TRƯƠNG NGUYỄN HẢI NAM

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của TRƯƠNG NGUYỄN HẢI NAM
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1

Bài thơ Những bóng người trên sân ga của Lưu Quang Vũ gây ấn tượng sâu sắc bởi nội dung giàu chất suy tư và nghệ thuật biểu đạt tinh tế. Trước hết, bài thơ gợi lên hình ảnh những con người lặng lẽ, thoáng qua nơi sân ga – một không gian của chia ly, chờ đợi và chuyển động. “Những bóng người” không chỉ là hình ảnh thực mà còn mang ý nghĩa biểu tượng cho những số phận nhỏ bé, cô đơn giữa dòng đời vội vã. Qua đó, nhà thơ thể hiện niềm trăn trở về con người trong xã hội hiện đại: sống gần nhau nhưng xa cách, gặp nhau rồi lại lặng lẽ rời đi, ít có sự sẻ chia sâu sắc. Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng giọng điệu trầm lắng, giàu chất triết lí, ngôn ngữ giản dị mà gợi nhiều liên tưởng. Hình ảnh thơ mang tính biểu tượng cao, kết hợp với nhịp điệu chậm rãi đã tạo nên không khí man mác buồn, phù hợp với cảm xúc hoài niệm và suy tư của tác giả. Chính sự hòa quyện giữa nội dung nhân văn và nghệ thuật tinh tế đã làm nên sức hấp dẫn bền lâu của bài thơ.

Câu 2

Nhà thơ Mỹ Robert Frost từng viết: “Trong rừng có nhiều lối đi / Và tôi chọn lối đi chưa có dấu chân người.” Hai câu thơ không chỉ nói về một lựa chọn cá nhân mà còn gửi gắm một triết lí sâu sắc về sự chủ động, bản lĩnh và sáng tạo trong cuộc sống. Trong thế giới đầy những khuôn mẫu sẵn có, việc dám chọn “lối đi riêng” trở thành yếu tố quan trọng để mỗi con người khẳng định giá trị của bản thân.

Sự chủ động lựa chọn lối đi riêng trước hết là biểu hiện của ý thức làm chủ cuộc đời mình. Thay vì sống theo sự sắp đặt hay áp lực từ đám đông, con người biết suy nghĩ, cân nhắc và quyết định con đường phù hợp với khả năng, đam mê và mục tiêu của bản thân. Một lối đi riêng không có nghĩa là khác biệt một cách mù quáng, mà là lựa chọn có ý thức, dựa trên hiểu biết và trách nhiệm. Khi chủ động lựa chọn, con người không còn là kẻ bị cuốn theo hoàn cảnh mà trở thành người kiến tạo tương lai cho chính mình.

Bên cạnh đó, lựa chọn lối đi riêng còn gắn liền với tinh thần sáng tạo. Sáng tạo là dám nghĩ khác, làm khác, tìm ra cách tiếp cận mới mẻ trước những vấn đề quen thuộc. Trong học tập, lao động hay nghiên cứu khoa học, những bước tiến lớn của nhân loại đều bắt nguồn từ những con người không chấp nhận đi theo con đường cũ. Chính sự sáng tạo đã giúp xã hội phát triển, giúp con người vượt qua giới hạn của bản thân. Lối đi “chưa có dấu chân người” vì thế luôn tiềm ẩn thử thách, nhưng cũng mở ra những cơ hội lớn lao cho sự thành công và đột phá.

Tuy nhiên, việc lựa chọn lối đi riêng không phải lúc nào cũng dễ dàng. Người dám đi khác thường phải đối mặt với nghi ngờ, thất bại và cả cô đơn. Nếu thiếu bản lĩnh và sự kiên trì, con người dễ bỏ cuộc giữa chừng. Vì vậy, lựa chọn lối đi riêng cần đi kèm với năng lực, sự chuẩn bị kĩ lưỡng và tinh thần chịu trách nhiệm trước mọi hậu quả. Lối đi riêng chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó mang lại giá trị tích cực cho bản thân và cho xã hội, chứ không phải là sự lập dị hay chống đối vô nguyên tắc.

Trong thực tế, nhiều người trẻ hiện nay vẫn e ngại khác biệt, dễ chạy theo xu hướng, lựa chọn an toàn để tránh rủi ro. Điều đó khiến họ đánh mất cơ hội khám phá tiềm năng của chính mình. Ngược lại, những người dám chủ động lựa chọn và sáng tạo thường để lại dấu ấn riêng, dù thành công đến sớm hay muộn.

Tóm lại, thông điệp từ câu thơ của Robert Frost khẳng định rằng: sống có ý nghĩa là sống chủ động, dám lựa chọn lối đi riêng và không ngừng sáng tạo. Mỗi con đường đều có khó khăn, nhưng chỉ khi dám bước đi bằng chính đôi chân của mình, con người mới thực sự trưởng thành và khẳng định được giá trị bản thân trong cuộc đời rộng lớn.

Câu 1.

Thể thơ: Thơ bảy chữ. 

