Nguyễn Ngọc Quyên

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Ngọc Quyên
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:

Bài thơ “Những giọt lệ” của Hàn Mặc Tử là tiếng kêu đau đớn của một tâm hồn yêu tha thiết nhưng rơi vào chia lìa tuyệt vọng. Ngay từ khổ đầu, những câu hỏi dồn dập “Bao giờ…” diễn tả ước muốn được giải thoát khỏi nỗi đau yêu thương. Hình ảnh “mặt nhựt tan thành máu” và “khối lòng… cứng tợ si” tạo sắc thái dữ dội, vừa bi thương vừa ám ảnh, cho thấy trái tim đã hóa thành khối đau khổ. Đến khổ hai, nỗi mất mát được đẩy lên cao trào qua câu thơ nổi tiếng: “Người đi, một nửa hồn tôi mất”, diễn tả sự tan vỡ của cái tôi trữ tình khi tình yêu lìa xa. Khổ cuối lại chìm trong cảm giác lạc lõng, hoang mang về sự tồn tại của chính mình. Hình ảnh “bông phượng nở trong màu huyết” và “những giọt châu” vừa tả thực vừa tượng trưng cho nước mắt rơi giữa nỗi đau đỏ rực như máu. Với ngôn ngữ giàu cảm xúc, hình ảnh táo bạo và giọng điệu bi thiết, bài thơ thể hiện sâu sắc tâm trạng cô đơn, tuyệt vọng của thi sĩ trước tình yêu và số phận.

Câu 2:

Cuộc sống của chúng ta tự như một bản nhạc, mà ở dó có nốt thăng, nốt trầm. Có lúc chúng ta đứng trên vinh quang hạnh phúc vô tận. Nhưng cũng sẽ có nhữg lúc ta rơi vào hố sâu thất bại và đau đớn. Đứng trc nỗi đau tột cùng ấy, để có thể đối đầu vs nó và ,mạnh mẽ vươn lên chúng ta k thể thiếu tinh thần ý chí, nghị lực.

Ý chí là năng lực thực hiện những hành động có mục đích, là năng lực khắc phục những khó khăn, thử thách vươn đến thành công. Nghị lực là sức chịu đựng, sự kiên trì, bền bỉ của con người trong công việc và trong đời sống.Ý chí, nghị lực là bản lĩnh, sự dũng cảm và lòng quyết tâm cố gắng vượt qua thử thách dù khó khăn, gian khổ đến đâu để đạt được mục tiêu đề ra. Người có ý chí và nghị lực là người có ý chí sức sống mạnh mẽ, luôn kiên trì, nhẫn nại vượt qua những khó khăn, chông gai trong cuộc đời để vươn lên, khắc phục hoàn cảnh đi đến thành công.

Người có ý chí nghị lực là người có ý chí sức sống mạnh mẽ, luôn kiên trì, nhẫn nại vượt qua những khó khăn, chông gai trong cuộc đời để vươn lên, khắc phục hoàn cảnh đi đến thành công. Ý chí giúp cta vượt qua mọi khó khăn thử thách dẫn tới thành công. Sống ý chí nghị lục mạnh mẽ sẽ giúp con người có đủ sức mạnh để đương đầu với khó khăn thử thách của cuộc sống 1 cách dễ dàng. Người có ý chí và nghị lực luôn có niềm tin vào bản thân, tinh thần lạc quan để theo đuổi đến cùng mục đích, lí tưởng sống.

Các tấm gương ság về ý chí nghị lục luôn tồn tại quanh ta để ta lấy đó là tấm gương học tập. Nếu không có ý chí đủ mạnh mẽ và nghị lực bền bỉ thì làm sao Edison có thể kiên trì sáng tạo bóng đèn điện sau hàng nghìn lần thất bại; Bác Hồ Chí Minh bôn ba thế giới hơn 3 năm, vượt qua không biết bao nhiêu gian khổ tìm đường cứu nước; thầy Nguyễn Ngọc Ký luyện viết chữ bằng chân và trở thành nhà giáo ưu tú. Tất cả những kì tích ấy đều nhờ vào ý chí kiên định, vững vàng, nghị lực phi thường mà có được.

Trong cuộc sống, vẫn còn có nhiều người không có ý chí, nghị lực. Họ là những người chưa làm nhưng thấy khó khăn đã nản chí, thấy thất bại thì hủy hoại và sống bất cần đời. Họ là những người có điêu kiện đây đủ nhưng không chịu học tập, buông thả, không nghĩ đến tương lai. Họ là những người khi gặp khó khăn là buông xuôi, nản chí, phó mặc cho số phận. Những người như thế đáng phê bình và chê trách.

