Nguyễn Ngọc Quyên

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Ngọc Quyên
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:

Trg vb "Không một tiếng vang", bi kịch của gia đình ông lão mù đc đẩy lên đến tột cùng, phản ánh số phận khốn khổ của ng dân dưới xã hội cũ. Trc hết, đó là bi kịch của sự sa sút và bất hạnh: từ một gia đình trung lưu, chỉ sau một trận hỏa hoạn, ông lão mất vợ, bản thân bị mù lòa, cả nhà rơi vào cảnh nghèo đói, phải sống lay lắt qua ngày. K chỉ vậy, họ còn bị dồn ép bởi xã hội tàn nhẫn khi bị chủ nhà liên tục đòi nợ, đe dọa đuổi đi, khiến cuộc sống vốn khốn cùng càng thêm bế tắc. Bi kịch còn chồng chất khi mọi nỗ lực kiếm sống đều thất bại: con dâu bị mất hàng, con trai bị ăn chặn tiền lương, gia đình rơi vào tuyệt vọng. Đỉnh điểm đau thương là những cái chết liên tiếp: người con trai vì quẫn bách mà phạm pháp, ông lão mù tự vẫn để bớt gánh nặng, rồi người con dâu cũng chết theo. “Không một tiếng vang” không chỉ là sự im lặng mà còn là tiếng kêu cứu tuyệt vọng không được đáp lại. Qua đó, tác phẩm tố cáo xã hội vô nhân đạo và bày tỏ niềm xót thương sâu sắc đối với những con người cùng khổ.

Câu 2:

Văn học chân chính không chỉ là tấm gương phản chiếu hiện thực mà còn là tiếng chuông cảnh tỉnh lương tri con người. Qua tác phẩm "Không một tiếng vang", Vũ Trọng Phụng đã phơi bày một hiện thực tàn khốc: nơi mà sự nghèo đói và bệnh tật chưa đáng sợ bằng sự lặng im vô cảm của người đời. Bi kịch của gia đình ông lão mù không chỉ dừng lại ở những trang sách cũ, mà nó còn hối thúc chúng ta phải nhìn nhận lại giá trị của lòng nhân ái và trách nhiệm cộng đồng trong cs hnay. Để xh k còn nhữg nỗi đau bị bỏ quên, tinh thần tương thân tương ái đối với nhữg ng yếu thế phải trở thành kim chỉ nam cho hành động của mỗi cá nhân.

Nhân ái k chỉ dừng lại ở sự thương cảm, mà là khả năng thấu hiểu và sẻ chia nỗi đau với đồng loại. Trg khi đó, trách nhiệm cộng đồng là ý thức về nghĩa vụ của mỗi cá nhân đối với sự ptr và an toàn của xh chug. Hai yếu tố này chính là "sợi dây cứu sinh" ngăn chặn những bi kịch âm thầm mà khốc liệt như câu chuyện của gia đình ông lão mù.

Sự cần thiết của tinh thần nhân ái trước hết nằm ở khả năng xóa bỏ sự cô lập. Nhữg ng yếu thế - người già neo đơn, người khuyết tật, hay nhữg ng nghèo khổ - thườg sống trog bóng tối của sự lãng quên. Nếu cộng đồng có lòng trắc ẩn, một cánh tay đưa ra đúng lúc có thể cứu vãn cả một gia đình bên bờ vực tuyệt vọng. Nhân ái giúp chúng ta nhìn thấy "con người" đằng sau những số phận bất hạnh, thay vì chỉ coi họ là gánh nặng xã hội.

Hơn nữa, trách nhiệm cộng đồng là lá chắn bảo vệ công bằng xh. Một xh văn minh k phải là nơi chỉ có nhữg ngmạnh khỏe bước đi nhah hơn, mà là nơi ng đi nhah sẵn sàng dừng lại đợi ng đi chậm. Khi mỗi cá nhân ý thức được trách nhiệm của mình, từ việc hỗ trợ vật chất đến việc lên tiếng trước những bất công, chta sẽ tạo ra một mạng lưới an sinh tinh thần vững chắc. Nếu xã hội trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng có trách nhiệm hơn, có lẽ tiếng kêu của gia đình ông lão đã đc lắng nghe và bi kịch đã k kết thúc trog sự tĩnh lặng đáng sợ đến thế.

Tuy nhiên, trog thực tế hiện nay, vẫn còn đó "căn bệnh vô cảm". Nhiều ng chọn cách sống khép kín, "đèn nhà ai nhà nấy rạng", coi việc thiện nguyện là chuyện của các tổ chức xã hội. Sự thờ ơ này chính là mảnh đất màu mỡ cho những bi kịch "không tiếng vang" tiếp tục tiếp diễn. Chúng ta cần hiểu rằng, giúp đỡ ng yếu thế không phải là ban phát ơn huệ, mà là củng cố sức mạnh cho chính cộng đồng mà chúng ta đang sống. Một cộng đồng chỉ thực sự vững mạnh khi không có ai bị bỏ lại phía sau.