Câu 2. 

– Vần được gieo: Vần “ay” trong “bay” – “tay” – “này”.

– Kiểu vần được gieo: Các vần này đều thuộc kiểu vần chân, bên cạnh đó “bay” – “tay” còn thuộc kiểu vần liền, “tay” – “này” thuộc kiểu vần cách. 

Câu 3.

– Biện pháp tu từ liệt kê được tác giả sử dụng xuyên suốt trong văn bản khi chỉ ra những cuộc chia ly trong nhiều hoàn cảnh khác nhau.

– Tác dụng: Khắc hoạ chân thực những cuộc chia ly trong những hoàn cảnh khác nhau, từ đó tô đậm nỗi buồn sâu sắc của những cuộc chia ly trên sân ga.

Câu 4. 

– Đề tài: Những cuộc chia ly.

– Chủ đề: Nỗi buồn của những cuộc chia ly trên sân ga.

Câu 5. 

– Biểu hiện của yếu tố tự sự trong bài thơ:

+ Nhân vật trữ tình xưng “tôi” đóng vai trò như một nhân chứng trực tiếp quan sát và kể lại những điều tận mắt thấy ở sân ga.

+ Nhân vật trữ tình kể lại những cuộc chia ly trên sân ga. Mỗi cuộc chia ly giống như một lát cắt của một cuốn phim.

+ Trong những cuộc chia ly, có những cảnh có nhân vật, hành động cụ thể, có cảnh có cả lời thoại trực tiếp: “– Mình về nuôi lấy mẹ, mình ơi!”.

– Tác dụng:

+ Tạo tính chân thực, sống động cho văn bản, giúp cho bài thơ không chỉ bộc lộ cảm xúc mà còn trở thành một tấm gương, một thước phim tua chậm, tái hiện lại khung cảnh buồn của những cuộc chia ly ở sân ga.

+ Làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho bài thơ: Yếu tố tự sự giúp người đọc như được tận mắt chứng kiến, trực tiếp lắng nghe những cuộc chia ly ấy, qua đó giúp cho người đọc dễ dàng đồng cảm hơn.

Câu 1. Thể loại của văn bản là:Truyện ngắn

Câu 2. Tác dụng của dấu ba chấm trong câu văn là: - Gợi khoảng lặng cảm xúc, diễn tả sự day dứt, bâng khuâng, xúc động khi nhớ về câu chuyện tình của Minh.

- Đồng thời, tạo cảm giác ngập ngừng, kéo dài suy nghĩ, cho thấy tâm trạng bùi ngùi, không ngủ được của những người lính.

Câu 3. - Tình huống truyện :Bắt đầu bằng câu chuyện “người yêu tên Hạnh” tưởng như tươi đẹp, lãng mạn. Cao trào khi người lính Minh hi sinh trong lúc làm nhiệm vụ và cú xoay bất ngờ - Đây là tình huống giàu tính nhân văn, tạo chiều sâu xúc cảm, làm nổi bật phẩm chất người lính thời chiến. Câu 4. Nhan đề “Sao sáng lấp lánh” gợi cho em suy nghĩ về: - Vẻ đẹp thuần khiết, trong sáng như ánh mắt cô gái mà Minh “tưởng tượng”.

- Vẻ đẹp tâm hồn người lính, luôn hướng về những điều tốt đẹp giữa khói lửa chiến tranh. Đó là hình ảnh tượng trưng cho niềm hy vọng, lý tưởng, khát vọng sống và những ước mơ lấp lánh nhưng mong manh của tuổi trẻ.

Câu 5. Hình tượng người lính trong văn bản đc khắc họa: - Trẻ trung, hồn nhiên, giàu tình cảm

- Gan dạ, dũng cảm, không quản hiểm nguy làm nhiệm vụ. - Thủy chung, giàu lòng nhân ái .

Qua đó, tác giả ca ngợi vẻ đẹp chân thật – cảm động – nhân văn của người lính thời chiến.

Câu 1

Trong đoạn trích, Thúy Kiều hiện lên là một người con gái tài sắc vẹn toàn, tình cảm sâu sắc nhưng phải chịu nhiều bi kịch trong cuộc đời. Nhân vật vừa thể hiện vẻ đẹp nghiêm trang, dịu dàng, vừa toát lên sự thông minh, nhạy cảm, đặc biệt là trong cách đối nhân xử thế và cảm nhận nỗi đau, niềm vui. Thúy Kiều còn là biểu tượng của sự hy sinh, lòng trung hiếu và tình yêu chân thành, khi sẵn sàng chịu đựng gian truân để bảo vệ gia đình, trọn nghĩa với người thân và tình yêu. Qua đó, nhân vật phản ánh bi kịch của thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến, phải đối mặt với những éo le, bất công, dù bản thân đầy phẩm chất tốt đẹp. Đồng thời, Thúy Kiều còn khơi gợi ở người đọc cảm xúc thương cảm và ngưỡng mộ, khiến bà trở thành hình tượng nhân vật trường tồn trong văn học Việt Nam. Nhân vật không chỉ là biểu tượng của sắc đẹp và tài năng, mà còn là tấm gương về nhân cách, đức hy sinh và lòng trung trinh, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.