Có nghị lực, niềm tin thì chúng ta có thể vượt qua mọi khó khăn để đưa những bước chân gần hơn với thành công và hạnh phúc. Khi cuộc đời cho bạn cả trăm lý do để khóc, hãy cho đời thấy bạn có cả ngàn lý do để cười. Vì vậy hãy sống giữa đời. Đừng cô lập chính mình. Hãy sống giữa con người và sự việc, giữa những rắc rối, gian khó và trở ngại. Học tập những tấm gương sáng về ý chí, nghị lực để đi tới thành công.


C1:

PTBD: biểu cảm, miêu tả.

Câu 2:

Đề tài của văn bản; Nỗi buồn>

Câu 3:

-Hình ảnh tượng trưng: "một nửa hồn tôi mất, một nửa hồn tôi bổng hóa dại khờ'.

-Hình ảnh "hồn tôi" diễn tả sự đau đớn, nỗi mất mát tội cùng và sự hoảng loạn của tác giả khi pk chia xa người yêu. Nó còn tượng trưng cho cái tôi, cho sự cô đơn tuyệt vọng của chính tác giả.

Câu 4:

-BPTT đc sử dụng trog khổ thơ cuối: câu hỏi tu từ.

-Tác dụng bptt đc sử dụng trog khổ thơ cuối"

+ Giúp tăng sức gợi hình gợi cảm.

+Thể hiện sự cô đơn lạc lõng hoang mang giữa trần thế của tác giả.

+Gợi lên trong tác giả cảm giác bị ruồng bỏ, bị thế giới lãng quên.

Câu 5:

Bài thơ k theo logic thông thường mà tuân theo dòng cảm xúc, thể hiện nỗi đau và sự bế tắc tột cùng của nhà thơ khi ông k thể hồi đáp lại hết tcam trân quý yêu thương của mn dành cho ông vì bệnh tật. Tiếp đó là nỗi đau vì tyêu k trọn vẹn, cuối cùng là sự cô đơn lạc lõng giữa cuộc đời mênh mông. Như vậy, btho là sự vận động từ phiền muội, khát khao yêu và đc yêu sag nỗi khổ sở.


Câu 1:

Trong văn bản Anh béo và anh gầy của Sê-khốp, nhân vật anh gầy hiện lên như một hình ảnh tiêu biểu cho kiểu người tiểu thị dân nhỏ bé, yếu đuối trước quyền lực và địa vị xã hội. Ban đầu, anh gầy xuất hiện với dáng vẻ giản dị, thân thiện, vui mừng khi gặp lại bạn cũ. Cuộc trò chuyện diễn ra tự nhiên, bình đẳng, cho thấy anh là người chân thành, trọng tình nghĩa. Tuy nhiên, khi biết anh béo giữ chức vụ cao trong bộ máy quan lại, thái độ của anh gầy lập tức thay đổi. Từ chỗ cởi mở, anh trở nên khúm núm, sợ sệt, nói năng lễ phép quá mức, tự hạ thấp bản thân và tâng bốc đối phương. Sự biến đổi ấy không chỉ phản ánh nỗi sợ hãi quyền lực mà còn bộc lộ tâm lí nô lệ đã ăn sâu trong con người anh. Qua nhân vật anh gầy, Sê-khốp phê phán thói xu nịnh, tâm lí trọng chức quyền, coi địa vị hơn nhân cách – một căn bệnh phổ biến trong xã hội Nga đương thời. Đồng thời, hình tượng này cũng gợi cho người đọc suy ngẫm về giá trị của lòng tự trọng và sự bình đẳng giữa con người với con người.

Câu 2:

Trong hành trình sống của mỗi con người, cách chúng ta nhìn nhận và đối diện với sự việc có ý nghĩa quyết định đến thái độ, cảm xúc và cả chất lượng cuộc sống. Có ý kiến cho rằng: “Chúng ta có thể phàn nàn vì bụi hồng có gai hoặc vui mừng vì bụi gai có hoa hồng.” Câu nói ngắn gọn nhưng hàm chứa một triết lí sâu sắc về việc lựa chọn góc nhìn tích cực hay tiêu cực trước cùng một hoàn cảnh.

Trước hết, câu nói gợi ra hai cách nhìn đối lập trước cùng một sự vật. “Phàn nàn vì bụi hồng có gai” là cách nhìn tập trung vào khó khăn, hạn chế, những điều không như ý. Ngược lại, “vui mừng vì bụi gai có hoa hồng” là cách nhìn hướng về mặt tích cực, giá trị tốt đẹp ẩn sau những điều chưa hoàn hảo. Thực tế cuộc sống vốn không trọn vẹn; trong thành công luôn tiềm ẩn thử thách, trong khó khăn vẫn có cơ hội. Điều quan trọng không nằm ở hoàn cảnh, mà ở cách con người tiếp nhận và đánh giá hoàn cảnh ấy.