Để tinh thần nhân ái và trách nhiệm không chỉ là khẩu hiệu, mỗi chúng ta cần bắt đầu từ những hành động nhỏ nhất: sự quan tâm đến những người hàng xóm gặp khó khăn, tham gia các hoạt động thiện nguyện, hay đơn giản là không ngoảnh mặt trước một nỗi đau trên đường phố.

Nhân ái không chỉ dừng lại ở sự thương cảm, mà là khả năng thấu hiểu và sẻ chia nỗi đau với đồng loại. Trong khi đó, trách nhiệm cộng đồng là ý thức về nghĩa vụ của mỗi cá nhân đối với sự phát triển và an toàn của xã hội chung. Hai yếu tố này chính là "sợi dây cứu sinh" ngăn chặn những bi kịch âm thầm mà khốc liệt như câu chuyện của gia đình ông lão mù.

Bi kịch của gia đình ông lão mù trong thế giới của Vũ Trọng Phụng vẫn luôn là một lời nhắc nhở đắt giá cho mọi thời đại: Đỉnh điểm của cái ác không phải là sự bạo tàn, mà chính là sự thờ ơ. Một xã hội chỉ thực sự đáng sống khi những tiếng kêu cứu dù là nhỏ bé nhất cũng nhận được sự hồi đáp bằng tình thương và trách nhiệm. Nhân ái không phải là điều gì quá xa vời; nó bắt đầu từ việc chúng ta dám mở lòng để thấu cảm và dám hành động để sẻ chia. Khi mỗi cá nhân biết sống vì cộng đồng, chúng ta không chỉ cứu giúp những thân phận yếu thế, mà còn đang bảo vệ phần người thanh cao nhất trong chính bản thân mình. Đừng để lòng vô cảm biến thế giới thành một khoảng không "không tiếng vang", hãy để sự tử tế trở thành ngôn ngữ chung để sưởi ấm mọi kiếp ng.

Câu 1:

Nhân vật Thông Xa là chủ nợ của gia đình anh Mù.

Câu 2:

Xung đột cơ bản của đoạn trích " Không một tiếng vang" là sự mâu thuẫn gay gắt giữ khát vọng sống, nhu cầu tồn tại tối thiểu c ủa ng dân nghèo vs thực tế xh nghiệt ngã, bất công.

Câu 3:

- Quan điểm của anh cả Thuận về đồng tiền:

+ Đồng tiền là thế lực tối thượng, thay cả thần thánh.

+ Đồng tiền có sức mạnh vạn năng, đứng trên cả đạo đức và pháp luật.

- Quan điểm của anh Luận đã phản ánh hiện thực xã hội.

+ Thực trạng xã hội thối nát, nơi các gtri đạo đức bị đảo lộn , công lý bị bóp méo dưới sức mạnh của đồng tiền.

+ Xã hội " kim tiền" tàn bạo, nơi kẻ ác kẻ giàu thì sung sướng, còn ng hiền lành và lương thiện nhưng nghèo khó thì bị chà đạp, dồn vào bc đường cùng.

Câu 4:

Phẩm chất đáng quý của nvat cj cả Thuận:

- Tấm lòng hiếu thảo, giàu tình yêu thương: Giữ cảnh cùng quẫn, chị luôn là ng qtam đến sức khỏe và cảm giác của ng cha già mù lòa.

+ Vội vàng chạy đi bán chậu vì muốn mua bát cháo và lọ dầu vì lo bố chồng đói.

+ Khi thấy cha ngã thì hoảng loạn, nâng đỡ và hỏi han đầy xát xa: "Thầy ơi, thầy ngã có đau k"? , "tay run lẩy bẩy, hết sức rìu bố".

- Kiên cường, không cam chịu, buông xuôi trước số phận: Khác với sự bất lực, than trời trách đất của người chồng, chị Thuận có bản năng sống mãnh liệt và tư duy thực tế hơn. Chị không chấp nhận ngồi chờ chết mà cố gắng xoay xở tình hình đến giây phút cuối cùng.

+ Chị cố gắng xốc lại tinh thần mọi người: "... chẳng nhẽ cứ đế mặc nó muốn nghiêng thì nghiêng, muốn ngứa thì ngửa, dành bò tay chịu chết?".

+ Hành động chị "tất tả vào bếp, xách ra một chiếc chậu thau" định đem bán cho bác phó để kiếm vài hào mua cháo cho bỗ cho thấy chị luôn nỗ lực tìm kiếm tia hi vọng sống, dù là mong manh nhất, để cứu văn gia đình.

Câu 5:

Qua bi kịch của gia đình ông lão mù trong văn bản, em có suy nghĩ về sức ép của "cơm áo gạo tiền" đối với nhân phẩm con người:

- Bi kịch của gia đình ông lão mù lòa là lời cảnh tỉnh đau xót tàn phá khủng khiếp của gánh nặng "cơm áo gạo tiền".

- Khi bị dồn vào bước đường cùng của sự nghèo đói, cong dễ bị tha hóa, đánh , mất niềm tin vào những giá trị tốt đẹp

- Cái nghèo k chỉ bào mòn thể xác mà còn đe dọa tước đoạt cả nhân phẩm, lònmg tự trọng, buộc con ng pk đứng trc những lựa chọn nghiệt ngã.


