NGUYỄN NHƯ Ý

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của NGUYỄN NHƯ Ý
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:

Có lẽ đúng như Nguyễn Tuân đã từng nói: "Thơ là ảnh, là nhân ảnh. Thơ cũng ở loại cụ thể, hữu hình" bởi trong bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm, hình tượng “li khách” hiện lên đầy ám ảnh, mang vẻ đẹp vừa bi tráng vừa cô đơn. Đó là người ra đi trong một buổi chia tay không ồn ào mà lặng lẽ, thấm đẫm nỗi buồn. “Đưa người, ta không đưa qua sông” – cuộc tiễn biệt không có bến bờ cụ thể, nhưng lại vang lên “tiếng sóng ở trong lòng”, cho thấy sự dậy sóng của cảm xúc. Li khách ra đi mang theo khát vọng lớn lao: “Chí nhớn chưa về bàn tay không / Thì không bao giờ nói trở lại”. Lời thề dứt khoát ấy khắc họa một con người có chí khí, quyết tâm lập nên sự nghiệp, không chấp nhận quay về khi chưa thành công. Ẩn sau dáng vẻ cương nghị là nỗi day dứt sâu kín trước tình thân: mẹ già, chị, em đều hiện lên trong nỗi buồn nghẹn ngào. Dù vậy, người đi vẫn chọn cách “coi như chiếc lá bay”, “coi như là hạt bụi”, tự trấn an để vượt qua sự bịn rịn. Chính sự dằn lòng ấy làm nổi bật vẻ đẹp của li khách: mạnh mẽ mà giàu tình cảm, lý trí mà không vô tình. Hình tượng này tiêu biểu cho lớp thanh niên thời bấy giờ – những con người mang hoài bão đổi thay cuộc đời, dám rời bỏ mái nhà êm ấm để bước vào hành trình nhiều thử thách. Qua đó, bài thơ không chỉ là khúc ca tiễn biệt mà còn là bản hùng ca về chí làm trai và khát vọng lên đường.

câu 2:

"Khi tắt các thiết bị công nghệ, thứ ta nhìn thấy là guơng đen - nơi ta nhìn thẳng vào diện mạo của chính mình". Đó là tinh thần được để cập đến trong "series" phim truyển hình nổi tiếng - Black Mirror năm 2011. Dựa trên ý tuởng khám phá những mặt tối của công nghệ, bộ phim đã đưa ra những cảnh báo về nguy cơ tiểm ẩn khi những tiến bộ ngày một vượt ngoài tẩm kiểm soát của con người. Có thể thấy, trí tuệ nhân tạo đang dần trở thành xu huớng mới trong những năm gần đây, nhiều người hào hứng đón nhận những tác dụng tích cực song thực tế cũng cho thấy, viển cảnh về AI hoàn toàn có thể trở thành một cơn ác mộng khi quá phụ thuộc vào nó. Và cũng từ đây ta thấy được tầm quan trọng của tự lập trong cuộc sống nhất là đối với giới trẻ hiện nay bởi "Ở một thời điểm nào đó trong hành trình của cuộc đời, ta sẽ phải độc lập tự mình bước đi".

Tự lập là khả năng tự mình suy nghĩ, quyết định và hành động mà không phụ thuộc, ỷ lại vào người khác. Đối với tuổi trẻ, tự lập không chỉ là việc tự chăm sóc bản thân trong sinh hoạt hằng ngày mà còn là bản lĩnh chịu trách nhiệm về lựa chọn của mình, dám đối diện với hậu quả và nỗ lực khắc phục sai lầm. Tự lập không đồng nghĩa với tách rời gia đình hay từ chối sự giúp đỡ, mà là biết đứng vững trên đôi chân của mình, chủ động xây dựng tương lai. Khi một người trẻ biết tự đặt mục tiêu, tự học hỏi, tự điều chỉnh bản thân trước khó khăn, đó chính là biểu hiện rõ ràng của tinh thần tự lập.

Sự tự lập giữ vai trò vô cùng quan trọng đối với tuổi trẻ vì nó là nền tảng hình thành bản lĩnh và nhân cách. Người tự lập thường tự tin hơn, linh hoạt hơn trước những thay đổi của cuộc sống. Trong học tập, tự lập giúp học sinh chủ động tìm tòi kiến thức thay vì chờ đợi sự nhắc nhở. Trong công việc, tự lập giúp người trẻ thích nghi nhanh với môi trường mới, biết tự giải quyết vấn đề thay vì trông chờ sự chỉ dẫn liên tục. Quan trọng hơn, tự lập giúp tuổi trẻ rèn luyện ý chí, khả năng chịu áp lực và tinh thần trách nhiệm – những yếu tố quyết định thành công lâu dài. Khi biết tự lập, người trẻ không dễ gục ngã trước thất bại mà xem đó là bài học để trưởng thành.

Thực tế cuộc sống có nhiều tấm gương về tinh thần tự lập đáng khâm phục. Chủ tịch Hồ Chí Minh từ khi còn rất trẻ đã ra đi tìm đường cứu nước với hai bàn tay trắng, tự lao động kiếm sống và học hỏi ở nhiều quốc gia. Hành trình ấy thể hiện ý chí tự lập và khát vọng lớn lao của một người thanh niên. Trên thế giới, doanh nhân Elon Musk cũng là người sớm tự lập, dám rời quê hương để theo đuổi ước mơ khoa học – công nghệ. Ngay trong đời sống thường ngày, nhiều bạn trẻ tự làm thêm để trang trải học phí, tự quản lý thời gian và tài chính của mình. Những minh chứng ấy cho thấy tự lập là bước đệm quan trọng để tuổi trẻ khẳng định giá trị bản thân và đóng góp cho xã hội.

Tuy nhiên, không ít bạn trẻ hiện nay còn thiếu tinh thần tự lập. Có người quen được gia đình bao bọc, lo lắng mọi việc nên hình thành tâm lý ỷ lại, ngại va chạm. Khi gặp khó khăn trong học tập hay công việc, họ dễ nản lòng, tìm cách né tránh thay vì tự tìm hướng giải quyết. Thói quen phụ thuộc lâu dài sẽ làm suy giảm ý chí, khiến người trẻ thiếu kỹ năng sống và khó thích nghi khi bước vào môi trường tự do, cạnh tranh. Nếu không sớm rèn luyện tính tự lập, tuổi trẻ sẽ bỏ lỡ cơ hội phát triển và dễ tụt lại phía sau.