Lựa chọn cách nhìn tích cực mang lại cho con người nhiều giá trị thiết thực. Khi biết nhìn vào “hoa hồng” giữa “bụi gai”, ta sẽ có thêm niềm tin, động lực và sức mạnh tinh thần để vượt qua thử thách. Một học sinh gặp thất bại trong học tập nếu chỉ phàn nàn về đề khó, về hoàn cảnh, sẽ dễ nản lòng; nhưng nếu xem đó là cơ hội để nhận ra điểm yếu và cố gắng hơn, thất bại sẽ trở thành bài học quý giá. Cách nhìn tích cực giúp con người giữ được sự bình tĩnh, lạc quan, từ đó chủ động tìm hướng giải quyết thay vì chìm trong bi quan, chán nản.

Không chỉ vậy, cách nhìn nhận vấn đề còn phản ánh nhân cách và bản lĩnh sống của mỗi người. Người luôn phàn nàn thường dễ đổ lỗi cho hoàn cảnh, cho người khác, thiếu tinh thần trách nhiệm và ý chí vươn lên. Trái lại, người biết tìm “hoa hồng” trong “bụi gai” là người có bản lĩnh, biết chấp nhận thực tế và không ngừng hoàn thiện bản thân. Chính thái độ sống ấy giúp họ trưởng thành, được người khác tin tưởng và yêu mến hơn.

Tuy nhiên, nhìn nhận tích cực không đồng nghĩa với việc né tránh hay phủ nhận khó khăn. “Vui mừng vì bụi gai có hoa hồng” không phải là mơ mộng viển vông, mà là thái độ tỉnh táo, biết chấp nhận gai nhọn nhưng không để chúng che khuất vẻ đẹp của hoa. Con người vẫn cần nhìn thẳng vào hạn chế, sai lầm để sửa chữa, song đồng thời phải nuôi dưỡng niềm tin và hi vọng để tiếp tục tiến lên.Trong xã hội hiện đại với nhiều áp lực và biến động, việc lựa chọn cách nhìn nhận vấn đề càng trở nên quan trọng. Một góc nhìn tích cực sẽ giúp con người sống nhân ái hơn, biết trân trọng những điều nhỏ bé và lan tỏa năng lượng tốt đẹp đến cộng đồng. Ngược lại, sự tiêu cực chỉ khiến cuộc sống thêm nặng nề, bế tắc.

Có thể thấy, cuộc sống không trao cho con người quyền lựa chọn hoàn cảnh, nhưng luôn cho ta quyền lựa chọn thái độ. Khi biết thôi phàn nàn về những “chiếc gai” và học cách trân trọng “đóa hồng” ẩn trong đó, ta sẽ nhẹ nhõm hơn, kiên cường hơn trước mọi thử thách. Chính cách nhìn tích cực ấy giúp con người không chỉ vượt qua khó khăn mà còn tìm thấy ý nghĩa, niềm vui và giá trị đích thực của cuộc sống.

Câu 1:

Thể loại: truyện ngắn

Câu 2:

Đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái, biểu cảm của gd anh gầy:" Anh gầy bỗng dưng mặt tái mét...mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại..."

Câu 3:

Tình huống truyện:cuộc gặp gỡ giữa hai người bạn học cũ vốn dĩ vui mừng nhưng sau khi biết được cấp bậc của người bạn cũ, anh gầy liền tỏ ra sợ hãi, khép nép và khiến cho người bạn cảm thấy xa cách, chán nản. Chính tình huống này kết hợp với cử chỉ, điệu bộ quá đổi khuôn phép của anh gầy đã đem đến tiếng cười cho câu chuyện.

Câu 4:

Thái độ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo:

- Trước khi bt: vui vẻ, xới lời giới thiệu về gia đình, công việc và cuộc sống của bản thân.

+ Sau khi bt : bất ngờ, rúm ró, khúm núm, khép nép, hành động khuôn phép, xóa đi sự thân mật gần gũi ban đầu khiến cho người bạn cảm thấy e ngại, chán nản.

Câu 5:

Nội dung chính của văn bản là cuộc gặp gỡ của hai người bạn cũ lâu ngày không ngày. Những tưởng mối quan hệ gần gũi này sẽ giúp họ có một cuộc trò chuyện vui vẻ, thân mật, nhưng sau khi biết cấp bộc của bạn, anh gầy ngay lập tức thay đổi thái độ thân mật ban đầu bằng sự khúm núm của những kẻ nhát gan, sợ hãi trước quyền uy, khiến cho mối quan hệ giữa hai người trở nên xa cách. Qua thái độ của anh gầy cho thấy phản ánh sâu sắc sự tha hóa của con người trước địa vị xã hội và quyền lực, qua cuộc gặp gỡ bất ngờ giữa hai người bạn cũ; qua đó, tác giả châm biếm thói khúm núm, tâm lý nô lệ và sự thay đổi đáng buồn trong tình bạn, khiến tình cảm chân thành xưa biến mất, chỉ còn lại sự xa cách và giả dối do sự khác biệt về chức vụ và quyền lợi.