Câu 1:

Giữa lao động và ước mơ có một mối quan hệ hữu cơ, gắn kết chặt chẽ và không thể tách rời trên con đường dẫn đến thành công của mỗi người. Ước mơ chính là mục tiêu, là ngọn hải đăng định hướng cho hành động; còn lao động là phương tiện, là đôi chân đưa ta tới đích. Nếu ước mơ thắp lên trong ta niềm hy vọng và khát khao, thì chỉ có lao động miệt mài, kiên trì mới biến những ảo tưởng xa vời trở thành hiện thực sống động. Một ước mơ dù đẹp đẽ đến đâu nhưng thiếu đi sự nỗ lực làm việc thì cũng chỉ là "lâu đài trên cát". Ngược lại, nếu lao động mà không có ước mơ, chúng ta sẽ dễ rơi vào trạng thái mệt mỏi, mất phương hướng và làm việc như một cỗ máy vô hồn. Lao động chính là quá trình rèn luyện bản lĩnh, giúp con người trưởng thành hơn để xứng đáng với ước mơ mình theo đuổi. Những vất vả, khó khăn trong quá trình làm việc không chỉ tạo ra giá trị vật chất mà còn bồi đắp giá trị tinh thần, giúp ta trân trọng thành quả đạt được. Vì vậy, thay vì chỉ mơ mộng, mỗi người trẻ cần bắt tay vào hành động, học tập và làm việc hết mình. Hãy nhớ rằng, khoảng cách giữa ước mơ và thực tại chính là "lao động", và chỉ khi chăm chỉ gieo hạt giống nỗ lực, ta mới có thể gặt hái được trái ngọt thành công.

Câu 2:

Khi nhìn lại chiều dài lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, nhà văn Nguyễn Trung Thành đã nói rằng: "Nếu như phải vẽ lại lịch sử Việt Nam thì trang nào cũng phải vẽ một thanh gươm tự vệ và tô đậm một màu máu". Với đề tài đất nước vì người chiến sĩ, thơ ca giai đoạn 1945-1975 chủ yếu là thơ ca cách mạng vs khuynh hướng sử thi cùg cảm hứng lãng mạn, đồng hành cùng người dân hậu phương và những người lính nơi tiền tuyến. Qua đó thể hiện tinh thần dân tộc cùng vẻ đẹp hào hùng bi tráng của người lính. Tiêu biểu cho thơ ca thời đại này là tác phẩm "Nhớ" của tác giả Nguyễn Đình Thi. Tác phẩm là một trog những bài thơ tình hay thời chống Pháp và cũng là một trong những bài thơ tình đặc sắc của nền thơ Việt Nam hiện đại.

Từ những câu mở đầu, tác giả đã mở ra một kgian đầu cxuc:

" Ngôi sao nhớ ai mà lấp lánh

...

Ngọn lửa nhớ ai mà đêm hồng"

Thiên nhiên hiện lên vừa gần gũi vừa lãng mạn. Ánh sao, ngọn lửa – những hình ảnh vốn quen thuộc trong cuộc sống kháng chiến – bỗng trở thành biểu tượng của nỗi nhớ, của tình yêu và của sự sống. Câu hỏi tu từ gợi cảm xúc bâng khuâng, khiến người đọc cảm nhận được tâm hồn người chiến sĩ giữa đêm rừng lạnh giá: cô đơn nhưng không tuyệt vọng, gian khổ mà vẫn đầy ấm áp. Thiên nhiên dường như mang linh hồn con người, biết “nhớ”, biết đồng cảm, chia sẻ. Qua đó, nhà thơ đã nâng nỗi nhớ cá nhân lên thành nỗi nhớ của vũ trụ, của tất cả những gì đang sống và đang yêu.

Nếu khổ đầu là tiếng gọi của thiên nhiên, thì khổ thứ hai là lời đáp mạnh mẽ của con người:

“ Anh yêu em như anh yêu đất nước.”

Câu thơ giản dị mà vang vọng. Phép so sánh “em – đất nước” không chỉ khẳng định tình yêu lứa đôi, mà còn cho thấy sự thống nhất tuyệt đối giữa tình yêu và lý tưởng. Người chiến sĩ yêu người con gái của mình bằng chính tình yêu dành cho quê hương, Tổ quốc. Hai tình cảm ấy không tách rời mà hòa vào nhau, làm nên vẻ đẹp cao cả, thiêng liêng. Không dừng lại ở sự lãng mạn, Nguyễn Đình Thi còn diễn tả nỗi nhớ bằng những hình ảnh rất đời thường:

“Anh nhớ em mỗi bước đường anh bước,

Mỗi tối anh nằm, mỗi miếng anh ăn."

Nỗi nhớ ấy len lỏi trong từng cử chỉ, hành động, trở thành một phần của sự sống. Nó không yếu mềm mà mạnh mẽ, không mơ hồ mà cụ thể. Tình yêu ấy tiếp thêm sức mạnh cho người lính vượt qua “vất vả đau thương”, giúp họ kiên cường nơi chiến trường ác liệt.