Dẫu vậy, cũng cần hiểu rằng tự lập không có nghĩa là cô lập hay từ chối mọi sự hỗ trợ. Con người sống trong cộng đồng, vì thế việc biết tìm kiếm lời khuyên, hợp tác và học hỏi từ người khác là điều cần thiết. Một người quá đề cao cái tôi, không chịu lắng nghe góp ý, có thể rơi vào tình trạng bảo thủ, sai lầm. Tự lập đúng đắn là biết cân bằng giữa chủ động cá nhân và tinh thần hợp tác, vừa độc lập suy nghĩ vừa tôn trọng sự gắn kết với gia đình và xã hội.

Trong bối cảnh xã hội hiện đại với nhiều cơ hội và thách thức, tự lập càng trở nên thiết yếu. Sự phát triển của công nghệ khiến mọi thứ trở nên thuận tiện, nhưng cũng dễ làm con người phụ thuộc. Tuổi trẻ cần rèn luyện tự lập từ những việc nhỏ như quản lý thời gian, chi tiêu hợp lý, đến những việc lớn hơn như định hướng nghề nghiệp và xây dựng mục tiêu dài hạn. Gia đình và nhà trường nên tạo điều kiện để người trẻ được trải nghiệm, được thử và sai, thay vì bao bọc quá mức. Chỉ khi được va chạm và tự chịu trách nhiệm, tuổi trẻ mới thực sự trưởng thành.

Có thể nói, tự lập là chìa khóa mở ra cánh cửa trưởng thành và thành công của tuổi trẻ. Khi biết đứng vững trên đôi chân của mình, người trẻ sẽ tự tin bước qua thử thách và vững vàng trước sóng gió. Như ai đó từng nói: “Hãy tự thắp đuốc lên mà đi”, mỗi chúng ta cần chủ động soi sáng con đường tương lai bằng chính nỗ lực của bản thân. Chỉ khi tự lập, tuổi trẻ mới thực sự làm chủ cuộc đời mình và viết nên những trang ý nghĩa nhất của hành trình sống.


câu 1:

Rasul Gamzatov đã từng tâm niệm rằng: "Thơ ca bắt nguồn từ những âm vang của tâm hồn". Thật vậy, thi ca muôn đời là nơi bojb lộ những trăn trở, suy nghĩ, thổn thức của trái tim người nghệ sĩ. Bài thơ "Những giọt lệ" của Hàn Mặc Tử được coi như một minh chứng rõ ràng khi toàn bài là tiếng kêu đau đớn của một cái tôi cô đơn trước sự chia lìa của tình yêu. Ngay từ những câu thơ mở đầu, tác giả đã cất lên hàng loạt câu hỏi dồn dập: “Trời hỡi, bao giờ tôi chết đi? / Bao giờ tôi hết được yêu vì…”. Điệp cấu trúc “bao giờ” kết hợp với câu hỏi tu từ diễn tả tâm trạng bế tắc, tuyệt vọng đến tột cùng. Tình yêu không còn là niềm hạnh phúc mà trở thành nỗi ám ảnh day dứt, khiến thi nhân mong được giải thoát khỏi cảm xúc. Hình ảnh “mặt nhựt tan thành máu”, “khối lòng tôi cứng tợ si” mang sắc thái tượng trưng, gợi một thế giới nội tâm dữ dội, đau thương. Mặt trời vốn là biểu tượng của sự sống, nay “tan thành máu” như nhuốm màu bi kịch; trái tim “cứng tợ si” cho thấy nỗi đau đã hóa thành tê dại. Ở khổ thơ tiếp theo, cảm giác mất mát được đẩy lên cao trào: “Người đi, một nửa hồn tôi mất, / Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ.” Lối nói cường điệu “một nửa hồn” nhấn mạnh sự gắn bó sâu sắc giữa cái tôi trữ tình và người yêu. Khi người ra đi, thi nhân như đánh mất chính mình, linh hồn bị chia cắt, vừa trống rỗng vừa hoang mang. Nỗi đau ấy không chỉ là nỗi buồn thông thường mà là sự khủng hoảng hiện sinh: “Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?”. Câu hỏi cho thấy sự mất phương hướng, cảm giác bị bỏ rơi giữa “trời sâu” vô tận. Khổ thơ cuối khép lại bằng hình ảnh giàu tính tượng trưng: “Sao bông phượng nở trong màu huyết, / Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?”. Màu đỏ của phượng hòa với “màu huyết” gợi liên tưởng đến máu và nước mắt, đến nỗi đau thấm sâu vào tâm hồn. “Những giọt châu” vừa là giọt lệ, vừa là kết tinh của đau thương. Bằng hệ thống câu hỏi tu từ, hình ảnh táo bạo và giọng điệu bi thiết, bài thơ đã thể hiện rõ phong cách thơ độc đáo của Hàn Mặc Tử: mãnh liệt, ám ảnh, chan chứa cô đơn và khát khao yêu thương.

câu 2:

Mở đẩu cuốn tiểu thuyết "Tiếng chim hót trong bụi mận gai", tác giả có nhắc đến "Con chim chi hót một lần nhưng tiểng hót hay nhất thể gian, tiểng hót làm cho muôn loài thảng thốt, thượng đế ở trên trời cũng phải läng tai nghe, đó là tiếng hót của loài chim hoạ mi. Nhng chỉ khi nó đâm mình vào bụi gai, chiếc gai dài, nhọn, xuyên qua trái tỉm nhỏ bé của nó thì tiếng hót ấy mới trở nên tuyệt diệu". Đúng vậy, sẽ không có vinh quang nào mà không phải trải qua nỗi đau khổ và hy sinh, nhưng khi vượt lên nỗi đau ấy, nhüng gì bạn có được, làm được sẽ trở nên ý nghĩa và quý báu hơn rất nhiều. Và từ đó ta cũng thấy được tầm quan trọng của ý chí nghị lực trong cuộc sống khi nó giúp t vượt qua những chông gai của đời.

Nghị lực trong cuộc sống là sức mạnh tinh thần giúp con người kiên trì theo đuổi mục tiêu, không chùn bước trước khó khăn, thử thách. Đó không phải là sự cứng đầu hay cố chấp mù quáng, mà là ý chí bền bỉ, dám đối diện với thất bại, biết đứng lên sau vấp ngã. Người có nghị lực hiểu rõ mình muốn gì và sẵn sàng nỗ lực lâu dài để đạt được điều đó. Trong học tập, nghị lực là khi ta không bỏ cuộc trước những bài toán khó hay những lần điểm kém. Trong cuộc sống, nghị lực là khả năng vượt qua nghịch cảnh, giữ vững niềm tin vào tương lai dù hiện tại còn nhiều thiếu thốn. Nghị lực vì thế trở thành nền tảng quan trọng giúp con người hoàn thiện bản thân và chạm tới thành công.