Câu 1:

Thể thơ của văn bản là thơ bảy chữ.

Câu 2:

Vần và kiểu đc gieo trog khổ thơ cuối văn bản:

+ Vần "ay" trog "bay,tay,này"

+ Kiểu vần đc gieo thuộc kiểu vần chân, "bay"-"tay" thuộc kiểu vần liền, "tay"-"này" thuộc kiểu vần cách.

Câu 3:

-Biện pháp tu từ liệt kê đc sd xuyên suốt bài thơ.

-Bptt liệt kê giúp

+ Giúp tăng tính gợi hình gợi cảm cho câu thơ.

+ Khắc họa chân thực những cuộc chia ly trong nhữg hoàn cảnh khác nhau, từ đó tô đậm nỗi buồn sâu sắc của những cuộc chia ly trên sân ga.

Câu 4:

- Đề tài: Những cuộc chia ly.

- Chủ đề: Nỗi buồn của những cuộc chia ly trên sân ga.

Câu 5:

- Yếu tố tự sự đc thể hiện trog bài thơ:

+ Nhân vật trữ tình xưng "tôi" đóng vai trò như một nhân chứng trực tiếp quan sát và kể lại những điều tận mắt thấy ở sân ga.

+ Nhân vật trữ tình kể lại những cuộc chia ly trên sân ga. Mỗi cuộc chia ly giống như một lát cắt của một cuốn phim.

+ Trog những cuộc chia ly, có những cảnh có nhân vật, hành động cụ thể, có cảnh có cả lời thoại trực tiếp:" - Mình về nuôi lấy mẹ, mình ơi".

- Yếu tố tự sự giúp:

+ Tạo tính chân thực, sống động cho văn bản, giúp cho bài thơ k chỉ bộc lộ cảm xúc mà còn trở thành một tấm gương, một thước phim tua chậm, tái hiện lại khung cảnh buồn của những cuộc chia ly ở sân ga.

+ Làm tăng sức gợi hình gợi cảm cho câu thơ: Yếu tố tự sự giúp người đọc như được tận mắt chứng kiến, trực tiếp lắng nghe những cuộc chia ly ấy, qua đó giúp người đọc dễ dàng đồng cảm hơn.


Câu 1:

Bài thơ "Những bóng người trên sân ga" của nhà thơ Tố Hữu không chỉ dừng lại ở việc miêu tả cảnh tượng của một nhà ga tấp nập, mà còn khắc họa sâu sắc tâm tư của con người trong xã hội thời kỳ đầy biến động. Nội dung bài thơ mang đậm tính triết lý, khi mỗi "bóng người" tượng trưng cho những số phận khác nhau, đang tìm kiếm ánh sáng hy vọng trong bóng tối của cuộc đời.Nghệ thuật sử dụng hình ảnh và biện pháp tu từ trong bài thơ rất tinh tế. Những hình ảnh ẩn dụ về "bóng người" không chỉ thể hiện sự mờ nhạt của số phận mà còn phản ánh những cảm xúc sâu thẳm, lẩn khuất trong tâm hồn mỗi người. Đặc biệt, việc sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh và âm điệu trữ tình đã tạo nên một không gian thơ mộng đầy cảm xúc, mở ra nhiều chiều sâu suy ngẫm cho người đọc. Bên cạnh đó, sự đối lập giữa "bóng tối" và "ánh sáng" được khắc họa một cách sinh động. Từ đó, bài thơ không chỉ gợi lên nỗi buồn mà còn gieo niềm hy vọng, thúc đẩy con người vươn lên trong cuộc sống. Chính vì vậy, "Những bóng người trên sân ga" là một tác phẩm nghệ thuật đa nghĩa, phản ánh hiện thực xã hội và tâm tư con người một cách sâu sắc.

Câu 2:

Robert Frost:" Trog rừng có nhiều lối đi, và tôi chọn lối đi chưa có dấu chân người". Câu nói không chỉ nói về sự lựa chọn cá nhân mà còn gửi gắm thông điệp sâu sắc về sự chủ động, dũng cảm và sáng tạo trong cuộc sống của mỗi con người.