Hệ thống hình ảnh trong bài thơ cũng rất đặc sắc. Nguyễn Đình Thi tạo ra sự đối lập và hòa quyện giữa hai thế giới: lãng mạn và hiện thực. “Ngôi sao” và “ngọn lửa” tượng trưng cho niềm tin, cho lý tưởng vĩnh hằng; trong khi “bước đường”, “miếng ăn”, “đêm lạnh” lại phản ánh hiện thực gian lao. Sự kết hợp ấy giúp bài thơ vừa có chiều cao của lý tưởng, vừa có chiều sâu của đời sống, làm cho tình yêu trong "Nhớ" vừa thiêng liêng vừa gần gũi, vừa lớn lao mà vẫn bình dị.

Khổ thơ cuối là lời khẳng định dõng dạc, mang âm hưởng của một bản tuyên ngôn:

"Ngôi sao trg đến kbh tắt

Chúng ta yêu nhau chiến đấu suốt đời,

Ngọn lửa trg rừng bập bùng cháy rực

Chúng ta yêu nhau kiêu hãnh làm người."

Nỗi nhớ và tình yêu lúc này không còn là chuyện riêng của hai người mà đã trở thành biểu tượng của sức sống bất diệt. Hình ảnh "ngôi sao không bao giờ tắt" và "ngọn lửa bập bùng đỏ rực" khẳng định một tình yêu thủy chung, rực cháy giữa gian khổ. Chữ "kiêu hãnh" khép lại bài thơ một cách đầy mạnh mẽ. Họ yêu nhau trong tư thế của những người chiến đấu vì tự do, vì lẽ sống cao đẹp. Chính tình yêu ấy đã giúp họ vượt lên cái chết, sự hy sinh để khẳng định phẩm giá "làm người". Tình yêu trong thơ Nguyễn Đình Thi không chỉ là tình cảm riêng tư của hai con người, mà là tình yêu gắn liền với ý chí chiến đấu, với khát vọng sống có ý nghĩa. Ở đây, tình yêu không đối lập với chiến tranh, mà chính là nguồn động lực để con người vượt lên gian khổ, kiêu hãnh làm người, sống trọn với lý tưởng của thời đại.

Xây dựng hình tượng nhân vật đã khó, nhưng để nvat đó có sức lay động vfa chiếm tọng lòng ng đọc còn khó hơn. Nhưng trg bài thơ "Nhớ" nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã thành công xd nvat trữ tình với tâm hồn nhạy cảm và lý tưởng sống cao cả. Nỗi nhớ trong bài thơ vừa mang vẻ đẹp cổ điển, vừa mang hơi thở hiện đại của thời đại kháng chiến. Nó chứng minh rằng: khi tình yêu lứa đôi hòa nhịp cùng vận mệnh dân tộc, nó sẽ trở thành một nguồn sức mạnh vô tận, giúp con người chiến thắng mọi thử thách. Bằng ngôn ngữ giản dị, giàu nhạc điệu và hình ảnh biêu tượng sâu sắc, nhà thơ đã khắc họa một tình yêu vừa lãng mạn, vừa hiện thực - một tình yêu hòa trong hơi thở của đất nước những năm tháng kháng chiến. "Nhớ" vì thế không chỉ là bài thơ về nỗi nhớ, mà là bản tình ca của niềm tin và sức mạnh con người Việt Nam, nơi tình yêu và Tổ quốc hòa chung trong một nhịp đập thiêng liêng.

Câu 1:
Ptbd chính là tự luận

Câu 2:

Vấn đề: vtro ý nghĩa của lao động.

Câu 3:

- Những bằng chứng đc đưa ra là :"Ngay cả chú chim yến, khi còn non thì đc bố mẹ mag mồi về mốm cho nhưg khi lớn lên sẽ phải tự mình đi kiếm mồi. Hổ và sư tử cũng đều như vậy.

- Đây đều là những bằng chứng điển hình, sinh động, được mọi người dễ dàng thừa nhận, có tác dụng làm tăng tính thuyết phục của văn bản đồng thời cũng giúp việc tiếp nhận vấn đề nghị luận trở nên nhẹ nhàng hơn.

Câu 4:

Lao động không nên chỉ được coi là gánh nặng hay công cụ để kiếm sống thuần túy. Khi chúng ta tìm thấy niềm đam mê và mục đích trong công việc, lao động trở thành một hình thức hưởng thụ tinh thần. Hạnh phúc đích thực không đến từ sự lười nhác mà đến từ việc tạo ra giá trị và cảm thấy mình có ích cho xã hội.

Câu 5:

Một số ng trẻ hiện nay có tâm trí ngại khổ ngại khó, chỉ muốn những công vc nhẹ nhưng lương cao.