Thực tế cuộc sống đã chứng minh giá trị to lớn của nghị lực. Nhà giáo Nguyễn Ngọc Ký – người bị liệt hai tay từ nhỏ – đã kiên trì tập viết bằng chân để rồi trở thành một tấm gương sáng về ý chí học tập. Trên thế giới, nhà khoa học Stephen Hawking dù mắc bệnh hiểm nghèo khiến cơ thể gần như tê liệt vẫn miệt mài nghiên cứu và đóng góp lớn cho vật lí học hiện đại. Ở Việt Nam, thầy Nguyễn Ngọc Ký là minh chứng sống động cho sức mạnh của nghị lực khi vượt lên khuyết tật để trở thành nhà giáo ưu tú. Những con người ấy không để hoàn cảnh quyết định số phận, mà dùng ý chí để thay đổi cuộc đời mình. Không chỉ những nhân vật nổi tiếng, ngay trong đời thường, biết bao học sinh nhà nghèo vẫn nỗ lực học tập để bước vào giảng đường đại học, bao người lao động miệt mài vượt khó để chăm lo cho gia đình. Tất cả đều cho thấy: nghị lực chính là chiếc chìa khóa mở ra cánh cửa tương lai.

Tuy nhiên, trong xã hội hiện nay vẫn tồn tại không ít người thiếu nghị lực, dễ dàng buông xuôi khi gặp trở ngại. Có những bạn trẻ chỉ vì một lần thất bại đã mất niềm tin vào bản thân, chọn cách né tránh thay vì đối diện. Lại có người sống dựa dẫm, trông chờ vào sự giúp đỡ của gia đình, ngại khó, ngại khổ, thiếu ý thức vươn lên. Thái độ sống ấy khiến con người trở nên yếu đuối, dễ bị hoàn cảnh chi phối và khó đạt được thành công bền vững. Nếu cả xã hội đều thiếu nghị lực, chúng ta sẽ khó tiến bộ, bởi sự phát triển luôn đòi hỏi nỗ lực không ngừng của mỗi cá nhân.

Dẫu vậy, cũng cần hiểu rằng nghị lực không đồng nghĩa với việc bất chấp tất cả để đạt mục tiêu. Có những trường hợp con người cố chấp theo đuổi điều không phù hợp với khả năng hoặc điều kiện thực tế, dẫn đến mệt mỏi và tổn thương. Nghị lực đúng đắn phải đi kèm với sự tỉnh táo, biết đánh giá hoàn cảnh và điều chỉnh kế hoạch khi cần thiết. Đôi khi, dừng lại để thay đổi hướng đi không phải là thiếu ý chí, mà là cách lựa chọn khôn ngoan hơn. Vì thế, nghị lực cần được soi sáng bởi lí trí và mục tiêu tích cực.

Trong bối cảnh xã hội hiện đại với nhiều cơ hội và thách thức đan xen, nghị lực càng trở nên cần thiết. Sự cạnh tranh trong học tập, nghề nghiệp, cùng áp lực từ mạng xã hội khiến nhiều người dễ so sánh bản thân với người khác và nản lòng. Nếu không có nghị lực, ta sẽ dễ bị cuốn theo thất bại hoặc lời chê bai. Ngược lại, người có ý chí mạnh mẽ sẽ biến áp lực thành động lực, biến khó khăn thành bài học quý giá. Gia đình và nhà trường cũng đóng vai trò quan trọng trong việc bồi dưỡng nghị lực cho thế hệ trẻ thông qua việc khuyến khích tinh thần tự lập, rèn luyện thói quen kiên trì và thái độ sống tích cực.

Nghị lực chính là ngọn lửa âm thầm nhưng bền bỉ soi sáng hành trình sống của mỗi con người. Không ai có thể tránh khỏi khó khăn, nhưng người có ý chí sẽ biết biến trở ngại thành bậc thang để bước lên phía trước. Như câu nói quen thuộc: “Nơi nào có ý chí, nơi đó có con đường”, chỉ cần ta không từ bỏ, mọi thử thách rồi cũng sẽ có cách vượt qua. Vì thế, mỗi người trẻ cần rèn luyện cho mình một tinh thần mạnh mẽ, dám ước mơ và dám kiên trì theo đuổi ước mơ ấy. Khi có nghị lực, ta không chỉ chạm tới thành công mà còn trưởng thành hơn trong tâm hồn và bản lĩnh.

câu 1:

Nhân vật trữ tình trong bài thơ là: "ta"- người ở lại tiễn đưa.

câu 2:

Không gian cuộc chia tay là: "con đường nhỏ", "bóng chiều", "hoàng hôn", "mùa hạ sen nở".

Thời gian cuộc chia tay là: buổi chiều, "chiều hôm trước", "sáng hôm nay".

câu 3:

Hiện tượng phá vỡ ngôn ngữ thông thường ở hai câu trên là: "hoàng hôn trong mắt trong"

Tác dụng của hiện tượng là:

Làm chuyển đổi cảm giác, đảo trật tự logic thông thường khiến người đọc chú ý, tăng sức gợi cho lời thơ.

Nhấn mạnh nỗi buồn sâu thẳm khiến hoàng hôn vốn là vẻ đẹp ngoại cảnh cũng thu gọn trong đôi mắt, gợi lên nỗi buồn thương, day dứt trong lòng.

Tác giả làm nổi bật tâm trạng u uất của người ra đi.

câu 4:

Hình ảnh "tiếng sóng" trong câu "Sao có tiếng sóng ở trong lòng" là biểu tượng cho tiếng sóng trong lòng người tiễn đưa thể hiện sự xao động mãnh liệt, dồn dập dậy lên của cảm xúc sau chia tay.

Hình ảnh này thể hiện nỗi buồn day dứt, trăn trở âm thầm nhưng mãnh liệt trong lòng thi nhân.

câu 5:

Qua văn bản "Tống biệt hành" thể hiện tâm trạng của người tiễn đưa ta rút ra được thông điệp: Hãy trân trọng tình thân vì chia ly có thể là mãi mãi:

Cuộc đời luôn có những lựa chọn lớn lao nhưng phía sau mỗi người luôn là tình thân sâu nặng vì thế mỗi người cần biết trân trọng, yêu thương những mỗi quan hệ thân thiết.