Cuộc sống giống như một khu rừng rộng lớn với vô vàn ngã rẽ. Mỗi con đường tượng trưng cho một lựa chọn: học tập, nghề nghiệp, lối sống, ước mơ. “Lối đi chưa có dấu chân người” là con đường mới mẻ, ít người dám bước tới vì chứa đựng rủi ro, thử thách. Khi Robert Frost chọn con đường ấy, ông đã khẳng định tinh thần tự chủ, không đi theo lối mòn quen thuộc, không sống dựa vào sự an toàn sẵn có. Đó chính là biểu hiện của bản lĩnh và khát vọng khẳng định giá trị bản thân.

Trong xã hội hiện đại, sự chủ động lựa chọn con đường riêng càng trở nên quan trọng. Thế giới thay đổi nhanh chóng, nếu chỉ rập khuôn theo người khác, con người rất dễ trở nên mờ nhạt, bị đào thải. Chủ động lựa chọn giúp ta sống có mục tiêu, biết mình là ai và muốn trở thành người như thế nào. Không ít người trẻ Việt Nam đã dám đi “lối đi chưa có dấu chân người” khi khởi nghiệp từ những ý tưởng mới, theo đuổi các ngành nghề sáng tạo, công nghệ, nghệ thuật… Chính sự dám nghĩ, dám làm ấy đã tạo nên những giá trị khác biệt cho bản thân và xã hội.

Tuy nhiên, chọn con đường riêng không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn những kinh nghiệm đi trước. Sự sáng tạo chỉ thực sự có ý nghĩa khi được xây dựng trên nền tảng hiểu biết và trách nhiệm. Nếu thiếu bản lĩnh, thiếu chuẩn bị, việc chạy theo cái “khác người” có thể dẫn đến thất bại, thậm chí lạc lối. Vì vậy, chủ động lựa chọn con đường sống đòi hỏi con người phải không ngừng học hỏi, rèn luyện và tự chịu trách nhiệm với quyết định của mình.

Câu nói của Robert Frost đã gợi mở một triết lí sống sâu sắc: con ng chỉ thực sự sống có ý nghĩa khi dám lựa chọn và bước đi trên con đường riêng của mình. Giữa muôn vàn lối đi quen thuộc, vc mạnh dạn bước trên con đg mới mẻ và đòi hỏi bản lĩnh và trí tuệ và tinh thần trách nghiệm. Dù lựa chọn ấy có thể khó khăn, thử thách, nhưg chính nó giúp mỗi cá nhân khám phá tiềm ẩn, khẳng định giá trị bản thân và tạo nên dấu ấn riêng trong cuộc đời. Sống trong chủ động, sáng tạo k chỉ là cách đạt tới thành công, mà là cách để con người k hối tiếc khi nhìn lại hành trình mình đã đi qua.

Câu 1:

Nhân vật Thứ trog tác phẩm "Sống mòn" ở phần đọc hiểu của nhà văn Nam Cao đã hiện lên lên như một hình mẫu điển hình của những con ng tài năng nhưng phải sống trong cảnh bần cùng, nghèo khổ. Thứ là một con ng có ước mơ, khát vọng lớn lao: "y sẽ đỗ thành chung, y sẽ đỗ tú tài, y sẽ vào đại học, y sẽ sang Tây,...Y sẽ thành một vĩ nhân đem những sự thay đổi lớn lao đến cho xứ sở mình". Có thể thấy, Thứ có một lí tưởng đẹp đẽ, một khát vọng phụ sự cho xã hội rõ ràng, đáng quý. Thế những nỗi chua xót trước thực tại tăm tối của cuộc sống trái ngược với lí tưởng đẹp đẽ đó lại là cuộc sống nhiều khó khăn thử thách. Con đường sự nghiệp của Thứ k thuận lợi khiến anh ngày càng phải cật lực kiếm kế sinh nhai. Trong hoàn cành thiếu túng, lại thêm sự dằn vặt về trách nhiệm đối với gia đình, Thứ đau khổ tưởng tượng ra những viễn cảnh tương lai bị khinh rẻ coi thường. Tâm trạng bi thương của anh thể hiện tư tưởng sâu sắc của Nam Cao cái khổ đói, cái nghèo nàn, bi kịch trog đời sống con người, khi pk lo cơm áo gạo tiền để rồi quên bẵng đi khát vọng mong muốn đạt đc. Hình ảnh nhân vật Thứ là đại diện cho tầng lớp tri thức tiểu tư sản trog xã hội Việt Nam trc cách mạng tháng Tám. Qua đó tác giả như muốn gửi gắm tới độc giả về ý nghĩa, giá trị sống, khát vọng tự do trog cuộc đời.