Câu 1:

Trong đoạn trích "Kim tiền", nv Trần Thiết Chung hiện lên là điển hình cho bi kịch của cng bị tha hóa bởi sức mạnh của đồng tiền. Ban đầu, Chung vốn là một trí thức có lòng tự trọng, nhưng sự nghèo đói và áp lực thực tại đã đẩy ông vào con đường kinh doanh tàn nhẫn. Qua nhữg lời thoại đầy toan tính, ta thấy một Thiết Chung lạnh lùng, coi tiền bạc là thước đo duy nhất của giá trị và quyền lực. Ông k ngần ngại dùng mọi thủ đoạn, thậm chí chà đạp lên đạo đức để đạt được mục đích tài chính. Tuy nhiên, đằng sau vẻ ngoài thành đạt ấy là một tâm hồn trống rỗng và luôn sống trong nỗi bất an. Sự giằng xé giữa bản chất lương thiện cũ và tham vọng hiện tại tạo nên một nv có chiều sâu tâm lý phức tạp. TTC k chỉ là một cá nhân cụ thể mà còn là biểu tượng cho sự băng hoại của các giá trị nhân văn trong xã hội đồng tiền lên ngôi. Qua đó, tác giả Vi Huy Chương đã gửi gắm thông điệp cảnh tỉnh về sự nguy hại khi cng đánh mất chính mình để chạy theo nhữg gtrị vật chất phù du.

Câu 2:

Câu 1:

Văn bản thuộc thể loại bi kịch

Câu 2:

Theo cự lợi, ông Trần Thiết Chung thất bại vì ông quá khinh rẻ đồng tiền, cố chấp và k chịu kiến tiền

Câu 3:

- Hình ảnh "phân,bẩn,rác" đc ss vs "tiền"

+ Bản chất của chúng "phân, bẩn, rác" là sự ô uế, bẩn thỉu nhưg vẫn là "vật liệu rất quý", là nguồn dưỡng chất thiết yếu để tạo nên những cánh đồng lúa trĩu nặng, nhữg bôg hoa thơm ngát.

+ " Tiền" có thể bị coi là thấp kém, đê tiện 3

- Qua đó, ông Cự Lợi muốn thuyết phục ông Trần Thiết Chung:

+ Bane chất của đồng tiền k hoàn toàn xấu và tiêu cực như cách ông Trần Thiết Chung đag suy nghĩ, nó phụ thuộc vào cách sử dụng và kiểm soát của mỗi cá nhân.

+ Muốn TTC hiểu rằng dù vc kiếm tiền có thể vất vả và trần tục nhưng là tiền công cụ cần thiết để nuôi sống bản thân, gia đình và thực hiện những lí tưởng cao đẹp.

Câu 4:

- Cuộc trò chuyện giữa ông Cự Lợi và ông Trần Thiết Chung kết thúc trg bế tắc và bất đồng quan điểm. Hai bên k ai thuyết phục đc ai:" Bác có ý kiến của bác, tôi có ý kiến của tôi". Ông Chung cương quyết giữ lối sống thanh bẩn còn ông Lợi đành để mặc bạn mình>

- Ý nghĩa của sự kết thúc này:

+ Phản ánh sự xung đột gay gắt, k thể dung hòa giữa hai hệ tư tưởng trg xã hội giao thời: Một bên là lý tưởng đạo đức nho sĩ (giữ khí tiết, khinh tài lợi) và một bên là lối sống thực dựng(coi trong sức mạnh của đồng tiền)

+ Lm nổi bật chủ đề của văn bản: sự lựa chọn giữa tiền và nhân cách cng, mâu thuẫn giữ lí tưởng sống và nhu cầu vật chất của hiện thực đời sống.

+ Gợi suy ngẫm, chiêm nghiệm về những khó khăn khi cng pk giữ đạo đức, lí tưởng, ước mơ trog 1 xh chạy theo lợi ích kte

Câu 5:

- Em k đồng tình vs quan điểm của ông TTC:

- Vì:

+ Lòg tham của cng thườg k có đáy, khi chta mải mê chạy theo quá nhiều danh vọng và vật chất ("tham muốn nhiều"), ta buộc phải đánh đổi bằg tgian, sức khoẻ và sự bình yên trg tâm hồn.

+ Khi cng chạy theo tham vọng vật chất quá mức, họ dễ đánh mất sự thanh thản, bị cuốn vào lo toan, tính toán, thậm chí phạm sai lầm để đạt mục đích.

+ Bt sốg vừa phải và biết đủ sẽ giúp cng nhẹ nhõm, thanh thản và giữ được các giá trị đạo đức của bản thân.

Câu 1:

Đoạn trích trong vở kịch "Chén thuốc độc" của VĐL là một lát cắt sắc sảo phản ánh sự rạn nứt và băng hoại đạo đức của tầng lớp thị dân Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX. Tác giả đã rất thành công trong việc xây dựng xung đột kịch tập trung vào tấn bi kịch của gia đình ông Thông Thu khi đứng bên bờ vực phá sản. Qua những lời thoại đầy kịch tính, người đọc thấy rõ sự đối lập giữa lòng tham, thói ăn chơi trác táng và nỗi tuyệt vọng cùng cực. Hình ảnh "chén thuốc độc" không chỉ là vật hữu hình định đoạt số phận nhân vật mà còn mang ý nghĩa biểu trưng cho sự kết thúc của một lối sống hưởng thụ, thiếu trách nhiệm. Bằng ngòi bút hiện thực nghiêm ngặt, VĐL đã phê phán mạnh mẽ xã hội đương thời, nơi đồng tiền làm tha hóa nhân cách con người. Đoạn trích không chỉ có giá trị tố cáo mà còn là bài học cảnh tỉnh sâu sắc về giá trị gia đình và nền tảng đạo đức trong xã hội giao thời.