Những mối quan hệ bền vững, tốt đẹp có thể giúp ta phát triển toàn diện bản thân, sửa chữa những khuyết điểm, thiếu sót của mình.

Việc trân trọng những mối quan hệ thân thiết sẽ giúp ta không cảm thấy tiếc nuối hối hận khi phải chia xa, cũng giúp cho ta có vòng tròn quâ hệ lành mạnh với mọi người.




câu 1

Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ là: biểu cảm, miêu tả, tự sự

câu 2:

Đề tài của bài thơ là nỗi đau mất mát, chia ly trong tình yêu, thể hiện tâm trạng đau đớn, tuyệt vọng của "tôi" khi người yêu rời xa.

câu 3:

Một hình ảnh mang tính chất tượng trưng là; "một nửa hồn tôi mất".

Hình ảnh này tượng trưng cho sự mất mát về tinh thần khi người yêu ra đi. "Một nửa hồn" cho thấy tình yêu sâu sắc, người kia như một phần không thể thiếu trong đời nên khi người kia rời xa "tôi" rơi vào trjng thái đau thương, bơ vơ.

câu 4:

Trong khổ thơ cuối, tác giả đã sử dụng câu hỏi tu từ và hình ảnh ẩn dụ: "Tôi vẫn còn đây hay ở đây?", "Ai đem bỏ tôi dưới trời sâu?", "bông phượng nở trong màu huyết"-nỗi đau của nhân vật trữ tình, "những giọt châu"-nước mắt.

Tác dụng các bptt này là:

-Tăng sức gợi hình gợi cảm tăng tính bi thương, ám ảnh cho lời thơ

-Nhấn mạnh tâm trạng hoang mang, đau đớn đến tột cùng của nhân vật trữ tình

-Thể hiện tầm quan trọng của tình yêu và vai trò to lớn của người mình yêu đối với tác giả.

câu 5:

Cấu tứ bài thơ vận động theo mạch cảm xúc tăng dần từ nỗi đau dằn vặt sau chia ly đến sự hoang mang tuyệt vọng ở khổ cuối.

Cấu tứ ấy thể hiện mọt màu sắc thơ đặc trưng của Hàn Mặc Tử, mãnh liệt, đầy ám ảnh, giàu tính tượng trưng.

Câu 1.

Bài thơ Những bóng người trên sân ga của Nguyễn Bính gây ấn tượng sâu sắc bởi nội dung nhân văn thấm đẫm nỗi buồn chia ly và nghệ thuật biểu đạt giàu sức gợi. Trước hết, bài thơ tập trung khắc họa đề tài quen thuộc nhưng giàu ám ảnh: những cuộc tiễn biệt nơi sân ga – điểm giao nhau của đoàn tụ và chia xa. Qua hàng loạt hình ảnh đời thường như “hai cô bé”, “một người yêu”, “hai chàng”, “vợ chồng ai”, “một bà già”, nhà thơ đã tái hiện bức tranh chia ly đa dạng, nhiều số phận, nhiều mối quan hệ khác nhau. Mỗi cảnh tiễn đưa đều mang một sắc thái cảm xúc riêng nhưng đều gặp nhau ở nỗi buồn thăm thẳm, đúng như câu hỏi tu từ ở cuối bài: “Buồn ở đâu hơn ở chốn này?”. Về nghệ thuật, nét đặc sắc nổi bật là việc sử dụng điệp ngữ và kết cấu lặp. Cụm từ “Có lần tôi thấy” được lặp lại nhiều lần không chỉ tạo nhịp điệu chậm, đều mà còn gợi cảm giác những cuộc chia ly diễn ra liên tiếp, nối dài bất tận trong đời sống con người. Bên cạnh đó, hình ảnh “bóng” xuất hiện xuyên suốt bài thơ mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc, vừa gợi sự mờ nhòa, xa cách, vừa thể hiện thân phận nhỏ bé, cô đơn của con người trước dòng chảy thời gian. Ngôn ngữ thơ mộc mạc, giàu chất dân gian, kết hợp với giọng điệu trầm buồn, tha thiết đã giúp Nguyễn Bính bộc lộ trọn vẹn niềm cảm thương sâu sắc đối với con người. Nhờ đó, bài thơ không chỉ phản ánh hiện thực chia ly mà còn chạm tới những rung động rất nhân bản trong lòng người đọc.

Câu 2.

Nhà thơ Mỹ Robert Frost từng viết: “Trong rừng có nhiều lối đi / Và tôi chọn lối đi chưa có dấu chân người.” Hai câu thơ ngắn gọn nhưng giàu tính triết lí ấy không chỉ nói về một hành trình trong thiên nhiên mà còn gợi mở suy tư sâu sắc về hành trình của mỗi con người trong cuộc đời. Giữa vô vàn con đường đã được vạch sẵn, việc chủ động lựa chọn một lối đi riêng, dám sáng tạo và khác biệt chính là cách con người khẳng định giá trị bản thân và làm nên ý nghĩa tồn tại của mình.

Ta cần hiểu sự chủ động lựa chọn lối đi riêng là thái độ sống tích cực, tự ý thức về khả năng, ước mơ và mục tiêu của bản thân để đưa ra những quyết định phù hợp, không mù quáng chạy theo số đông. Sự sáng tạo trong cuộc sống là khả năng tìm ra cách nghĩ mới, cách làm mới, dám đổi khác trong tư duy và hành động nhằm tạo nên những giá trị độc đáo. Hai yếu tố này có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ: lựa chọn lối đi riêng là tiền đề, còn sáng tạo là động lực giúp con người bền bỉ đi hết con đường ấy.

Trong đời sống, sự chủ động và sáng tạo biểu hiện ở nhiều phương diện khác nhau. Đó có thể là một học sinh không học tập máy móc mà biết tìm ra phương pháp phù hợp với bản thân; là một người trẻ dám theo đuổi đam mê dù con đường ấy nhiều thử thách; hay là một cá nhân không chấp nhận lối mòn cũ kỹ mà luôn tìm cách đổi mới tư duy, cách sống. Trong văn học, hình tượng những nhân vật dám vượt khỏi khuôn mẫu quen thuộc thường để lại dấu ấn sâu đậm, bởi họ đại diện cho khát vọng tự do, khẳng định cái “tôi” cá nhân giữa những ràng buộc của xã hội.

