụng:

+ tăng tính trực quan giúp người đọc dễ hình dung quy mô sự hoành tráng của tiết mục

+ Làm hco thông tin thuyết phục hơn

+ Gây hứng thú thu hút cho người đọc tạo cảm xúc tự hào về âm nhạc Việt Nam

Câu 4:

- Nhan đề là một cách nói ẩn dụ chỉ rằng âm nhạc Việt Nam trở nên nổi bật trên còn nội dung văn bản cho thấy chìa khoá vàng chính là chất liệu văn hoá truyền thống khi được hoà quyện sáng tạo cùng phong cách hiện đại .Và đó chính là hội nhập mà không hoà tan . Từ đó cho thấy nhan đề bao quát và gợi mở khái quát đúng nội dung toàn văn bản

Câu 5:

-Những thông tin mà nhận thức bổ ích:

+ Hiểu rằng bản sắc văn hoá truyền thống là nguồn tài nguyên quý giá để phát triển âm nhạc hiện đại

+ Nhận thấy tầm quan tọng của việc quảng bá văn hoá Việt Nam trên trường quốc tế

+ Ý thức được cần sự sáng tạo đầu tư trong hội nhập

-Ba việc làm góp phần giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc là:

+ Tìm hiểu học hỏi và trân trọng các giá trị văn hoá truyền thống

+ Ưu tiên sử dụng và lan toả sản phẩm nghệ thuật mang yếu tố việt nam

+ Ứng dụng sáng tạo bản sắc truyền thống