Câu 2:

 Gabriel Garcia Marquez từng viết: “Không phải người ta ngừng theo đuổi ước mơ vì họ già đi mà họ già đi vì ngừng theo đuổi ước mơ”.Câu nói giản dị nhưng chứa đựng một sự thật sâu xa về tuổi trẻ và ước mơ, hai khái niệm gắn liền với sức sống, khát vọng và phẩm giá của con ng, k chỉ là một giai đoạn của đời ng, tuổi trẻ còn là trạng thái tinh thần, và ước mơ chính là ngọn lửa giữ cho tinh thần ấy luôn rực cháy.

Tuổi trẻ là khoảng thời gian đẹp nhất để con người gieo mầm những khát vọng về tương lai. Nó gắn liền với sức khỏe, sự nhiệt tình và khả năng học hỏi, dấn thân. Người trẻ dù thiếu kinh nghiệm nhưng lại có sự táo bạo để bước ra khỏi giới hạn, khám phá thế giới và khám phá chính mình. Ước mơ là những mong muốn khát khao về những điều tốt đẹp mà chúg ta mong muốn đạt đc. Chính vì thế ước mở chính là bản đồ định hướng cho hành trình trưởng thành, giúp cuộc sống k trôi qua một cách vô nghĩa. Từ "già đi" trg câu nói k những để chỉ tuổi tác mà còn chỉ sự dừng lại, k còn muốn phấn đấu nỗ lực nữa.

Thế nhưng, hành trình theo đuổi ước mơ chưa bao giờ là dễ dàng. Nó đi kèm với sự thất bại, đôi khi là những nỗi cô đơn, lạc lõng. Người trẻ có thể nhiệt huyết, nhưng cũng dễ nản lòng khi gặp thử thách. Ở đó, sự kiên trì trở thành phép màu giữ cho ước mơ không tắt. Nhà sáng chế Việt Nam Trần Quốc Hải là ví dụ. Ông vốn chỉ là một người thợ sửa xe ở Tây Ninh, nhưng lại nuôi hoài bão chế tạo máy bay. Dù không được đào tạo bài bản, phải đối mặt với nhiều hoài nghi, ông vẫn kiên trì theo đuổi đam mê và cuối cùng chế tạo thành công những chiếc máy bay cơ sở, khiến giới kỹ sư nước ngoài phải thừa nhận tài năng. Câu chuyện ấy không chỉ là niềm tự hào mà còn là minh chứng rằng tuổi trẻ không nằm ở điều kiện xuất phát, mà nằm ở ý chí dám bước tới những điều tưởng như không thể.

Ở một khía cạnh khác, ước mơ của người trẻ không phải lúc nào cũng lớn lao. Đôi khi, đó chỉ là mong muốn học hành tử tế, kiếm được công việc ổn định, hay sống một cuộc đời có ích. Nhưng dù giản dị đến đâu, ước mơ cũng cần được bảo vệ. Bởi khi ta bỏ rơi nó, ta cũng đánh mất chính phần tươi đẹp trong tâm hồn mình. Con người có thể nghèo khó, thiếu thốn, nhưng vẫn còn trẻ nếu trái tim vẫn biết hy vọng.

Câu nói của Marquez vì thế không chỉ dành cho những người tuổi đôi mươi. Nó nhắc mỗi chúng ta rằng sự già nua thật sự bắt đầu từ lúc ta ngừng tin vào tương lai, bằng lòng với sự lặp lại tẻ nhạt. Đã có không ít người trưởng thành, thậm chí lớn tuổi, nhưng vẫn tiếp tục học tập, sáng tạo, viết sách, khởi nghiệp. Họ minh chứng rằng ước mơ chính là bí mật giữ cho tâm hồn trẻ trung, khiến con người luôn vận động và phát triển.

Tuổi trẻ không phải món quà kéo dài mãi mãi. Nhưng điều đẹp đẽ nhất là, chỉ cần ta còn ước mơ, tuổi trẻ vẫn sống trong ta, bất chấp thời gian. Vì thế, người trẻ cần học cách trân trọng những khát vọng của mình, bình tĩnh đối mặt với khó khăn, và tin rằng mỗi bước đi bền bỉ đều có giá trị.

Vậy có thể thấy tuổi trẻ và ước mơ k chỉ là hai khái niệm đồng hành, mà còn là hai yếu tố làm nên sự sống động của đời ng. Câu nói của Marquez nhắc nhở chúng ta rằng con ng chỉ thực sự già đi khi trái tim ngừng khao khát và tuổi trẻ chỉ thực có ý nghĩa khi ta dám ước mơ dám thực hiện ước mơ đó.