Việc lựa chọn lối đi riêng và sống sáng tạo mang ý nghĩa vô cùng quan trọng. Trước hết, nó giúp con người phát huy tối đa tiềm năng, không bị hòa tan trong đám đông vô danh. Đồng thời, chính những con đường chưa có dấu chân người đã mở ra bước tiến cho xã hội, thúc đẩy sự phát triển của tri thức và văn minh nhân loại. Trong lí luận văn học, giá trị của một tác phẩm không nằm ở sự sao chép mà ở tiếng nói riêng của người nghệ sĩ; cũng như trong cuộc sống, giá trị con người được đo bằng khả năng sáng tạo và bản lĩnh lựa chọn.

Thực tế đã chứng minh nhiều con người thành công nhờ dám đi con đường khác biệt. Thomas Edison đã thất bại hàng nghìn lần trước khi tạo ra bóng đèn điện; Steve Jobs từng bỏ học để theo đuổi đam mê công nghệ; hay trong văn học Việt Nam, Nam Cao đã chọn viết về những số phận nhỏ bé, bị lãng quên, từ đó tạo nên phong cách hiện thực sâu sắc, giàu tính nhân đạo. Họ đều là minh chứng sống động cho sức mạnh của sự chủ động và sáng tạo.

Tuy nhiên, cần phê phán lối sống thụ động, a dua, chỉ biết đi theo con đường đã được vạch sẵn mà không dám suy nghĩ độc lập. Đáng lo hơn, có người nhầm lẫn giữa “lối đi riêng” với sự lập dị, nổi loạn mù quáng, bất chấp giá trị đạo đức và chuẩn mực xã hội. Một lối đi đúng đắn phải xuất phát từ nền tảng tri thức, trách nhiệm và ý thức đóng góp cho cộng đồng.

Từ đó, mỗi người, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần rút ra cho mình bài học sâu sắc: hãy không ngừng trau dồi tri thức, hiểu rõ bản thân, nuôi dưỡng ước mơ và dũng cảm lựa chọn con đường phù hợp. Sự sáng tạo không phải là điều xa vời, mà bắt đầu từ việc dám nghĩ khác, làm khác, sống có mục tiêu và bản lĩnh.

Tóm lại, thông điệp từ câu thơ của Robert Frost vẫn vẹn nguyên giá trị trong cuộc sống hôm nay. Giữa “khu rừng” rộng lớn của cuộc đời, người biết chủ động lựa chọn lối đi riêng và sống sáng tạo không chỉ tìm thấy chính mình mà còn góp phần làm cho thế giới trở nên phong phú, đa dạng và tiến bộ hơn.



Câu 1. Văn bản được viết theo thể thơ thất ngôn.

Câu 2. Vần và kiểu vần được gieo trong khổ cuối văn bản là:

-Khổ cuối gieo vần "ay".

-Đây là kiểu vần liền, được lặp lại liên tiếp ở cuối các dòng.

Câu 3. Biện pháp tu từ được nhà thơ Nguyễn Bính sử dụng xuyên suốt bài thơ là điệp ngữ: Cụm từ "Có lần tôi thấy" được lạp lại năm lần ở đầu mỗi đoạn và "những" được lặp lại năm lần.

Tác dụng của biện pháp tu từ này là"

-Tạo nhịp điệu, sự cân đối đồng thời tăng sức gợi hình, gợi cảm cho văn bản.

-Nhấn mạnh sự lặp lại của những cảnh chia ly, từ đó làm nổi bật nỗi buồn lan tỏa của cảm xúc mỗi người ở sân ga.

-Nói lên số phận con người cô đơn, lẻ bóng chỉ có một mình. qua đó, tác giả thể hiện sự đòng cảm sâu sắc với những số phận ấy.

-Nhắc nhở mỗi người về tầm quan trọng của tình yêu trong cuộc sống.

Câu 4. Đề tài: Cảnh chia ly ở sân ga, số phận con người trong cuộc sống.

Chủ đề: Bài thơ thể hiện nỗi buồn thấm thía của những cuộc tiễn biệt trong đời. qua đó bộc lộ sự cảm thông sâu sắc và nhấn mạnh về giá trị tình thương trong cuộc sống.

câu 5. Yếu tố tự sự trong bài thơ thể hiện qua việc kể lại những lần "tôi thấy": "đôi bé gái; người yêu; bạn bè; vợ chồng; mẹ tiễn con; người đi lẻ loi.

Tác dụng của yếu tố tự sự là:

-Tạo cảm giác chân thực, gần gũi, giúp người đọc như cùng"tôi" trải nghiệm chứng kiến các câu chuyện.

-Qua lời kể khách quan, chân thực người đọc cảm nhận sâu sắc hơn nỗi buồ, cô đơn của từng nhân vật. Từ đó, độc giả sẽ hiểu hơn về vai trò của tình yêu thương trong cuộc sống.

-Thể hiện tư tưởng, triết lý nhân sinh sâu sắc của bài rằng sự chia ly, nỗi buồn là điều tất yếu củ cuộc sống mà ai cũng phải trải qua.

Câu 1.

Trong văn học hiện thực, nhân vật không chỉ là “con người nghệ thuật” mà còn là tấm gương phản chiếu hiện thực xã hội và những bi kịch thân phận. Nam Cao – cây bút bậc thầy về phân tích tâm lý – đã xây dựng nhân vật Thứ như một điển hình tiêu biểu cho người trí thức tiểu tư sản trước Cách mạng, sống mòn mỏi giữa nghèo túng và bế tắc. Ở đoạn trích, Thứ hiện lên với một trái tim đầy khát vọng nhưng lại bị thực tại phủ bóng u ám. Anh vốn có học thức, có lý tưởng làm nghề giáo tử tế, muốn sống có ích cho đời. Thế nhưng những đồng lương ít ỏi, cảnh sống chật vật, sự vô nghĩa của công việc và gánh nặng cơm áo khiến Thứ luôn chìm trong cảm giác bất lực và thất vọng. Nam Cao đặc biệt tinh tế khi miêu tả những rung động nhỏ nhất trong tâm lý nhân vật: sự tủi hổ khi nhìn thấy sự mục ruỗng của đời mình, sự giằng xé giữa ý muốn đổi thay và sức ì của hoàn cảnh. Tuy vậy, trong Thứ vẫn le lói một phẩm chất đẹp: lòng tự trọng, niềm tin mong manh vào giá trị của học vấn và ước muốn giữ lại phần người giữa cuộc sống ngột ngạt. Bi kịch của Thứ không nằm ở việc anh yếu đuối, mà ở chỗ xã hội tàn nhẫn đã bào mòn những con người vốn tốt đẹp, khiến họ đánh mất ước mơ mà vẫn phải tiếp tục tồn tại. Bằng nhân vật Thứ, Nam Cao gửi gắm nỗi đau xót trước lớp trí thức nghèo: có hoài bão nhưng bị hiện thực oan nghiệt đẩy vào cảnh sống cầm chừng, tàn lụi từng ngày.