Câu 2:

Câu chuyện về nhân vật Thông Thu từ chỗ "tiêu hoang ném tiền qua cửa sổ" dẫn đến cảnh khánh kiệt không chỉ là một bài học trên trang giấy, mà còn là hồi chuông cảnh tỉnh sâu sắc cho một bộ phận giới trẻ hiện nay. Trong bối cảnh nền kinh tế tiêu dùng phát triển mạnh mẽ, thói quen tiêu xài thiếu kiểm soát đang trở thành một vấn đề xã hội đáng quan ngại.

Thói tiêu xài thiếu kiểm soát được hiểu là việc sử dụng tiền bạc một cách bừa bãi, không có kế hoạch, vượt quá khả năng chi trả của bản thân. Hiện nay, không khó để bắt gặp những người trẻ sẵn sàng chi cả tháng lương, thậm chí vay nợ để sở hữu những món đồ hiệu, những chiếc điện thoại đời mới nhất hay tham gia vào những cuộc vui xa xỉ. Họ bị cuốn vào vòng xoáy của "chủ nghĩa hình thức", nơi giá trị con người đôi khi bị nhầm tưởng là tỉ lệ thuận với những món đồ họ khoác trên người.

Nguyên nhân của tình trạng này đến từ nhiều phía. Về khách quan, sự bùng nổ của mạng xã hội và các hình thức quảng cáo đánh vào tâm lý đã tạo nên những nhu cầu ảo. Những khái niệm như "chốt đơn", "shopping therapy" (mua sắm để giải tỏa) hay các dịch vụ "mua trước trả sau" dễ dàng khiến người trẻ mất đi sự tỉnh táo. Về chủ quan, nhiều bạn trẻ thiếu kiến thức về quản lý tài chính cá nhân và chịu áp lực từ "hội chứng sợ bỏ lỡ" (FOMO). Họ khao khát khẳng định cái tôi, muốn nhận được sự ngưỡng mộ từ người khác nhưng lại chọn con đường ngắn nhất và cũng nguy hiểm nhất: vẻ bề ngoài hào nhoáng bằng tiền bạc.

Hậu quả của lối sống này vô cùng nặng nề. Giống như Thông Thu, sự "vung tay quá trán" sớm muộn cũng dẫn đến sự khánh kiệt. Không chỉ là sự trống rỗng trong túi tiền, nó còn dẫn đến sự trống rỗng trong tâm hồn và áp lực tâm lý nặng nề khi đối mặt với nợ nần. Khi thói quen tiêu xài vượt quá khả năng lao động, người trẻ dễ rơi vào lối sống thực dụng, lười biếng, thậm chí có thể dẫn đến những hành vi vi phạm đạo đức và pháp luật để có tiền thỏa mãn cơn khát tiêu dùng.

Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nhìn nhận khách quan rằng không phải tất cả giới trẻ đều như vậy. Vẫn có rất nhiều người trẻ đang theo đuổi lối sống tối giản, biết tiết kiệm và đầu tư cho những giá trị bền vững như tri thức và trải nghiệm thực tế.

Để khắc phục thói quen tiêu xài thiếu kiểm soát, giải pháp quan trọng nhất chính là sự thay đổi trong nhận thức. Mỗi cá nhân cần học cách quản lý tài chính, phân biệt rõ giữa "nhu cầu" (cái mình cần) và "mong muốn" (cái mình thích). Hãy nhớ rằng, sự tự tin đích thực đến từ năng lực và nhân cách, không phải từ nhãn hiệu trên bộ quần áo.

Cuối cùng cta cần pk hiểu rằng tiền bạc là công cụ để phục vụ cuộc sống, không phải là ông chủ điều khiển hành vi của chúng ta. Đừng để sự phù hoa nhất thời biến mình thành một "Thông Thu đời thực". Sống biết đủ, chi tiêu có trách nhiệm chính là cách để người trẻ xây dựng một nền tảng vững chắc và tự do thực sự cho tương lai.

Câu 1:

Văn bản thuộc thể loại bi kịch.

Câu 2:

Hình thức độc thoại chủ yếu là độc thoại.

Câu 3:

- Các chỉ dẫn sân khấu:

+ Bóp trán nghĩ ngợi.

+ Một lát lại nói

+ Đứng dậy lấy chai dấm thanh giấu ở dưới gầm tủ, rót vào cốc. Thò tay vào tủ lấy hộp thuốc phiện.

+ Lấy dao mở hộp thuốc phiện, rót vào cốc, lấy que khuấy.

+ Cầm cốc nâng lên sắp uống lại đặt xuống.