Câu 1:

Nhà văn Nga Lê-ô-nít-Lê-ô-nốp đã vt:" tác thẩm nghệ thuật đích thực bao giờ cũng là một phát minh về hình thức và khám phá về nội dung". Sự hòa hợp giữa nội dung và hình thúc nghệ thuật là yếu tố nghệ thuật sức sống lâu bền cho tác phẩm. Truyện ngắn " sao sáng lấp lánh" ở phần đọc hiểu của tác giả Ng Thị Ấm cux nằm trg quy luật ấy. Nhà văn đã thành công để lại ấn tượng trog ng đọc k chỉ vì cốt truyện phức tạp, mà còn bởi cốt truyện độc đáo tạo nên sức sống cho cả tác phẩm. Sử dụng điểm nhìn trần thuật và ngôi kể thứ nhất giúp câu truyện chân thật. Mặc dù câu chuyện về tình yêu lãng mạn của cậu lính trẻ tên Minh nhưg không gian lại kpk nơi lãng mạn mà là thực tại nơi chiến trg. HÌnh ảnh ng lính trẻ pk chịu nh đau thương mất mát qua:"Sau sáu tháng, Minh đã hi sinh khi đang làm nhiệm vụ và bức thư Minh để trong túi áo" Những chi tiết này có thể khiến cho ng đọc liên tưởng đến nhữg dòng thơ trg bài thơ Khúc Bảy :" chúng tôi đã đi k tiếc đời mình/(Những tuổi 20 lms k tiếc)/Nhưng ai cũng tiếc tuổi 20 thì còn cho Tổ quốc", cho ta thấy đc những ng lính kiên cường ấy cũng có nhữg giây phút yếu lòng, nhữg cxuc chân thật của ng lính. Từ đó để ta hiểu hơn về sự kiên cường và anh dũng của những ng lính Việt Nam.

Câu 2:

Nhà thiên tài cổ Acsimet có câu nói nổi tiếng trg lĩnh vực vật lí vs định luật đòn bẩy:" hãy cho tôi một điểm tựa. Tôi sẽ nâng bổng cả trái đất lên". Câu nói "nâng bổng cả trái đất" có vẻ hơi khoa trương nhưng lại cho ng đọc thấy được tầm quan trọng của điểm tựa trg cuộc sống. Trog cuộc sống luôn đầy dãy những khó khăn thử thách, trở ngại và những biến đổi bất ngờ. Đây là những khó khăn thử thách có thể khiến chúng ta thấy gục ngã. Để vượt quá khó khăn mỗi cta cần pk có một điểm tựa tinh thần để vực dậy cta trog lúc vấp ngã.

Điểm tựa có thể hiểu đơn giản là nơi mà cta có thể tự tin, nơi mang lại cảm giác an toàn cho cta về mọi mặt để đối mặt với khó khăn trog cuộc sống. Dù cho cta có mạnh mẽ kiên cường đến đâu thì vẫn sẽ bị nhữg khó khăn thử thách trong cuộc sống lm cta yếu đuối. Lúc đó điểm tựa tinh thần là điều cần thiết để giúp cta tăng thêm niềm tin và sức mạnh.

Điểm tựa tinh thần giúp cta có lý tưởng sống đẹp, khẳng định giá trị bản thân, giúp cta lạc quan khi đc lm chính mình hoàn thiện nhân cách. Đồng thời giúp tạo thêm động lực để giúp mỗi ng đứng vững, kiên cường trc nhg khó khăn cám dỗ để sáng tạo vươn tới thành công. Khi có điểm tựa tinh thần giúp cta tự tin, quyết tâm vào những điều tốt đẹp tạo nên cuộc sống văn minh góp phần cho đất nc ptr giàu mạnh.

Điểm tựa có thể xuất phát từ tình thân, từ gia đình với vòng tay ấm áp và lòng bao dung. Nó cũng có thể bắt nguồn từ những lời động viên, sự chia sẻ của bạn bè, đồng nghiệp. Những lời yêu thương và những hành động chăm sóc trong những khoảnh khắc yếu đuối nhất là nguồn sức mạnh không giới hạn giúp con người vượt qua mọi thách thức cuộc sống đặt ra.

Nhưng trog cuộc sống có nh ng lại coi điểm tự tinh thần là nơi ỷ lại dựa dẫm vào đấy qá nh, lm j cũng cho là khó khăn thử thách. Đấy là điểu đáng lên án, phê phán những ng sức dài vai rộng nhưg vẫn sống bám víu vào bố mẹ già rồi bảo đấy là điểm tựa tinh thần hay những kẻ chỉ bt ỷ lại vào ng khác kbt lmj.