Câu 2.

Trong dòng chảy bất tận của cuộc sống, con người luôn tìm kiếm cho mình một điểm tựa để tồn tại, và một trong những điểm tựa mạnh mẽ nhất chính là ước mơ. Ước mơ làm nên sức sống, tạo nên đôi cánh để tuổi trẻ bay lên khỏi những giới hạn của hoàn cảnh. Gabriel Garcia Marquez đã từng khẳng định: “Không phải người ta ngừng theo đuổi ước mơ vì họ già đi mà họ già đi vì ngừng theo đuổi ước mơ.” 

Ước mơ là điều tốt đẹp mà con người mong đạt tới, là mục tiêu thúc đẩy ta phấn đấu mỗi ngày. “Già đi” trong ý của Marquez không phải sự già nua thể xác, mà là sự cằn cỗi, nguội lạnh trong tâm hồn khi con người đánh mất nhiệt huyết. Tuổi trẻ vì thế không phải một giai đoạn sinh học mà là trạng thái tinh thần. Khi còn biết ước ao, còn dám nghĩ dám làm, ta vẫn giữ được tuổi trẻ của riêng mình. Nhưng nếu ngừng mơ ước, sống buông xuôi hoặc an phận, thì dù còn ở lứa tuổi thanh xuân, ta cũng đã “già” trong tâm hồn.


Tuổi trẻ gắn liền với những ước mơ đẹp đẽ và phong phú. Đó có thể là ước mơ nghề nghiệp – trở thành bác sĩ, kỹ sư, nhà khoa học, nghệ sĩ; là mong muốn đóng góp điều gì đó tốt đẹp cho gia đình và xã hội. Tuổi trẻ giàu khát vọng khám phá, sẵn sàng thử thách, không ngại thất bại. Một bạn trẻ biết đặt mục tiêu và bền bỉ theo đuổi sẽ luôn chủ động học tập, rèn luyện kỹ năng, mở rộng hiểu biết. Bên cạnh đó, tuổi trẻ còn thể hiện ở tinh thần dấn thân, dám thay đổi, dám bước ra khỏi vùng an toàn. Những biểu hiện ấy cho thấy sức mạnh của ước mơ không nằm ở việc nó lớn hay nhỏ, mà ở chỗ người trẻ có dám nuôi dưỡng nó hay không.

Đối với mỗi người, ước mơ là động lực để ta hoàn thiện bản thân mỗi ngày. Nhờ có ước mơ, ta biết mình phải làm gì, phải cố gắng đến đâu và không dễ dàng bỏ cuộc trước khó khăn. Ước mơ tạo nên định hướng và mục đích sống, giúp ta tránh việc lãng phí tuổi trẻ vào những điều vô nghĩa. Khi theo đuổi ước mơ, con người trưởng thành hơn: biết lập kế hoạch, biết chịu trách nhiệm, biết bền bỉ và tự tin vượt qua thử thách. Ước mơ cũng mở ra hy vọng – một thứ ánh sáng ấm áp giúp ta không bị nhấn chìm bởi những nỗi buồn và thất bại.

Ước mơ của tuổi trẻ cũng chính là nguồn lực phát triển của xã hội. Một thế hệ trẻ giàu khát vọng sẽ tạo ra nhiều đổi mới, sáng tạo, đóng góp vào sự tiến bộ của đất nước. Chính những bạn trẻ dám nghĩ, dám làm là người tạo ra doanh nghiệp mới, nghiên cứu khoa học mới, ý tưởng nhân văn mới. Các quốc gia phát triển mạnh mẽ đều dựa vào sức mạnh của lớp trẻ mang tinh thần khai phá và ước mơ lớn. Vì thế, khi những ước mơ được tôn trọng và nuôi dưỡng, xã hội sẽ được tiếp thêm năng lượng tích cực, mới mẻ và bền vững.

Có rất nhiều tấm gương trẻ truyền cảm hứng. Nhiều nhà khoa học trẻ ở Việt Nam đã đạt giải quốc tế nhờ đam mê nghiên cứu từ những năm phổ thông. Những vận động viên trẻ như Nguyễn Huy Hoàng, Trần Hưng Nguyên khẳng định năng lực bằng nỗ lực không ngừng. Ở lĩnh vực sáng tạo, nhiều bạn trẻ thành lập dự án xã hội, khởi nghiệp xanh, góp sức giúp cộng đồng. Trên thế giới, những nhân vật như Malala Yousafzai – cô gái đấu tranh cho quyền học tập – cho thấy tuổi trẻ có thể thay đổi thế giới khi biết theo đuổi điều mình tin tưởng. Tất cả họ đều chứng minh: tuổi trẻ và ước mơ là hai nguồn năng lượng không thể tách rời.

Tuy nhiên, không phải ai cũng biết trân trọng ước mơ. Nhiều bạn trẻ sống buông thả, lười biếng, chỉ chạy theo sự hưởng thụ trước mắt mà bỏ quên lý tưởng lâu dài. Có người ngại khó, sợ thất bại, nên không dám bắt đầu dù bản thân có tài năng. Một số khác dễ bị tác động bởi thành công “nhanh – gấp – dễ”, dẫn đến chọn đường tắt, bỏ qua rèn luyện. Những biểu hiện ấy khiến tuổi trẻ trở nên nhạt nhòa và đánh mất giá trị.

Bên cạnh đó, cũng cần nhận ra rằng không phải ước mơ nào cũng dễ dàng thành hiện thực. Có những bạn trẻ phải tạm gác ước mơ vì hoàn cảnh gia đình, bệnh tật hay điều kiện kinh tế. Nhưng điều đó không đồng nghĩa họ “già đi”. Miễn là còn giữ trong lòng khát vọng tốt đẹp, còn cố gắng từng chút một để tiến gần hơn tới mục tiêu, họ vẫn đang sống một tuổi trẻ trọn vẹn. Ước mơ có thể thay đổi theo thời gian, nhưng tinh thần theo đuổi chúng mới là điều đáng quý.