- Tác dụng của chỉ dẫn sân khấu:

+ Giúp người đọc hình dung đc hành động, cử chỉ và trạng thái cxuc cụ thể của nvat.

+Thể hiện xung đột nội tâm, giằng xé gay gắt của Thông Thu.

Câu 4:

- Tâm lí nvat thầy TT trg hồi thứ 2: Tâm lý hội hận và tự sỉ vả. TT nhận thức đc sai lầm của mình sau khi tiêu tán tài sản, cảm thấy nhục nhã vì k lm đc ích j quốc lợi cho dân mà còn lm nhục nhã thanh danh gđ.

- Tâm lý thầy TT trog hồi thứ 3: Tâm lí tuyệt vọng và bế tắc. Khi đối mặt vs cảnh tù tội, TT vô cùg sợ hãi. hắn quyết định tìm đến cái chết để giải thoát.

- Sự thay đồi từ hồi 2 và hồi 3: Từ vc hối hận về qkhu (hồi 2) chuyển sang sự hoảng loạn trc tlai và đi đến hđ cục đoan (hồi 3), Tuy nhiên, trog sự tuyệt vọng vẫn nhen nhóm chút trách nhiệm muộn màng vs gđ.

Câu 5:

- Em k đồng tính vs quyết định tìm đến cái chết của thầy TT.

- Vì:

+ Tự tử là một hành động hèn nhát trc sai lầm của mình thay vì đối mặt để sửa chữa.

+ Cái chết k giải quyết đc vấn đề, đôi khi nó còn lom gây liên lụy vs để lại nỗi buồn cho nhg ng còn ở lại.





Câu 1:

Trong bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm, hình tượng “li khách” hiện lên với vẻ đẹp vừa hào hùng vừa bi tráng. Đó là con người ra đi vì chí lớn, mang theo khát vọng lập công danh giữa thời loạn. Li khách xuất hiện trong tư thế dứt khoát, mạnh mẽ: “Chí lớn chưa về bàn tay không” – lời thơ như một lời thề, thể hiện quyết tâm không thành công thì chưa trở lại. Ẩn sau vẻ ngoài cứng cỏi ấy lại là một tâm hồn đầy day dứt. Người ra đi hiểu rõ nỗi buồn chia biệt, ý thức được những mất mát có thể xảy đến, nhưng vẫn chọn lên đường. Hình ảnh li khách vì thế mang dáng dấp của người anh hùng cổ điển, song không hề xa lạ mà rất gần gũi, giàu cảm xúc. Giọng điệu thơ trang trọng, nhịp thơ chậm buồn càng làm nổi bật không khí tiễn đưa thấm đẫm nỗi sầu ly biệt. Qua hình tượng li khách, Thâm Tâm đã khắc họa vẻ đẹp của con người sống vì lý tưởng, dám rời bỏ tình riêng để theo đuổi chí lớn, để lại dư âm xúc động sâu sắc trong lòng người đọc.

Câu 2:

Nữ doanh nhân thành đạt người Mỹ Oprah Winfay từng nói: “Nếu bạn chờ ai đó sẽ đến cứu bạn, chữa lành bạn, hay thậm chí dù là giúp đỡ bạn, bạn đang lãng phí thời gian”. Không ai khác mà chính bản thân ta mới có sức mạnh tự “giải cứu” cuộc đời mình khỏi khó khăn, bất trắc. Vì thế lối sống tự lập là phẩm chất đáng quý và có ý nghĩa rất quan trọng trong hành trình con người tồn tại, hòa nhập, sáng tỏa khát vọng lớn lao.

Tự lập là khả năng tự làm mọi thứ, tự giải quyết vấn đề và tự ra quyết định mọi thứ cho cuộc sống của mình chứ không dựa dẫm hay nhờ đến sự giúp đỡ của ai khác. Tự lập là một phẩm chất đáng quý, giúp con người nhận được sự yêu mến từ những người xung quanh. Những ai có tinh thần tự lập thường biết cách ứng phó với khó khăn, luôn chủ động trong cuộc sống và trở thành chỗ dựa tin cậy cho gia đình, bạn bè và cộng đồng. Tính tự lập không chỉ đơn giản là tự làm những việc cá nhân mà còn thể hiện ở khả năng suy nghĩ độc lập, giải quyết vấn đề và đưa ra quyết định đúng đắn. Người tự lập thường tự tin, có trách nhiệm và sẵn sàng đối mặt với thử thách để đạt được mục tiêu của mình.

Tính tự lập giúp chúng ta có lý tưởng sống có lẽ sống đẹp khẳng định giá trị bản thân, giúp ta sống lạc quan đc lm chính mình. Giúp cta biết tự đứng lên lúc vấp ngã vượt qua khó khăn cám dỗ để lao động vươn tới thành công. Nó còn giúp ta tự tin và quyết tâm có thêm niềm tin vào những điều tốt đẹp tạo nên cuộc sống văn minh xây dụng gia đình hạnh phúc góp phần xây dựng cho đất nc ptr.