Mỗi ng đều là 1 cá thể riêng biệt và có 1 cuộc sống riêng nhưng ai cũng cần có 1 điểm tựa để chia sẻ động viên. Qua đó cta có động lực mà vực dậy lúc gian khó để đạt đc ước mơ của mình. Điểm tựa tinh thần như liều thuốc chữa lành thần kì nhất mà k thể mua đc bằng tiền mà ai trg cta cũng đều phải có.


Câu 1:

Văn bản thuộc thể loại truyện ngắn

Câu 2:

Dấu ba chấm trg câu văn có tác dụng: Dòng tâm trạng xao xuyến, mơ mộng, những tưởng tượng về một tyêu lãng mạn đag diễn ra trog tâm, hồn những ng lính khi nghe câu chuyện Minh kể về tyêu của cậu.

Câu 3:

- Tình huống truyện: Trc lúc hi sinh, ng lính trẻ tên Minh đã cho đồng đội của mình bt câu chuyện tyêu lãng mạng với Hạnh mà anh đã kể chỉ là tưởng tượng và nhờ đồng đội lấy lá thư trog túi áo chờ ngày hòa bình bỏ bức thư đặc biệt mà cậu vt cho Hạnh vào thùng.

-Tình huống truyện bất ngờ, độc đáo mang lại nh xúc động cho ng đọc. Đồng thời hé lộ nhữg góc khuất trg tâm hồn ng lính trẻ.

Câu 4:

-Nhan đề của vbản đc đăth tên theo hình ảnh ấn tượng của Minh về ng yêu trg tưởng tượng của Minh là Hạnh. Hình ảnh đôi mắt cô gái lấp lánh đẹp như sao.

-Nhan đề vb gợi ra cho em nhg suy nghĩ về:

+ Hình ảnh cảm hứng của vẻ đẹp tâm hồn nhg ng lính trg chiến tranh bảo vệ nền hòa bình Tổ quốc.

+Những ng lính mang trg mình khát vọng về tyêu bay bổng, lãng mạn là điểm tựa tinh thần, là đôi cánh nâng niu an ủi tâm hồn họ trg cuộc chiến đầy đau thương, mất mát cho độc lập tự do của dân tộc.

Câu 5:

Qua văn bản hình ảnh ng lính đc hiện lên:

+ Họ k chỉ là những chiến sĩ chiến đấu kiên cường, dũng cảm mà còn là nhữg con ng mag trog mình những ước mơ khát vọng hoài bão, tình cảm trong sáng chân thành.

+ Nhân vật Minh dù là một ng lính trinh sát trẻ nhưng cậu lại có một trái tim ấm áp, đầy yêu thương và mơ mộng.

+ Hình ảnh ng lính qua văn bản gợi lên cho ng đọc một sự kết hợp giữa mạnh mẽ và mềm yếu, giữa sự chiến đấu k ngừng nghỉ và những tình cảm sâu sắc mà nơi khắc nghiệt như chiến trg cũng k thể xóa nhòa.

Câu 1:

Điểm nhìn của người kể chuyện là điểm nhìn hạn tri.

Câu 2:

Ước mơ của nhân vật Thứ khi ngồi trên ghế nhà trường là: đỗ thành chung, đỗ tú tài, vào đại học đường, sang Tây và trở thành một vĩ nhân đem những sự thay đổi lớn lao đến cho xứ sở mình.   

Câu 3:

- Biện pháp tu từ sử dụng trong đoạn trích: "chẳng có việc gì làm, ăn bám vợ, mốc lên, gỉ đi, mòn, mục ra ở một xó nhà quê, người ta sẽ khinh y, vợ y sẽ khinh y, chính y sẽ khinh y".

- Tác dụng của biện pháp tu từ:

+ Nhấn mạnh cuộc sống vô nghĩa và sự lụi tàn ngày một rõ nét của nhân vật Thứ.

+ Thể hiện chân thực những mặc cảm mà nhân vật phải nếm trải trong hình dung của mình.

+ Qua đó tác giả gửi gắm giá trị hiện thực của tác phẩm.

Câu 4:

- Cuộc sống và con người của Thứ :

+ Cuộc sống: Đầy bi kịch, khó khăn, mòn mỏi trong việc kiếm kế sinh nhai để lo cho bản thân và gia đình, không thực hiện được hoài bão của cuộc đời mình.

+ Con người: Là người có đầy hoài bão, khát vọng, một con người có đời sống phong phú, có khả năng sâu sắc về cuộc sống và bản thân mình.

Câu 5:

Sống biết làm chủ chính mình, vượt qua khỏi vùng an toàn và những thói quen tù túng để không ngừng thay đổi và vươn lên mới giúp cho cuộc sống thực sự có ý nghĩa. Đánh thức mỗi người ý thức làm chủ, có trách nhiệm với mình, mọi người xung quanh, phát huy tiền năng bản thân trở thành người có ích cho xã hội.