Mỗi bạn trẻ cần hiểu rằng ước mơ không tự đến cũng không tự thành. Để giữ tuổi trẻ trong chính mình, hãy đặt mục tiêu rõ ràng, rèn luyện bản thân và nuôi dưỡng sự kiên trì. Cần chủ động học tập, biết tự đánh giá khả năng, chấp nhận thử thách và không nản chí khi thất bại. Đồng thời, hãy sống có trách nhiệm, biết lắng nghe, biết chọn môi trường tích cực để phát triển. Quan trọng nhất, hãy giữ trong tim ngọn lửa đam mê – điều giúp ta luôn trẻ, luôn mạnh mẽ và luôn hướng về tương lai.

Như Marquez đã nói, con người “già đi” không phải vì thời gian mà vì đánh mất ước mơ. Bởi vậy, tuổi trẻ chỉ thật sự có ý nghĩa khi ta dám mơ ước và dám thực hiện. Mỗi bạn trẻ hãy coi ước mơ như kim chỉ nam để sống hết mình, đóng góp cho bản thân, cho gia đình và cho xã hội. Khi còn giữ được khát vọng trong tim, ta mãi mãi là những người trẻ trên hành trình chinh phục cuộc đời.



Câu 1.

Nhà văn Nguyễn Minh Châu từng khẳng định: “Văn học là hành trình đi tìm hạt ngọc ẩn giấu trong tâm hồn con người.” Truyện ngắn Sao sáng lấp lánh của Nguyễn Thị Ấm là minh chứng rõ nét cho quan niệm ấy khi khắc họa vẻ đẹp lặng thầm, nhân hậu và giàu tình người của những người lính trong chiến tranh bằng nhiều phương diện nghệ thuật đặc sắc. Trước hết, truyện gây ấn tượng bởi nghệ thuật kể chuyện giản dị mà giàu sức gợi, chọn điểm nhìn của người đồng đội – vừa chân thật, vừa xúc động, giúp câu chuyện thấm đượm chất hồi ức. Giọng kể đầm ấm, khi tếu táo đời lính, khi lặng lại trước mất mát, khiến cảm xúc lan tỏa tự nhiên. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng chi tiết biểu tượng rất tinh tế, đặc biệt là hình ảnh “đôi mắt sáng lấp lánh như sao” và lá thư chỉ vỏn vẹn một dòng. Những hình ảnh ấy vừa cụ thể, vừa tượng trưng cho khát vọng yêu thương và nỗi cô đơn sâu kín của người lính trẻ. Nghệ thuật đối lập cũng được khai thác hiệu quả: giữa mộng mơ tuổi đôi mươi và hiện thực chiến trường khốc liệt, giữa đêm mưa rừng ấm tình đồng đội và khoảnh khắc chia biệt. Tất cả tạo nên một truyện ngắn giàu chất điện ảnh, lắng đọng chất thơ, qua đó tôn vinh vẻ đẹp trong trẻo, nhân ái của người lính Việt Nam – những “vì sao sáng” giữa bầu trời chiến tranh.

Câu 2.

Trong hành trình trưởng thành của mỗi con người, không ai có thể đi hết con đường chỉ bằng sức lực của riêng mình. Nhà văn M. Gorki từng nói: “Nơi lạnh nhất không phải là Bắc Cực mà là nơi không có tình yêu thương.” Câu nói gợi ta suy ngẫm về vai trò của điểm tựa tinh thần – nguồn sức mạnh vô hình nhưng vô cùng bền bỉ giúp con người đứng vững, vượt qua thử thách và hướng đến những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống.

Điểm tựa tinh thần là những giá trị, niềm tin, con người, hay lý tưởng mà mỗi cá nhân dựa vào để cảm thấy mạnh mẽ hơn. Đó có thể là gia đình, bạn bè, một ước mơ, một lời động viên, hay thậm chí là ký ức đẹp nâng đỡ ta mỗi khi mệt mỏi. Khác với điểm tựa vật chất, điểm tựa tinh thần không nhìn thấy nhưng ta cảm nhận được qua cảm giác bình yên, bản lĩnh và hy vọng.

Điểm tựa tinh thần quan trọng bởi nó giúp con người định hướng cảm xúc, củng cố ý chí và vượt qua khủng hoảng. Trong cuộc sống vốn nhiều áp lực, chỉ cần một điều để tin, một người để nhớ hay một mục tiêu để cố gắng, ta sẽ có thêm nội lực để không chùn bước. Điểm tựa tinh thần không thay ta hành động, nhưng nó tiếp sức để ta tin rằng mình có thể hành động.

Trước hết, điểm tựa tinh thần giúp con người giữ vững niềm tin vào bản thân, nhất là trong những giai đoạn tưởng như muốn gục ngã. Những người có điểm tựa tinh thần thường có khả năng hồi phục mạnh mẽ hơn sau thất bại. Thứ hai, điểm tựa tinh thần nuôi dưỡng tình cảm và sự gắn kết, bởi đằng sau mỗi điểm tựa luôn là một mối quan hệ hay giá trị đáng trân trọng. Cuối cùng, điểm tựa tinh thần giúp con người sống tích cực, nhân ái và giàu nghị lực, bởi khi cảm nhận được yêu thương, ta sẵn sàng trao gửi yêu thương.

Trong chiến tranh, người lính có thể chịu đói khát, gian khổ, thậm chí đối mặt với cái chết, nhưng nhờ điểm tựa tinh thần – tình đồng đội, tình yêu quê hương, niềm hy vọng về hòa bình – họ đã kiên cường chiến đấu. Trong đời sống hôm nay, không ít học sinh đã vượt qua hoàn cảnh khó khăn nhờ tin vào lời dạy của cha mẹ hoặc khát vọng đổi đời thông qua học tập. Vận động viên Hoàng Xuân Vinh từng chia sẻ rằng niềm tin vào Tổ quốc và sự ủng hộ của gia đình chính là điểm tựa tinh thần giúp anh giành HCV Olympic. Những dẫn chứng ấy cho thấy con người có thể mạnh mẽ đến nhường nào khi có một điểm tựa phía sau.

Tuy vậy, cũng có người sống dựa quá nhiều vào điểm tựa tinh thần đến mức ỷ lại, không dám tự đứng trên đôi chân của mình. Một số khác lại chọn những điểm tựa sai lầm, như dựa vào sự nuông chiều mù quáng, vào kỳ vọng ảo tưởng, dẫn đến thất vọng và mất phương hướng. Vì thế, điểm tựa tinh thần chỉ thực sự có giá trị khi ta lựa chọn đúng và biết tự cân bằng giữa dựa vào và tự lập.