Người có tính tự lập là ng tự có thể tự chăm sóc bản thân, sắp xếp qly đc mọi vc của mình mà k phụ thuộc vào ai. Luôn bt tự đưa ra quyết định khi đối diện với các vấn đề mắc phải tỏng cuộc sống. Dám nghĩ dám lm, bt chịu trách nhiệm vơi hành động của mình và k ngại thất bại trong cuộc sống.

Tính tự lập đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của mỗi cá nhân. Khi có tính tự lập, một người sẽ trở nên chủ động hơn trong cuộc sống, không bị phụ thuộc quá nhiều vào người khác và có khả năng kiểm soát tương lai của mình. Tự lập giúp xây dựng sự tự tin, bởi bản thân biết rằng mình có thể tự giải quyết vấn đề và đối diện với thử thách. Điều này cũng tạo điều kiện để phát triển tư duy linh hoạt, giúp bạn thích nghi với môi trường mới và sẵn sàng đối mặt với những thay đổi trong cuộc sống.

Nếu con người chúng ta k có tính tự lập thì xã hội sẽ mục nát. Vì thế có rất nh tấm gương sáng về tính tự lập để cta loi theo. Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước ở Bến cảng Nhà Rông vào năm 1911 mặc dù Người tay trắng ra đi và không có một sự giúp đỡ. Nhờ tính tự lập bác đã đem lại hòa bình và tự do cho cả dân tộc. Mai An Tiêm và vợ trong sự tích “Dưa hấu” từ hai bàn tay trắng mà kiếm được của để nhờ việc tự trồng dưa hấu, để từ đó đc vua cha tin tưởng. Tỷ phú Elon Musk nhờ được mẹ rèn cho tính tự lập đã trở nên thành công trong cuộc sống : sở hữu hãng xe điện Tesla thân thiện với môi trường và dự án thám hiểm không gian SpaceX.

Trong xã hội vẫn tồn tại nhiều cá nhân sống thụ động, dựa dẫm, ỷ lại, không dám bước đôi chân của chính mính. Họ hèn nhát trước thử thách, khó khăn, sống mà không có vọng. Khi mà đời sống vật chất được nâng cao, nhiều bạn trẻ được bước đi trên con đường trải hoa hồng do gia đình trải sẵn. Chính vì điều đó đôi khi làm mất đi ở con mình tính tự lập, lối sống chủ động. Điều đó đáng phê phán vì nó có thể đưa một thế hệ tới cách tồn tại trì trệ, vô nghĩa.

Cựu tổng thống Hoa Kỳ Roosevelt phát biểu : "Về lâu dài chúng ta sẽ định hình bản thá chúng ta và cuộc sống của chúng ta". Dựa vào chính mình, tự lực cánh sinh là quá t giờ kết thúc cho đến khi ta chết. Tuổi trẻ cần tự tin, dám nghĩ, dám làm, tự tìm kiếm chinh phục ước mơ. Nếu biết trăm năm là hữu hạn, tại sao ta lại không thử tự tập chúng ta sống và sông có ích cho đời?



Câu 1:

Nhân vật chữ tình trog bài thơ là "ta".

Câu 2:

Không gian : k xác định

Thời gian: chiều hôm nay

Câu 3:

-Hiện tượng phá vỡ quy tắc thông thường: kết hợp từ bất thường "đầy hoàng hôn trog mắt".

+ "đầy": thể hiện trạng thái k còn chứa thêm đc nữa, có nhiều và khắp cả.

+" hoàng hôn": chỉ thời điểm mặt trời lặn, ánh sáng yếu ớt và mờ dần.

-Hiện tượng phá vỡ quy tắc thông thường đc sd có tác dụng:

+Góp phần thể hiện một cách kím đáo tâm trạng của ng li khách.

+Thể hiện nỗi buồn man mác vấn vương của li khách một cách đầy lãng mạn.

+Cho ng đọc thấy đc dường như cng đag cố gắng dùng lí trí kìm nén cảm xúc trog lòng mình.

+Gợi ra khung cảnh những cuộc chia li thời cổ, góp phần thổi vào câu thơ thở Đường thi.

Câu 4:

Hình ảnh "tiếng sóng xuất hiện trong hai câu thơ:

"Đưa ng, ta k đưa qua sông,

Sao có tiếng sóng trog lòng?"

-"Tiếng sóng" trog lòng tượng trưng cho tâm trạng xáo động, bâng khuân, lưu luyến và vấn vương cùng nỗi buồn man mác khó tả tựa như những lớp sóng đang dâng trào vô hạn trog lòng ng tiễn đưa.

-Gợi ra khung cảnh những cuộc chia li thời cổ. Góp phần thổi vào câu thơ hơi thở Đương thi.

Câu 5:

-Thông điệp rút ra " những cuộc chia li k tránh khỏi đau buồn, nhưng vì đó sẽ cho ta hiểu hơn về những tcam chân thành của con ng"

+ Trân trọng người ở lại, biết quý trọng những ng hiện hữu trog cuộc đời mình.

+ Nó giúp ta trưởng thành mạnh mẽ hơn, bản lĩnh để chấp nhận sự thay đổi và bước tiếp.