Câu 2

Có người từng nói rằng: "Tôi tin chắc rằng tuổi trẻ được dành để theo đuổi đam mê, không phải một chút nhỏ nhoi, run rẩy, ngập ngường mà phải mạnh mẽ, quả quyết tới cùng cực, thâm chí là hơn thế nữa". Tuổi trẻ là quãng thời gian tươi đẹp và đáng quý của mỗi người. Để tuổi trẻ trở nên ý nghĩa, mỗi người trẻ chúng ta cần có một lý tưởng sống cao đẹp.

"Lý tưởng sống" là mục tiêu, là lẽ sống, là ước mơ, là điều mà mỗi con người chúng ta luôn hướng đến. Lý tưởng sống chính là kim chỉ nam giúp ta đạt được mục tiêu, đi đến đích của thành công. Nó tạo ra sức mạnh, tạo động lực thúc đẩy, động viên con người vững bước trên chặng đường sắp tới.

Việt Nam đang trên đà phát triển, hội nhập toàn cầu, đòi hỏi thế hẹ trẻ phải học hỏi, tiếp cận với những công nghệ mới, xông pha trên các mặt trận như khoa học kỹ thuật, y tế, giáo dục, ... để giúp đất nước phát triển và góp phần vào bước tiến của toàn nhân loại.

Có rất nhiều tấm gương sáng về lý tưởng sống khiếm ta phải khâm phục và rất đáng học tập. Đó là những người khuyết tật, những hoàn cảnh khó khăn, nhưng vẫn cố gắng vượt qua nghịch cảnh, vươn lên trong cuộc sống để sống ý nghĩa.

Ở mỗi thời điểm khác nhau, thanh niên lại có những lý tưởng khác nhau. Trong thời chiến, anh hùng Lý Tự Trọng đã từng nói; "Cong đương của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng và không thể là con đường nào khác". Khi hòa bình, lý tưởng sống của thanh niên cũng cần có sự thay đổi phù hợp. Bên cạnh lòng yêu nước thiết tha, ý chí bảo vệ nền hòa bình dân tộc, tuổi trẻ còn phải biết đem sức mình xây dựng đất nước, siêng năng lao động để " dân giàu, nước mạnh", nâng cao và khẳng định vị thế đất nước trên trường quốc tế. Và ngày nay, thanh niên Việt Nam lại ra sức học tập, rèn luyện và bồi dưỡng kỹ năng để đưa đất nước phát triển và hội nhập với thế giới.

Bên cạnh những người trẻ đang ngày đêm hối hả học tập và lao động xây dựng đất nước, vẫn có một số nhỏ thanh niên chưa có lý tưởng sống, sống không buông thả, tha hóa, không mục đích, không trau dồi, học hỏi, cuộc sống tẻ nhạt và vô vị. Đó là một hiện tượng đáng phê phán và lên án trong xã hội ngày này.

Dù ở bất kỳ độ tuổi nào, con người cũng cần có lý tưởng sống, Đối với thế hệ trẻ, lý tưởng sống lại càng cần thiết và quan trọng hơn bao giờ hết, nó dẫn đường chỉ lối, là ngọn hải đăng giúp chúng ta đạt được thành công, sống một cuộc sống ý nghĩa và tươi đẹp hơn.




Câu 1: Thể thơ của văn bản: Thơ lục bát.

Câu 2: Đoạn trích trên kể về cuộc chia ly đầy lưu luyến và cảm động giữa Thúy Kiều và Kim Trọng khi Kiều quyết định bán mình chuột cha, hy sinh tình riêng để làm tròn chữ hiếu.

Câu 3: Biện pháp tu từ được sử dụng trong bài thơ: Đối: "người về" - "kẻ đi"; "chiếc bóng năm canh"-"một mình xa xôi"

Tác dụng:

+, Tạo nhịp điệu giúp câu thơ trở nên sinh động và hấp dẫn hơn

+ Thể hiện nỗi cô đơn, buồn thương của đôi lứa chia xa đồng thời nhấn mạnh sự trắc trở, chia lìa trong mối tình của họ.

+ Qua đó, tác giả xót xa, thương cảm cho mối tình tan vỡ, niềm đồng cảm cho những số phận bất hạnh. Thể hiện tấm lòng nhân đạo và trân trọng tình yêu chân thành.

Câu 4

Cảm hứng chủ đạo: Nỗi chia ly, tình yêu sâu nặng và sự hi sinh cao cả của Thúy Kiều.

Câu 5

Nhan đề:" cảnh chia ly của Thúy Kiều và Kim Trọng"

Giải thích; nhan đề thể hiện đúng nội dung trọng tâm của đoạn trích, chứa đựng nhiều cảm xúc bi thương, thể hiện vẻ đẹp tâm hồn và tình cảm của nhân vật.