Từ những suy ngẫm trên, mỗi người cần hiểu rằng điểm tựa tinh thần không phải là sự lệ thuộc, mà là động lực để trưởng thành. Ta cần trân trọng những điểm tựa đang nâng đỡ ta: gia đình, thầy cô, bạn bè, những lý tưởng tốt đẹp. Đồng thời, ta phải rèn luyện bản lĩnh, ý chí và khả năng tự đứng vững trước khó khăn. Quan trọng hơn, mỗi người hãy cố gắng trở thành điểm tựa tinh thần cho người khác, bởi cho đi sự nâng đỡ cũng chính là cách khiến cuộc sống trở nên ý nghĩa hơn.

Điểm tựa tinh thần giống như ngọn lửa nhỏ âm ỉ thắp sáng trong tim mỗi con người. Nhờ có nó, ta biết mình không đơn độc, biết rằng cuộc đời dù thử thách đến đâu vẫn luôn có nơi để trở về, có lý do để tiếp tục cố gắng. Vì vậy, trân trọng điểm tựa tinh thần và nuôi dưỡng nó chính là cách để ta sống bền bỉ, nhân ái và hạnh phúc hơn trên hành trình của mình.




Câu 1. Điểm nhìn của người kể chuyện trong văn bản là điểm nhìn toàn tri.

Câu 2. Ước mơ của nhân vật Thứ khi ngồi trên ghế nhà trường là:

-"Y sẽ đỗ thành chung, y sẽ đỗ tú tài, y sẽ vào đại học đường, y sang Tây"

-"Y sẽ thành vĩ nhân đem những sự thay đổi lớn lao đến cho xứ sở mình"

Câu 3. Trong đoạn trích trên tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ liệt kê: "sẽ mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục ra ở một xó nhà quê"

Tác dụng của biện pháp liệt kê là:

- Nhấn mạnh về nỗi lo của Thứ về cuộc đời mình trong tương lai sẽ trở nên mục rữa, bất hạnh, không có ý nghĩa mà chỉ để tồn tại mọt cách vô nghĩa.

- Nhà văn đã khắc họa nên bi kịch tinh thần của Thứ, từ một con người có hoài bão, khát vọng lại trở thành kẻ bất lực, buông xuôi trước số phận.

- Nam Cao bày tỏ nỗi niềm nuối tiếc, xót xa cho số phận những người trí thức nghèo. Đồng thời, phản ánh, lên án hiện thực cay đắng, bất công của tầng lớp trí thức trong xã hội cũ.

Câu 4. Cuộc sống và con người của nhân vật Thứ được thể hiện trong đoạn trích là: Thứ sống trong hoàn cảnh nghèo túng, mất việc, tương lai mịt mờ, tâm trạng tuyệt vọng. Từ một con người có hoài bão, ước mơ cao đẹp nhưng đứng trước sự bất công của thời cuộc anh dần đanh mất chính mình.

Qua đây ta thấy Thứ là người trí thức tốt có nhiều ước mơ, khát vọng lớn lao cho cuộc đời nhưng lại bị "áo cơm ghì sát đất". Cuộc sống và con người nhân vật Thứ đã nói lên bi kịch của tầng lớp tiểu trí thức trc cách mạng tháng 8.

Câu 5. Từ văn bản trên, viết về nhân vật Thứ từ một người trí thức có khát vọng, ước mơ của riêng mình trở thành một người mất niềm tin, hoài nghi chính mình, đầu hàng trước số phận ta rút ra được triết lí nhân sinh là: Sống là phải dám thay đổi.

- Con người thường dễ bị giam hãm, nản lòng trước những vùng an toàn mà ta tự tạo nên cho bản thân mình. Chính bởi vậy mà chúng ta dần trở nên thiếu sức sống, sự hứng thú đối với cuộc đời.

- Mỗi người đều có tiềm năng vô hạn để ta phát triển bản thân nhưng việc lo sợ, e ngại trước những biến đổi mới của cuộc đời khiến ta chần chừ, không dám bước ra khỏi vùng an toàn của chính mình.

- Người biết cách thay đổi thích ứng với thời đại sẽ luôn đạt được nhiều thành công trong cuộc sống bởi họ biết cách nắm bắt cơ hội và thích nghi với môi trường, thời đại.

- Mỗi người chỉ được hưởng những gì mình nỗ lực xứng đáng vì vật ta cần chủ động hơn trong đời sống, không buông xuôi trước khó khăn.

- Cuộc sống chỉ thức sự có ý nghĩa khi ta dám đối mặt với thử thách, dám thay đổi để tiến lên.

Câu 1. thể loại của văn bản này là truyện ngắn

Câu 2. Trong câu văn trên dấu ba chấm có tác dụng mắt nhấn mạnh sự trăn trở, nỗi nhớ da diết, sự băn khoăn trong tâm trạng của người lính. Từ đó giúp người đọc cảm nhận được sự nuối tiếc, niềm thương xót của người lính khi nhớ về những người đồng đội đã hy sinh.

Câu 3. Tình huống của truyện là: Minh có một tình yêu tuyệt đẹp với Hạnh do anh tưởng tượng ra vì cô đơn nhưng cuối cùng anh lại không thể sống để thực hiện ước muốn của mình.

Tình huống của truyện được xây dựng một cách bất ngờ, độc đáo đã tạo nên cảm giác tiếc nuối day dứt về nhân vật Minh. Qua đó làm nổi bật sự vô nghĩa của chiến tranh và đề cao những khát vọng tốt đẹp của người lính

Câu 4. Nhan đề lánh gợi cho ta hình ảnh giữa đêm một điều đẹp đẽ trong cuộc sống

Hình ảnh sao sáng lấp láng ám chỉ đôi mắt của Hạnh người con gái Minh yêu và qua đó bộc lộ được ước mơ, khát vọng được sống được hạnh phúc mãnh liệt của Minh.

Câu 5. Hình tượng người lính được hiện lên trong văn bản là những người chiến sĩ dũng cảm khuất trong chiến đấu nhưng họ lại có tràn đầy ước mơ khát vọng về cuộc sống hạnh phúc

Qua đây tác giả cho ta thấy được sự kết hợp hài hòa giữa thép và tâm hồn lãng mạn của người chiến sĩ cách mạng. Dẫu sống trong thời kỳ loạn lạc họ vẫn giữ cho mình những tình cảm sâu sắc chân thành nhất